CHUYẾN PHÀ TỪ THONON thẳng tiến đến bến cảng tại Geneve. Sau đó động cơ của phà được cài số lùi để xoay vòng phần đuôi, khiến toàn bộ con phà nhỏ rung chuyển. Lysander - Abelard Schwimmer - suýt mất thăng bằng. Anh nắm chặt lấy hàng chấn song gỗ trên boong chính. Những sợi thừng xám dày được ném lên bờ. Các thủy thủ buộc thừng vào các cọc để neo phà thật chắc chắn. Cầu tàu được hạ xuống và Lysander xách chiếc va li vải len kẻ ô vuông lên, thấy một chỗ trống trong hàng người lộn xộn, anh vội vã bước đến. Đó là lúc anh bước xuống con dốc bằng gỗ, bước những bước đầu tiên lên đất Thụy Sĩ. Geneve nằm trước mắt anh dưới ánh mặt trời buổi sáng - những tòa chung cư lớn đối diện mặt hồ, vững chắc và thịnh vượng - được xây dựng trên vùng đồng bằng phù sa. Chỉ có khối nhà thờ lớn đang mọc lên cao hơn những mái nhà màu xám và đất nung mơ hồ khiến anh nhớ Vienna. Những ngọn đồi thấp và sau đó là những ngọn núi tuyết lấp lánh phía xa xa. Hít thật sâu làn không khí Thụy Sĩ, đội chiếc mũ mềm lên đầu, Abelard Schwimmer thả bước đi tìm khách sạn của mình.
Sau khi từ tiền tuyến quay về hậu phương, Lysander và Fyfe-Miller được đưa đến Amiens, nơi có một căn phòng được thuê cho anh ở khách sạn Riche et du Sport. Anh lên giường ngủ luôn cả ngày cho đến khi bị Fyfe-Miller đánh thức vào buổi tối. Anh phải bắt chuyến tàu đến Paris và sau đó là Lyon. Anh mặc y phục của Abelard Schwimmer - một bộ vest bằng vải xẹc màu xanh hải quân cắt may quá tồi (khiến anh cảm thấy rất bí bức), một áo sơ mi vải be, cổ mềm đã thắt sẵn nơ cùng đôi giày nâu lấm bụi. Lysander nghĩ, nếu Fyfe-Miller muốn làm mình bực vì chuyện ăn mặc, thì anh ta đã làm quá tốt, Anh được trao một chiếc va li len kẻ ca rô - bên trong đựng mấy cái áo sơ mi và dăm chiếc quần đùi - ngoài ra giấu đằng sau lớp vải lót, còn có một bó tiền frăng Thụy Sĩ. Fyfe-Miller nói chừng đó đủ chỉ tiêu trong hai tuần, thậm chí là quá thừa để hoàn tất công việc. Đồ đạc còn lại là một bộ đồ hoàn chỉnh với áo đi mưa màu xanh Lincoln và một chiếc mũ Homburg.
“Từng xen-ti-mét đều toát lên hình ảnh một người đàn ông bình thường“, Fyfe-Miller nói. “Đúng là một sự lột xác”.
“Trọng âm tiếng Pháp của anh khủng khiếp quá, Fyfe-Miller”, Lysander đáp. “Hhhhom moyn senzyul - sốc thật”. Anh lặp lại vài lần theo phong cách của Fyfe-Miller và rồi phát âm lại thật chuẩn. “Trong tiếng Pháp, chữ “h” là âm câm”.
Fyfe-Miller mỉm cười, hớn hở.
“Khủng khiếp làm sao. Tôi có thể tự hiểu được mà”, anh ta nói, không hề xấu hổ. “Đó là tất cả những gì tôi cần”.
Họ bắt tay nhau trên sân ga tại Amiens.
“Chúc may mắn”, Fyfe-Miller nói. “Cho đến giờ, mọi việc đều ổn. Đừng ở Paris quá lâu - giữa các chuyến tàu, anh có thời gian nghỉ là bốn mươi phút. Massinger sẽ gặp anh tại Lyon”.
“Munro đi đâu?”
“Câu hỏi hay đấy… Ở London, tôi nghĩ thế”.
