Chờ Mặt Trời Lên

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 116 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
32. Những Kẻ Xa Lạ Và Thù Địch

❊ ❊ ❊

MỘT CƠN MƯA BỤI bắt đầu rơi khi chiếc xe tải rung lắc đến điểm dừng ngoài trại giam. Lysander và một biệt đội tân binh bảo vệ nhảy xuống từ phía sau.

“Mẹ kiếp”, Binh nhất Merrilees nói. “Cơn mưa chết tiệt”.

“Để có được một buổi chiều trong trẻo”, Lysander nói, bỏ mũ ra và nhìn lên đám mây xám xịt trên đầu. Những giọt mưa lạnh giá rơi xuống mặt anh.

“Với diễn viên như anh thì chẳng sao, đúng không? Tất cả đều vô cùng ấm cúng và dễ chịu”.

Merrilees dẫn tiểu đội đi xung quanh lưới thép vòng ngoài. Lysander gạt bỏ lớp bùn dính trên đôi ủng trước khi bước về phía hội sở.

Trại giam vịnh Bishop vốn là câu lạc bộ Golf vịnh Bishop trước chiến tranh. Bộ Nội vụ lấy làm nơi giam giữ những “kẻ xa lạ và thù địch”. Từ trại giam xuôi theo bờ biển về phía tây vài dặm là Swansea, vòng quanh mũi biển là Mumbles. Nơi đây được sửa sang thành một trại giam có hàng rào và khoảng bốn mươi căn nhà gỗ. Mỗi căn chứa được hai mươi người trên những chiếc giường tầng, được xây dọc theo chiều dài đường Mười tám, Hội sở trở thành trung tâm hành chính. Nhà nghỉ cho golf thủ trở thành nhà ăn của trại, có thể phục vụ đến hai trăm lượt người một lúc nếu cần. Dân số của trại dao động khoảng bốn trăm đến sáu trăm tù binh gồm đàn ông, đàn bà và trẻ em. Các khu vực khác trên sân golf được chăng lưới thép thành các sân chơi bóng đá và khúc côn cầu. Nhưng Lysander thấy không nhiều người chơi. Hầu hết các tù binh cho rằng đây là mấy cái trò chơi bất công chán ngắt; họ thờ ơ với những trò tiêu khiển này, luôn càu nhàu và cáu bẳn.

Lysander gõ cửa phòng sĩ quan chỉ huy trại. Dòng chữ “Đại úy J. St. J. Teesdale” được viết trên tấm biển tạm bên ngoài. Anh bước vào khi nghe tiếng quát: “Vào đi!” của Teesdale, ép mình rặn ra một nụ cười và nói: “Chào buổi sáng, thưa ngài”. Teesdale mới đến được hai tuần và đang nghiên cứu tài liệu mới về xét xử và trách nhiệm dẫn chứng. Anh ta mới mười chín tuổi và dường như đang gặp rắc rối với hàng ria mép mới mọc.

“Chào buổi sáng, Rief”, anh ta nói. “Khung cảnh này thật kinh khủng vào giữa tháng Năm nhỉ”.

“Ne’er cast a clout ‘til May be out”, Lysander nói.

“Nói lại đi?”

“Một câu ngạn ngữ cổ, thưa ngài. Mùa hè chưa bắt đầu khi tháng Năm chưa qua”.

“Đúng”. Anh ta nhìn đống giấy tờ trên bàn. “Tôi e rằng đó là Frau Schumacher, vụ đầu tiên. Cô ta cứ khăng khăng đòi gặp bác sĩ lần nữa”.