Lysander đến Paris, sau đó là Lyon, chạy suốt đêm trên toa hạng nhất - một phần thưởng cho kĩ sư đường sắt, anh thừa nhận. Anh ngồi cùng toa với hai viên đại tá người Pháp. Họ nhìn anh với sự khinh khi ra mắt, chẳng thèm nói với anh một lời nào. Anh chẳng buồn bận tâm. Anh chỉ ngủ và mơ về lúc anh ném bom vào đường hào - thấy khuôn mặt hoảng hốt của hai tên lính thông tin nhìn lên, trước khi anh tháo chốt lựu đạn. Khi anh thức dậy vào lúc bình minh, hai viên đại tá đã đi rồi,
Nhà ga Lyon chật kín lính Pháp sắp sửa lên tàu ra tiền tuyến, Lysander nghe nói rằng tiền tuyến cách đó không quá xa, là vùng mở rộng qua Champagne và Ardennes, lượn một vòng khúc khuỷu quanh co từ biển Bắc đến biên giới Thụy Sĩ, cách khoảng năm trăm dặm. Quân Anh chịu trách nhiệm khoảng năm mươi dặm. Massinger đợi anh tại quầy giải khát ở nhà ga - Lysander thấy ông đang uống bia. Họ lên một chuyến tàu chậm hơn, đi kịch đường đến hồ Geneve, rồi đến Thonon ở phía nam. Họ đặt phòng ở khách sạn Terminus tại Thonon rồi tiện đường mua vé tại nhà ga ở một thành phố với giá rẻ hơn,
Tâm trạng Massinger đang cáu kỉnh và tồi tệ. Khi anh bắt đầu kể về đêm chiến đấu trên vùng đất không người, ông có vẻ chỉ lắng nghe một nửa như thể đang mải nghĩ chuyện khác quan trọng hơn. “Phải, phải, thật thế đấy. Hoảng sợ lắm đấy”. Lysander cũng chẳng buồn giải thích chi tiết hơn. Anh không nói chuyện ném lựu đạn, ngắm bình minh lên trên phòng tuyến quân Đức khi lội lõm bõm trên mương thoát nước.
Họ ăn tối cùng nhau nhưng bầu không khí vẫn gò bó, căng thẳng. Hai người giống như những kẻ mơ hồ mới quen nhau như thể một vận đen nào đó - thấy mình là những người Anh duy nhất trong một thành phố Pháp. Họ lịch sự, giả vờ vui vẻ dự buổi yến tiệc, nhưng không phủ nhận rằng nếu được lựa chọn, họ thà ăn tối một mình.
Ít nhất Massinger cũng có thêm thông tin và chỉ dẫn cho anh về nhiệm vụ này. Khi đã đến Geneve và ổn định chỗ ở trong khách sạn, anh sẽ phải đến một quán cà phê nhất định mỗi ngày vào lúc 10 giờ 30 phút sáng và 4 giờ 30 phút chiều, rồi ở đó trong vòng một tiếng. Vào một lúc nào đó, điệp viên Lửa Mừng sẽ tiếp cận anh. Hai người sẽ trao đổi mật khẩu kép và những chỉ dẫn mới sẽ được đưa ra, nếu Lửa Mừng thấy rằng đã đến lúc thích hợp.
“Lửa Mừng có vẻ sẽ là người chỉ huy”, Lysander nói mà không suy nghĩ,
“Hiện tại Lửa Mừng có thể là tài sản quan trọng của chúng ta, trong toàn bộ cuộc chiến tình báo này”, Massinger đáp với sự thù nghịch rõ ràng, giọng nói chua ngoa của ông như còn khắc nghiệt hơn. “Lửa Mừng đã đọc hết toàn bộ thư đến và đi của lãnh sự quán Đức tại Geneve - cậu nghĩ người này có giá trị đến thế nào? Hả?”
“Rất giá trị, tôi hình dung được”.
“Phải chắc chắn rằng cậu có mặt ở quán rượu Người Anh vào những giờ đó, buổi sáng hoặc chiều”.
“Quán rượu Người Anh à? Ông không nghĩ như thế là hơi liều sao?”
“Đó là một quán trọ bình thường thôi. Thế cậu nghĩ nó liên quan đến cái gì?”
Họ ngồi trong im lặng. Lysander gọi món cá với cái tên địa phương anh không hiểu. Anh thấy nó bị nấu quá lửa, nhạt nhẽo và quá nhiều nước. Massinger ăn món thịt bê cứng đến nỗi ông phải nhai có vẻ khá vất vả.
“Có một điều khiến tôi lo ngại, ông Massinger”.
“Điều gì?”
“Cho hắn tiền mà hắn không chịu nhận thì sao?”
“Hắn sẽ nhận. Tôi đảm bảo đấy”.
“Cứ cho tôi mê trong cái giả thuyết ấy đi”.
“Thế thì xẻo hết các ngón tay của hắn, từng ngón một. Hắn sẽ phun sạch ra thôi”.
“Vui thật đấy”.
Massinger đặt dao và dĩa xuống, nhìn anh chằm chằm, gần như là khó chịu, Lysander nghĩ vậy, anh thấy lo lắng.
“Tôi cực kì nghiêm túc đấy, Rief. Cậu phải quay về từ Geneve với chìa khóa giải mã - nếu không thì đừng hòng về nữa”.
“Nghe này…”.
“Cậu có biết chuyện gì là nguy hiểm ở đây chưa?”
“Rồi, dĩ nhiên. Kẻ phản bội, hàng ngũ tối cao, bla bla. Tôi hiểu”.
“Vậy hãy làm tròn bổn phận người lính Anh của cậu đi”.
Sau bữa tối, Lysander đi dạo dọc bến cảng và hút thuốc, nhìn qua mặt hồ rộng lớn - hay còn gọi là hồ Lac Léman ở bên này - về phía những ngọn núi phủ đầy tuyết trắng của Thụy Sĩ, mà anh vẫn thấy vào lúc xẩm tối. Có một ánh sáng lạ lùng trên bầu trời buổi tối, sắc xanh nhợt nhạt nhất biến thành màu xám - Alpengluhen[*], anh biết nó được gọi như thế - một sự pha trộn độc đáo của các thung lũng tím mờ và những đỉnh núi dát vàng ánh mặt trời. Anh cảm thấy sự phấn khích dâng lên trong người - anh sẽ đi thẳng đến Geneve bằng con tàu hơi nước đầu tiên trong ngày mai. Anh hạnh phúc hơn nhiều khi được tạm biệt Massinger với tính khí luôn bực bội và lo âu của ông ta. Như Fyfe-Miller đã nhắc nhở, giai đoạn hai đang chờ anh bên kia những dòng nước hẵng còn đen. Anh đã sẵn sàng rồi.
Khi đi bộ về khách sạn, những ý nghĩ của anh lại quay về với Manchester và trải nghiệm ngắn ngủi của cuộc chiến trên đường hào. Anh nghĩ về những mối quan hệ căng thẳng nhưng cũng ngắn ngủi của mình - với Foley, Dodd, Wiley và Gorlice-Law, Họ thật quen thuộc khi anh bước trên những con phố của Thonon, như những người bạn cũ, những hồi ức về họ thật sống động như những hồi ức về gia đình anh. Liệu anh có còn gặp lại họ nữa không? Có lẽ là không. Anh biết điều này là không thể tránh khỏi, sự hỗn loạn và mất liên lạc đột ngột trong chiến tranh một sự thật nghiệt ngã. Về khách sạn, anh nhận được một lá thư của Massinger gửi cùng chìa khóa phòng. Ông nhắc rằng chuyến tàu khởi hành lúc 6 giờ 30 phút. Nhưng ông sẽ không có mặt khi anh lên tàu vì thấy không khỏe,
Khách sạn Touring ở Geneve đúng là một sự thất vọng. Gần hai năm chiến tranh ở phần còn lại của châu Âu đã cắt đứt hẳn dòng khách thường xuyên của họ - các du khách, những người leo núi, những người khuyết tật đi tìm thuốc - tất cả các đối tượng khách hàng mà loại hình kinh doanh này khai thác. Bầu không khí trong hành lang nhuốm màu bi ai - có vẻ không sạch sẽ, bụi bặm và mấy thùng đựng giấy trống rỗng. Những cây phong lữ trong các chậu hoa đặt trên sân thượng nhỏ không ai tưới tắm, dù đã giữa hè rồi. Khách sạn có tám mươi phòng nhưng chỉ năm phòng có khách thuê. Ngay cả khi tự nhiên có các vị khách đến ở lâu, khách sạn này vẫn mang sắc màu buồn bã.