Lysander cầm lấy cuốn sổ cái và một bộ hồ sơ với các mẫu đơn chưa điền, đi theo Teesdale từ Văn phòng Thư ký câu lạc bộ đến quán bar Lỗ thứ 19. Ở đây có hai nhân viên đánh máy tuổi trung niên từ Swansea đến giúp giải quyết vấn đề hành chính của trại. Phương tiện liên lạc duy nhất là chiếc điện thoại nằm trên bàn trong một góc phòng. Ở góc kia, phía trước một cửa sổ rộng nhìn ra vịnh, là một chiếc bàn chân rời dành cho những cuộc họp và thẩm vấn hàng ngày. Nhìn từ cửa sổ sẽ thấy toàn bộ quang cảnh kênh Bristol sóng vỗ bập bềnh với những đám mây tụ lại thành khối, mang sắc xám đầy đe dọa - xa xa là các sân golf và điểm phát bóng đầu tiên. Trên tường treo đầy ảnh các golf thủ trong quá khứ - những người giành chiến thắng trong các trận đánh đôi, các giải đấu hàng tháng và giải vô địch nghiệp dư của hội golf New South Wales đang giơ cao cúp bạc. Quán bar không hề có rượu và ly tách trên giá. Thay vào đó, là các dãy hộp đựng hồ sơ bọc bìa cứng. Mỗi dãy chứa hồ sơ của một tù binh. Một trong những căn phòng tẻ nhạt nhất anh từng vào.

Frau Schumacher ngồi ở chiếc bàn chân trời, quay lưng về phía cửa sổ, hai cánh tay khoanh trước ngực vẻ thách thức. Những đường nét mập mạp của cô ta chìm trong bóng tối, nhưng có thể thấy rõ cô ta đang cau có. Frau bắt đầu ho khi trông thấy Lysander và Teesdale bước vào. Lysander lấy ghế ngồi đối diện; Teesdale kéo ghế tránh khỏi một tràng những tiếng ho khô khốc, chói tai. Lysander mở hồ sơ của cô ta.

“Chào buổi sáng, Frau Schumacher, hôm nay cô khỏe chứ?”

Phải mất một tiếng mới thuyết phục được Frau quay về ngôi nhà gỗ. Kèm theo đó là cam kết bằng văn bản rằng cô ta sẽ được gặp bác sĩ trong vòng hai mươi tư giờ hoặc sớm hơn, nếu tìm được bác sĩ tại Swansea. Lysander không hề ghét bỏ cô gái ngay cả khi anh phải gặp cô cứ hai ngày một lần. Vì hầu hết ai bị giam giữ ở Trại Tù binh vịnh Bishop này cũng đều có một chuỗi dài những lời than vãn thống thiết, đặc biệt là về tình trạng bị giam cầm. Có các thủy thủ buôn bán - bao gồm nửa tá trong số này là người Thổ Nhĩ Kỳ u sầu - những người Đức bị bắt giam tại các bến tàu Swansea khi tuyên bố chiến tranh; khoảng hai mươi em học sinh từ Munich (đang chờ được hồi hương) đi du lịch đến Wales bằng xe đạp trong kỳ nghỉ cuối hè; nhiều giám đốc các công ty địa phương - những tên đồ tể, các chủ quán trà, nhân viên nhà tang lễ, các giảng viên âm nhạc - mang tên Đức hoặc có tổ tiên là người Đức. Bản thân Frau Schumacher cũng đang đi thăm cô em họ ở Llanelli, người đã kết hôn với một chàng trai xứ Wales tên là Jones. Cả nhà bị dựng dậy vào buổi sáng ngày 05 tháng Tám và Frau Schumacher bị bắt - cô bị buộc phải quay về Bremen vào ngày mùng sáu.

Thật là xúi quẩy, Lysander nghĩ khi bước ra ngoài hít thở không khí trong lành. Anh mệt mỏi sau khi phải biên dịch những lời kêu ca và hận thù của Schumacher suốt một giờ đồng hồ. Anh kéo cổ áo bộ quân phục lên, đội chặt mũ trên đầu, thọc tay vào túi tìm thuốc. Tìm được thuốc, anh liền châm một điếu và thả bộ xuống đường lăn bóng dẫn đến một hàng các đụn cát thấp và bờ biển hẹp xa xa. Ai đó từ trong số những người đang đứng trên chòi canh hét lên, “Xin chào, diễn viên!”. Anh vui vẻ giơ cao ngón cái đáp lại.