Buổi tối đầu tiên, Lysander là người ăn tối duy nhất trong phòng ăn. Người phục vụ nói chuyện với anh bằng thứ tiếng Đức vụng về (hỏi anh vài câu về Zurich mà Lysander phải cố khôn khéo đánh lạc hướng). Nhưng anh nhận thấy sự logic khi Munro lựa chọn thân phận này cho mình - một kĩ sư đường sắt Thụy Sĩ nói tiếng Đức trên đất nước Thụy Sĩ nói tiếng Pháp. Với một cơ sở tầm trung như Touring, cái tên Abelard Schwimmer hoàn toàn chẳng có gì đặc biệt, một con người bình thường gần như là vô hình.
Khách sạn Touring nằm trên bờ trái, cách mặt hồ hai khu nhà, trong một con phố có đường xe điện và một số cửa hàng lớn. Vào buổi sáng đầu tiên, Lysander đã mua cho mình một đôi giày đen, vài chiếc sơ mi trắng, hai chiếc cà vạt xanh và thay chiếc mũ Hamburg bằng mũ Panama. Anh thay quần áo và cảm thấy giống thân phận thật của mình hơn - một người Anh lịch lãm đi du lịch nước ngoài - cho đến khi chợt nhớ ra đây không phải nhân vật anh sắp diễn. Anh đi lại đôi giày nâu, đội lại chiếc mũ Hamburg nhưng dứt khoát không chịu đeo nơ thắt sẵn,
Anh đến quán rượu Người Anh vào lúc 10 giờ 30 phút sáng và uống hai cốc bia Munich nhẹ, đợi suốt một tiếng. Chẳng ai đến giờ này cũng như không thấy ai vào lúc 4 giờ 30 phút chiều. Tối hôm ấy, anh đi xem phim hài về một vụ cướp ngân hàng vụng về, với thái độ nghiêm túc. Anh tự nhủ khi đến cái ngày được trở lại đúng với chuyên môn, anh nhất định sẽ nắm bắt thật nhiều cơ hội đóng phim nữa - vì nó có vẻ dễ dàng đến lố bịch.
Trong bữa trưa ngày hôm sau (cuộc hẹn lúc 10 giờ 30 vẫn không gặp được ai) anh mua cho mình một chiếc bánh sandwich, thuê một chiếc thuyền có mái chèo tại nơi dạo chơi quanh hồ rồi tự chèo một hai dặm dọc theo bờ phải. Đó là một ngày nắng đẹp. Những mặt ngoài trát vữa xtucô màu trắng và hồng của các chung cư với các mái dốc, vòm và mái vòm, mấy cái chụp ống khói bẹt bằng thiếc trông lạ lùng. Những lối dạo chơi gần bến cảng và nhà hát Karsaal với mấy quán cà phê, nhà hàng, tất cả chỉ nhằm khắc họa một thế giới bình yên và thịnh vượng. Khi chèo thuyền, anh có thể thấy phía ngoài thành phố, thấy những đường dốc đứng thoai thoải bao quanh, đỉnh Mont Blanc trắng đến chói mắt và một dãy các ngọn núi khác về phía tây. Anh nghỉ độ vài phút trước mặt tiền cao của khách sạn Grand Beau-Rivage hay Beau-Espionage như Massinger hay gọi[*]. “Tránh xa nó ra bằng mọi giá. Rất nhiều phụ nữ đáng ngờ thuộc đủ mọi quốc tịch ở đó kết bạn với các điệp viên, kẻ chỉ điểm, bất kì ai có câu chuyện để cố gắng bán đứng bạn chỉ với vài đồng frăng. Từ giám đốc cho đến các cô phục vụ tiệm giặt là. Đó là một vũng bùn”. Lũ trẻ đang la hét và té nước dưới các bể bơi to trong nhà cạnh đê chắn sóng Paquis. Trong một thoáng Lysander tự hỏi có nên mua một bộ đồ bơi và bơi cùng bọn trẻ không - ánh nắng khiến lưng anh rát bỏng và anh muốn được tắm mát. Anh nghĩ đến việc chèo thuyền tới công viên Mon Repos - để thấy những khu rừng, thảm cỏ công viên ngoài con đê chắn sóng. Nhưng nhìn lại đồng hồ, anh nhận ra sắp đến 4 giờ 30 phút. Tốt hơn anh nên quay về quán trọ Người Anh và làm một cốc bia lạnh.