Trời vẫn mưa phùn nhưng anh thực sự chẳng bận tâm. Anh hài lòng vì được đứng một mình trên bãi biển, ngắm cơn gió bắn tung bọt sóng trên mặt biển động và lạnh lùng. Anh tính toán Ilfracombe như ở ngay trước mặt, cách mấy dặm, nằm khuất sau con kênh rộng bên kia. Anh đã từng đi nghỉ ở đó một lần năm 1895 hồi lên chín tuổi. Anh nhớ đã cố gắng thuyết phục bố đi câu tôm với mình nhưng vô ích. “Không, con trai thân mến ạ, trò câu tôm không dành cho bố”. Anh hút xong điếu thuốc, ném về phía những con sóng, quay trở lại trụ sở câu lạc bộ. Các tù binh xếp thành một hàng, nhìn Lysander vô cảm khi anh đi ngang qua.

“Một ngày bận rộn”, Teesdale nói khi họ thấy người đầu tiên lê bước. “Làm sao anh có thể nói tiếng Đức chuẩn thế hả Rief?”

“Trước chiến tranh tôi sống ở Vienna”, Lysander đáp, suy nghĩ - một câu đơn giản làm sao, có bảy từ, chứa đựng nhiều ý nghĩa nữa chứ. Chắc anh phải khắc câu này lên bia mộ của mình mất.

“Khởi đầu tốt hơn rồi nhỉ”, anh nói, cảm thấy Teesdale muốn nói chuyện.

“À mà anh học trường nào vậy?”

“Nhiều trường lắm, thưa ngài. Một tuổi thơ lang thang”.

Có lẽ việc anh rời nhà Hamo ở Winchelsea vào buổi sáng, đến Rye rồi đi tàu về London là quyết định ngu ngốc nhất trong đời. Phải đợi đến nửa tiếng anh đành đi bộ vô ích vào thành phố. Đầu anh đầy những ý nghĩ cay đắng về Hettie và thằng nhóc Lothar anh chưa được nhìn thấy mặt. Mà trong bất kỳ trường hợp nào nó cũng sớm trở thành con của Udo Hoff mà thôi. Trên cửa sổ một cửa hàng rau quả treo tấm băng rôn in chữ lớn: E. SLI.[*] “NHỮNG CHÚ CHIM NHẠN”. MUỐN PHỤC VỤ CHO NƯỚC ANH KHÔNG, CÁC BẠN! Một viên nữ trung sĩ béo mập thơ thẩn trên ngưỡng cửa khiến Lysander chú ý.

“Anh là một chàng trai dễ coi đấy. Khỏe mạnh và hoạt bát, tôi cam đoan đấy. Đúng là người chúng tôi cần”.

Thế là Lysander để ý đến người đàn bà hiền lành này, anh vào trong cửa hàng và ghi danh. Anh trở thành Binh nhì số hiệu 10099 của tiểu đoàn (quân chủng) 2/5 của trung đoàn Bộ binh Đông Sussex. Hai ngày sau, anh đăng ký về sở chỉ huy trung đoàn ESLI tại Eastbourne để tham gia khóa đào tạo cơ bản trong sáu tuần. Anh tự nhủ đó là một hành động ăn năn hơn là bổn phận. Ít nhất anh cũng đang làm việc. Tất cả những gì anh khao khát là một công việc nhàn nhã, đều đặn hàng ngày, không đòi hỏi kỷ luật quá nghiêm khắc. Anh sẽ sang Pháp chiến đấu chống kẻ thù chung hay đi đâu đó. Chợt trong tâm trí hiện về một hình ảnh lãng mạn. Anh đang diễu hành đầy vinh quang vào Vienna và có cuộc gặp gỡ đầu tiên đầy hạnh phúc với đứa con trai.