Thêm một cuộc hẹn thất bại nữa. Anh đi ăn sớm trong một quán nướng và nghe hòa nhạc organ tại nhà thờ lớn do Joseph Stalder và Hans Huber biểu diễn. Anh chưa từng nghe về họ. Anh yêu cầu đổi ra phòng phía sau của khách sạn cho yên tĩnh hơn, tránh bị những đoàn tàu đánh thức vào sáng sớm. Anh thấy mình đang bắt đầu thiếu ngủ trầm trọng không ngừng mơ về chuyện ném lựu đạn vào đường hào dưới hầm mộ. Thi thoảng anh thấy những khuôn mặt bừng sáng của cậu thanh niên và người có râu - đôi khi lại là Foley và Gorlice Law. Đó chính là kiểu ngủ anh luôn ghét cay ghét đắng cũng như các cơn mơ từ giấc ngủ ấy - cái quan niệm ngủ thì phải mơ thật khó chịu và rắc rối. Anh quyết định sẽ bắt đầu thức khuya, đi bộ trên các con phố, vào quán cà phê gọi đồ uống nóng hay brandy cho đến khi nỗi buồn chán đưa anh về phòng. Có lẽ đến lúc ấy anh sẽ ngủ tốt hơn.
Buổi sáng, sau khi mất một giờ vô ích và được các nhân viên chào đón như một khách hàng trung thành của quán trọ, anh đến cửa hàng dược phẩm mua một liều thuốc ngủ. Khi anh gói lại đống bột cloral hydrat, người dược sĩ khuyên anh nên đến khu nghỉ dưỡng - nhưng lại cách đây hơn 2.000 mét. Chứng mất ngủ chỉ có thể được chữa khỏi bằng liệu pháp tinh thần, ông khẳng định chắc nịch. Ông ta gợi ý khách sạn Jungfrau-Eggishorn trên sông băng Rhone - một nơi rất nổi tiếng với người Anh trước chiến tranh, kèm theo đó là một nụ cười tỏ vẻ hiểu biết. Lysander nhận ra anh đang làm trôi lớp hóa trang của mình một cách bất cẩn - phải tập trung diễn vai Abelard Schwimmer và nói tiếng Pháp với trọng âm Đức.
Khi rời khỏi cửa hàng thuốc, anh bắt gặp tấm biển của một cửa hàng khác gần đó: “GNLOTHAR & CIE” - cùng tên với con trai anh. Anh cảm thấy nỗi đau buốt nhói của sự mất mát lạ lùng này. Nỗi đau của tình yêu đối với người mà anh chưa từng thấy mặt, chưa bao giờ biết tới, hiện diện trong cuộc đời anh với mối quan hệ huyết thống: “con trai” anh - hình ảnh trừu tượng của nó - nằm trong những dấu ngoặc kép như định sẵn, khiến anh hiểu rằng mình chỉ tưởng tượng ra hình ảnh của nó trong tim. Dĩ nhiên, cơn giận dữ đối với Hettie lại quay về - sự vô lý ngây thơ của cô, sự nhẹ dạ đến không tin nổi của cô - nhưng anh nhanh chóng nhận ra có làm thế cũng chả ích gì. Một sự phí phạm.
Tuy nhiên, ngồi trong quán trọ chiều hôm ấy, đợi thêm một giờ nữa trôi qua mà chẳng gặp ai, suy nghĩ trong tuyệt vọng về đứa trẻ đã có để rồi đánh mất, anh bắt đầu nghĩ quá trình này mới ngu xuẩn và vô lý làm sao, như trò chơi gián điệp của trẻ con. Anh đã chèo thuyền quanh hồ, đi xem phim và tham dự buổi hòa nhạc ở nhà thờ lớn. Có lẽ anh có thể đi thăm một galery nghệ thuật, hay thưởng thức đồ uống trong quán bar của Beau-Rivage và tránh né những người phụ nữ “trông khả nghi”.