“Ngủ ngon, Rief”, một trong số những người đánh máy chào anh khi ra về. Lysander đang đứng trong sảnh vào của trụ sở câu lạc bộ, đợi chiếc xe tải đưa về nơi đồn trú của trung đội tại Swansea. Hình ảnh lãng mạn phai nhòa nhanh chóng. Anh đến Swansea cũng thật gần như anh đến Pháp và ra tiền tuyến. Tiểu đoàn (quân chủng) 2/5 của ESLI được điều đến bảo vệ các hàng rào phòng thủ bờ biển ở South Wales. Sau vài tháng hành quân qua các bến cảng Swansea và Talbot, tiểu đoàn tiến hành đặt hàng rào dây thép gai trên các bãi biển, ngồi trong các đường hào lạnh giá đào cạnh các ụ súng nhìn xuống kênh Bristol. Rốt cuộc, đại đội “C” tiểu đoàn (quân chủng) 2/5 của anh cũng được giao một nhiệm vụ nhẹ nhàng Đại đội được lệnh thay phiên gác cho các tốp lính bảo vệ vòng ngoài và các đội hộ tống tù nhân đến Trại tù binh vịnh Bishop mới thành lập. Lysander tình nguyện giúp đỡ biên dịch rất nhiều vấn đề của tù binh, trở thành người không thể thay thế. Cứ vài ngày anh lại phải ngồi ở chiếc bàn dài trong quán bar của câu lạc bộ golf. Bây giờ là tháng Năm năm 1915. Greville Varley đang ở Mesopotamia làm đại úy của trung đoàn Dorsetshire. Chiếc tàu Lusitania[*] đã bị đánh chìm. Những cuộc đổ bộ tại Gallipoli có vẻ không diễn ra thuận lợi. Italia đã tuyên chiến với Đế quốc Áo - Hung. Sự xung đột toàn cầu khổng lồ này đã kéo dài suốt mười tháng, anh thậm chí còn chưa hề…

“Cho tôi hai phút được không, Rief?” Teesdale đang nghiêng người trên ngưỡng cửa. Lysander quay vào văn phòng. Teesdale chỉ ghế cho anh ngồi và mời thuốc. Lysander cảm thấy mình rất già khi đối diện một Teesdale trẻ trung với hàng ria mép mờ mờ. Già cả và mệt mỏi.

“Anh có bao giờ muốn tự tiến cử mình vào chức sĩ quan chưa?” Teesdale hỏi.

“Tôi không muốn làm sĩ quan, thưa ngài. Tôi thấy hạnh phúc khi là một anh lính quèn”.

“Anh sẽ có một cuộc sống tiện nghi hơn. Có người phục vụ. Một chiếc giường đẹp. Ăn bằng mâm ngọc đĩa vàng”.

“Tôi hoàn toàn hài lòng rồi, thưa ngài”.

“Sai hết rồi, Lysander ơi. Anh đang là một con cá ra khỏi nước - một người có giáo dục nói tiếng nước ngoài chuẩn đến phát ghen lên ấy”.

“Dù ngài có tin hay không, tôi thật sự rất hạnh phúc”, anh nói dối.

“Thế trước chiến tranh anh làm gì?”

“Tôi là diễn viên kịch”.

Teesdale ngồi thẳng lên ghế.

“Lysander Rief. Lysander Rief… Tất nhiên rồi. Đúng! Anh biết không, tôi nghĩ là tôi đã thực sự tận mắt xem anh diễn kịch”. Teesdale nhíu mày và búng ngón tay, cố nhớ ra, “Năm 1912, Hội Kịch Trường Quốc lập Horsham. Chúng tôi tổ chức chuyến đi đến London… Chúng tôi đã xem vở gì nhỉ?”

Lysander điểm qua các vở kịch anh đã diễn trong năm 1912.

Evangelina, Chẳng phải lỗi của ai, Hãy hái những nụ hồng…”

“Là nó - Hãy Hái Những Nụ Hồng. Blanche Blondel. Người phụ nữ tuyệt vời. Một tạo vật đẹp đến choáng váng.

“Rất xinh, phải rồi”.

“Lysander Rief - thật phi thường làm sao. Tôi phải nói là anh sẽ tặng tôi chữ ký đúng không?”

“Rất hân hạnh, thưa ngài”.