Thực ra có hai người phụ nữ trẻ tuổi, khá quyến rũ đang ngồi cạnh cửa sổ uống trà. Anh nghĩ một trong số họ liên tục liếc nhìn khi anh nhấp bia. Nhưng không phải, chuyện ấy quá mạo hiểm ngay cả với trò chơi con nít,
Một người ngồi xuống chiếc bàn đối diện che mất tầm nhìn. Anh thấy đó là một góa phụ mặc đồ tang nhiễu đen, đội chiếc mũ rơm phẳng và khăn voan nhỏ che nửa mặt. Lysander ra hiệu cho người phục vụ - thêm một cốc bia nữa. Người góa phụ quay lại nhìn anh. “Xin lỗi, có phải tên ngài là Dupetit?” bà ta hỏi bằng tiếng Pháp,
“À… Không. Tôi rất tiếc”.
“Vậy tôi nghĩ chắc ngài phải biết ông Dupetit?”
“Tôi biết một ông Dupetit”.
Đến ngồi ở bàn anh và cuộn khăn voan lên, bà ta tuổi độ ba mươi với khuôn mặt chắc hẳn một thời vô cùng xinh đẹp đang ẩn sau lớp mặt nạ cam chịu, lạnh lùng. Đôi mắt luôn nhìn xuống và một cái mũi Ý, hai nếp nhăn hiện rõ trên khóe môi mỏng như những dấu ngoặc đơn. Anh tự hỏi bà có bao giờ cười không.
“Chào ngài”, bà nói, chìa bàn tay đeo găng đen viền đăng ten. Lysander bắt tay bà, xiết thật chặt.
“Có phải bà đến dẫn tôi tới chỗ anh ta không?” anh hỏi.
“Ai?”
Anh hạ giọng: “Lửa mừng”.
“Tôi là Lửa mừng”.
“Được rồi”.
“Massinger không nói gì với ngài à?”
“Ông ta không nhấn mạnh giới tính của bà”.
Bà ta nhìn quanh phòng, có vẻ tức giận, khiến Lysander có dịp nhìn nghiêng khuôn mặt bà. Mũi bà tuy nhỏ nhưng có đường cong hoàn hảo. Giống mũi vị hoàng đế trên mặt đồng xu, hay giống như một số bức ảnh của một tên tù trưởng Da Đỏ bị bắt, mà anh đã xem.
“Tôi là phu nhân Duchesne”, bà ta nói. “Tiếng Pháp của ngài rất tốt đấy”.
“Cảm ơn bà. Tôi có thể mời bà uống gì không?”
“Một ly rượu Dubonnet. Chúng ta tuyệt đối an toàn khi nói chuyện ở đây”.
Không hề để phí thời gian, bà ta liền nói ngay rằng ngày mai sẽ gặp Lysander tại khách sạn của anh lúc mười giờ sáng, để chỉ cho anh căn hộ của tay cán bộ lãnh sự quán. Hắn là Manfred Glockner, cử nhân. Hắn thường xuyên rời khỏi lãnh sự quán vào lúc gần trưa và về nhà muộn vào buổi tối. Bà không biết vai trò ngoại giao chính thức của hắn là gì, nhưng theo suy đoán của bà, có vẻ hắn là một “quý ông thông minh, thuộc giai cấp tư sản - một kiểu người trí thức”. Khi hắn bắt đầu nhận được những lá thư từ Anh, bà thấy tò mò và quyết định mở ra xem. Bà bỏ lỡ lá thư đầu tiên nhưng đã mở được sáu lá thư sau đó. Chín lá thư cả thảy trong vòng tám tháng từ tháng Mười năm 1914 đến tháng Sáu năm 1915”.
“Đã mở ra?” Lysander hỏi. “Bà cũng làm việc trong lãnh sự quán à?”
“Không”, bà đáp. “Anh trai tôi là trưởng phòng bưu điện cao cấp tại Geneve này, làm việc ở văn phòng phân loại thư từ trung tâm. Anh ấy mang về cho tôi tất cả những lá thư tôi yêu cầu. Tôi mở chúng ra, đọc hết và sao chép lại nếu thấy hứng thú, đóng lại như cũ và chuyển đến người nhận. Thư đến rồi thư đi”.
Hèn gì bà ta là một điệp viên sáng giá của Massinger, Lysander nghĩ.
“Làm thế nào bà mở được thư mà người khác không biết?”