“Ghi rõ là tặng James nhé”.

Lysander ngồi trên giường, tháo ủng và tháo xà cạp[*]. Đại đội “C” đồn trú trong một nhà kho vốn là của một nhà máy cưa, sực mùi nhựa cây, gỗ lát ván còn tươi và mạt cưa. Nhà kho khô ráo, kín đáo bao gồm bốn dãy giường chăng lưới thép mỏng, khung gỗ với một nhà xí chung được đào ở bên ngoài. Đồ ăn rất phong phú và được cung cấp đều đặn, và có nhiều quán rượu ở vùng lân cận. Tất cả binh lính đại đội đều dành toàn bộ thời gian được nghỉ đi uống. Hàng tá anh chàng hoặc hơn thế bị phạt rồi. Sân kho được quét đến hàng trăm lần, những bức tường và tòa nhà đều được hưởng lợi từ ít nhất bảy lớp vôi trắng. Những bàn tay say khướt, uể oải bị các hạ sĩ quan phạt lao động nặng. Lysander luôn tránh xa rắc rối.

Anh nằm xuống lắng nghe tiếng lưới thép dưới nệm rơm kêu cót két, lọc xọc dưới sức nặng của mình và nhắm mắt lại. Thêm hai ngày nữa sẽ được nghỉ phép một tuần. London.

“Này, diễn viên!”

Anh mở mắt nhìn lên. Binh nhất Merrilees đứng đó. Frank Merrilees có làn da đen sẫm và cái cằm chẻ. Cậu ta gần ba mươi tuổi, có một trí tuệ sắc sảo và hiểm độc.

“Đến quán rượu không?”

Anh biết họ thích uống rượu cùng anh, vì anh chịu chi và uống cũng hăng. Anh hạnh phúc khi làm họ vui, không phải để nổi tiếng mà chỉ muốn yên thân. Họ không lôi anh vào những cuộc cãi lộn, hành hạ và nhạo báng ngu xuẩn.

“Ý hay đấy”, anh nói, lại ngồi dậy, vươn tay lấy đôi ủng.

Quán rượu Merrilees thích được gọi là Mỏ Neo. Lysander tự hỏi quán rượu có gần bến cảng không - anh chẳng hiểu bọn anh đang sống ở quận nào tại Swansea, kể cả sau khi đã ở trong nhà máy cưa đến mấy tuần. Anh đi về như con thoi từ nơi đồn trú đến trại giam. Ngồi sau xe tải, anh thấy những con phố vốn khiêm tốn của Swansea bỗng sáng bừng sau mưa qua vết rách trên tấm vải bay phần phật - trong cuộc chiến của mình, anh chỉ biết có thế.

Mỏ Neo chỉ cách đồn có vài con phố đi bộ - không cần đến các phương tiện giao thông công cộng. Có lẽ điều này giải thích tại sao nó được ưa chuộng đến thế. Có một quầy rượu hạng sang và một căn phòng nhỏ ấm cúng mà các binh lính ESLI không được phép vào. Đi cùng Merrilees là bốn người bạn chí thân khác của cậu ta mà Lysander biết hết. Những bạn rượu của anh - Alfie “Fingers” Doig, Nelson Waller, Mick Eltherington và Horace Lefroy. Khi họ gọi một chầu, Lysander trả tiền cho mấy cốc rượu mạnh - whisky, brandy, rum và gin - đi kèm với mấy cốc bia nhạt. Chính vì thế họ mới chấp nhận anh. Thứ ngôn ngữ họ nói với nhau lúc nào cũng bậy bạ - mẹ kiếp cái này và mả mẹ cái kia. Như các tù binh, họ nói về một chuỗi dài những sự oán giận thô lỗ, sự khinh khi họ phải chịu đựng những hành động trả thù tàn nhẫn dự tính từ trước hay những ảo ảnh về tình dục.

“Hết rượu rồi, các chàng trai”, cô gái phục vụ nói.

“Cho tôi thêm một chầu cuối đi”, Lysander đề nghị.

“Anh là sĩ quan và là một quý ông, diễn viên ạ”, Merrilees nói, đôi mắt anh ta lờ đờ. Những người khác nhao nhao hưởng ứng.

Lysander mang cái khay đựng sáu cốc bia và năm cốc vại uống cạn đến quầy cho cô phục vụ, nhìn cô lần nữa khi cô kéo các panh bia. Anh nhận ra cô dù tóc cô đã đổi màu kể từ lần cuối cùng anh ở đây - màu nâu đỏ cam lạ lùng. Anh vẫn nhớ là tóc cô màu vàng hoe. Cô xinh đẹp, chiếc nịt vú làm lộ ra nửa khoảng ngực dưới cổ áo cánh chữ V bằng sa tanh. Anh tự nhủ cô nàng xinh như Hettie vậy. Mũi cô cong hơi nghiêng, cằm có đường chẻ ăn nhập với cái khe rõ nét giữa ngực. Cô có đôi lông mày đen rậm.

“Thêm ba rượu gin và hai whisky”, anh nói thêm khi cô rót xong panh bia. “Tôi thích màu tóc của cô”, anh nói. “Đã thay đổi rồi”.

“Cảm ơn anh”, cô đáp.“Thực ra tôi là cô gái tóc đỏ, quay về với tự nhiên thôi”. Cô nói trọng âm nặng vùng Wales.

Lysander lấy cốc bia ra khỏi khay, gọi Waller đến mang khay về. Quán rượu dần vắng nhưng anh thích đứng nói chuyện với cô hơn là chửi thề với đám lính.

“Bạn anh đến đây nhiều lắm, mấy chàng lính của anh ý”.

“Đây là quán ưa thích của họ mà”, anh nói. “Chúng tôi trú quân ở nhà máy cưa cũ, dọc theo con đường”.

“Nhưng anh khác họ rất nhiều, đúng không?” cô nói, nhìn anh một cách khôn ngoan. “Nghe giọng anh là tôi biết”.

“Tên cô là gì?” anh hỏi.

“Cerridwyn”, cô đáp. “Cái tên xứ Wales cổ - có nghĩa là “nữ thi sĩ xinh đẹp”.

“Cerridwyn”, anh lặp lại. “Một cái tên đẹp đối với một nữ thi sĩ. Bản thân tôi cũng viết mấy bài thơ”. Anh chẳng hiểu điều gì khiến anh kể cô nghe chuyện này.

“Ồ, thế sao? Tại sao lại không nhỉ?” Đầy hoài nghi. “Vậy đọc tôi nghe một hai dòng đi”.

Lysander, gần như không suy nghĩ, bắt đầu đọc:

Trong mắt ta nàng mãi là người xinh đẹp nhất

Rất đáng yêu và thật đến mê hồn

Nếu đặt cho nàng một cái tên, có thể

Nàng là ai rồi bạn sẽ biết thôi:

Nàng đáp lại chữ “Yêu” - nàng chính là Em đấy.

Cerridwyn bị ấn tượng, anh thấy điều đó - thậm chí là xúc động. Có lẽ trước nay chưa ai từng trích dẫn thơ cho cô nghe như thế.

“Anh chưa bao giờ viết bài thơ đó”, cô nói. “Anh học thuộc nó”.

“Tôi không thể chứng minh được. Nhưng tất cả là do tôi viết, e là thế”.

“Ồ - bài thơ nghe rất đáng yêu. Anh đọc lại tôi nghe cái câu cuối đi?”

“Nàng đáp lại chữ “Yêu” - Nàng chính là Em đấy”.

Bất ngờ anh cảm thấy thôi thúc muốn chiếm đoạt cô, muốn cởi bung chiếc áo cánh sa tanh ấy, xổ tung mái tóc hấp dẫn ấy. Trong một khoảnh khắc, anh còn thấy cô đã nhận ra sự thay đổi trong ánh mắt mình. Anh tự hỏi sao lại thế được? Những dấu hiệu gợi tình nào được gửi đến đối phương?