“Đó là bí mật của tôi”, bà đáp. Đến đây ai cũng có thể tự cho phép mình nở một nụ cười thỏa mãn, nhưng bà Duchesne chỉ nghếch cằm lên một cách bướng bỉnh. “Phải nói việc này liên quan đến việc dùng hai thái cực nóng và lạnh. Nhiệt khô. Lạnh khô. Chúng chỉ khiến lá thư mở bung trong vài phút thôi. Không bay hơi. Khi đọc xong, tôi dán chúng lại lần nữa bằng hồ dán. Không ai có thể biết được thư đã bị xem trộm”.
Bà thò tay vào túi xách lấy ra mấy tờ giấy.
“Đây là những lá thư của Glockner”.
Lysander cầm tập giấy và nhìn qua từng tờ - sáu trang dày đặc các cột số giống cột số anh đã từng xem ở London. Anh gập chúng lại và nhét vào trong túi, bất ngờ cảm thấy bối rối một cách lạ kì - trò chơi con nít đã thành sự thật.
“Ngày mai tôi sẽ chỉ cho ngài nơi ở của Glockner. Tôi sẽ đề nghị ngài đến thăm hoặc vào ngay giữa đêm hoặc có lẽ vào một ngày Chủ nhật - khi tòa nhà này vắng người”.
Ngày mai là thứ Sáu, Lysander nghĩ. Lạy Chúa…
“Tốt hơn tôi nên ra ngân hàng”, anh đáp.
“Tùy ngài thôi”, bà trả lời, lãnh đạm. “Tôi đang định chỉ cho ngài chỗ hắn sống. Làm gì tiếp theo là việc của ngài”. Bà uống cạn ly Dubonnet và đứng dậy. Lysander nhận ra bà ta có dáng người cao. Chất liệu quần áo của bà thuộc loại tốt, được cắt may khéo. Bà kéo chiếc khăn voan che nửa mặt xuống, giấu đi đôi mắt.
“Rõ ràng là đang đau khổ…”.
“Chồng tôi là sĩ quan - một đại úy - trong quân đội Pháp. Chúng tôi đã từng sống tại Lyon. Anh ấy bị giết trong tuần thứ hai của cuộc chiến khi rút lui khỏi Mulhouse tháng Tám năm 1914. Anh ấy bị bắn và bị thương nặng. Nhưng khi chúng bắt được anh ấy, chúng đã bỏ mặc anh ấy chết. Không chăm sóc. Quê hương tôi ở Geneve thế nên tôi đã quay về ở cùng anh trai tôi”.
“Tôi rất tiếc. Xin được chia buồn”, Lysander nói, cảm thấy một chút khập khiễng. Sao có thể nói chia buồn thành thật đến thế với một người lạ mặt đã chịu đựng nỗi đau ấy suốt hai năm?
Bà Duchesne gõ nhẹ vào cổ tay, như thể muốn đánh bạt đi lời chia buồn sáo mòn này.
“Đó là lí do tại sao tôi rất hạnh phúc khi được giúp ngài trong cuộc chiến này. Giúp đỡ các đồng minh của chúng ta. Tôi chắc chắn rằng đây là câu hỏi mà ngài chưa muốn nói”.
Đúng thế thật, nhưng Lysander lại đang nghĩ đến chuyện khác.
“Những lá thư này gửi cho Glockner - có dấu bưu điện không?”
“Có, tất cả đều đến từ Tây London - những con tem của Anh, đĩ nhiên điều đó đánh động tôi. Tôi có tên của tất cả nhân viên tại lãnh sự quán Đức. Anh trai tôi mang về cho tôi những lá thư này, ban đầu chỉ là theo lệ thường. Hẹn gặp ngài ngày mai, ngài Schwimmer”.
Bà khẽ cúi đầu chào anh một góc nghiêng nhỏ của mái đầu - rồi quay lưng rảo bước. Bà ta có bước đi thật tự tin - một người đàn bà thực sự tự tin. Có điều gì đó quyến rũ trong sự khắc nghiệt đến đau đớn này, anh phải thừa nhận bà có nỗi buồn không thể lay chuyển và nỗi u sầu thăm thẳm. Anh tự hỏi bà ta trông sẽ thế nào trên giường, điều đó khiến anh không nhịn được cười. Anh uống thêm một cốc bia Munich nhẹ. Anh đang dần yêu thích loại bia này.