“Ngày thứ Hai tôi nghỉ làm”, cô nói, đầy ý tứ.

“Tôi sẽ nghỉ phép và đi London vào ngày thứ Hai”, anh đáp.

“Chưa bao giờ tôi đến London”.

“Sao cô không đi cùng tôi?”

“Anh sẽ đưa tôi đi loanh quanh, đại loại thế”.

“Tôi rất thích”. Chuyện này thật điên rồ, anh biết. “Tôi sẽ gặp cô tại nhà ga Swansea. Chín giờ. Tại phòng bán vé”.

“Chà. Anh sẽ chẳng đến đâu”.

“Có, tôi sẽ đến”.

“Tên anh là gì?” cô hỏi như một sự thách thức, một bài kiểm tra độ chân thành của anh,

“Lysander Rief”.

“Một cái tên lạ”.

“Chẳng lạ hơn cái tên Cerridwyn đâu”.

Merrilees lảo đảo đi đến nói tốt hơn họ nên quay về.

“Chín giờ, sáng thứ Hai”, Lysander nói qua vai. Anh nắm lấy khuỷu tay Merrilees, dìu anh ta ra ngoài.

Trên đường về nhà máy cưa có rất nhiều câu đùa cợt dâm dật, tục tĩu về Lysander và cô phục vụ. Anh ép mình làm ngơ tất cả, để những dự tính quay cuồng trong óc. Anh đang thích thú tưởng tượng: chuyến tàu đến London, bữa trưa thật ngon trong một quán ăn rẻ tiền hay một quầy bán sò. Anh biết một khách sạn nhỏ ở Paddington. Mua vé về Swansea trên chuyến tàu chở sữa cho Cerridwyn, Một chuyến phiêu lưu cho cả hai.

Trung sĩ Mott đang đứng ở cổng nhà máy cưa, cây gậy ba toong trong tay ông ta đang xoay tít. Tất cả bọn họ đều đã say mèm trừ Lysander, Merrliees đứng nghiêm chào rồi đổ gục xuống.

“Cút hết lũ chó chết chúng mày đi, lũ cặn bã”, Mott nói. “Đó là người diễn viên mà tao rất quan tâm đấy”.

Những người khác lủi đi ngay lập tức,

“Tôi không say, Trung sĩ à”, Lysander nói. “Thật mà. Chỉ uống hai cốc bia thôi”. Anh thấy sợ Mott.

“Tôi không quan tâm”, ông đáp. “Có người đợi cậu trong văn phòng đấy”.

Đại úy Dayson, Tư lệnh đại đội đang ở trong văn phòng nhà máy cưa bên kia sân. Lysander cài cúc áo quân phục, vuốt thẳng mũ trên đầu và gõ cửa.

“À, Rief, anh đây rồi”, Dayson nói, theo kiểu lè nhè thường lệ. Anh ta là một kẻ lười nhác, rất hạnh phúc với công việc ở trại tù binh. Anh ta hy vọng sẽ thấy cuộc chiến này sớm kết thúc. “Anh có khách đấy”.

Lysander bước vào phòng.

Alwyn Munro đứng dậy. Anh thấy ông mặc quân phục với những quân hàm sao vuông của Trung tá trên hai vai. Được thăng chức rồi. Lysander còn nhớ cách chào.

“Nhân vật lớn khó tìm quá đấy, Rief”, Munro nói, họ bắt tay nhau.

“Tôi có thể giúp gì cho ông?” Lysander hỏi, tâm trí anh điên cuồng với những câu hỏi khác,

“Tôi sẽ kể cho cậu trên đường về London”, ông trả lời. “Tôi có chiếc xe đang đợi ngoài kia. Có cần mang đồ theo không?”

ý câu lạc bộ đến quán bar Lỗ thứ 19. Ở đây có hai nhân viên đánh máy tuổi trung niên từ Swansea đến giúp giải quyết vấn đề hành chính của trại. Phương tiện liên lạc duy nhất là chiếc điện thoại nằm trên bàn trong một góc phòng. Ở góc kia, p
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William Boyd

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.