NGÀY HÔM SAU TRÔI QUA thật chậm, rất chậm. Lysander cảm thấy như thể thời gian đang đồng lõa những tâm trạng rối beng của anh. Anh thu mình lại, ở lì trong phòng 205, khóa cửa im ỉm. Đến giữa trưa, anh sai Tremlett đi mua vài cái bánh ngọt từ quầy ăn trên phố Strand. Anh kiểm đi kiểm lại các kế hoạch cho buổi tối. Cố gắng thuyết phục bản thân rằng đây sẽ là bài tập quan trọng, có thể hé lộ nhiều điều. Tối thiểu nhất thì anh cũng sẽ thông minh hơn - có thể sẽ tiến gần tới đích hơn nữa.
Vào giữa chiều, Tremlett gọi điện thoại cho anh:
“Khách sạn Cung điện Trắng đang đợi máy thưa ngài”
“Tôi không còn ở đó nữa rồi”
“Họ nói vợ ngài bị ốm ạ”.
“Tôi chưa kết hôn, Tremlett - rõ ràng là nhầm lẫn thôi”.
“Họ cứ khăng khăng nói thế ạ. Có vẻ như bà ấy đang yếu đi”.
“Được rồi, nối máy với họ đi”.
Anh chờ đợi, nghe thấy những tiếng lách cách và vo vo khi đường dây được nối. Rồi một người quản lí lên tiếng.
“Bà Rief đang rất, à, ở trạng thái kích động”.
“Thực tế là chẳng có “Bà Rief” nào hết”, Lysander nói. Rồi anh hiểu ra. “Tôi sẽ nói chuyện với cô ta”.
Anh nghe thấy tiếng người quản lý đi khỏi, tiếng những bước chân đến gần.
“Chào Hettie”, anh nói.
“Anh đã chuyển đi mất rồi!” Cô nói giận dữ như buộc tội. “Em không biết làm sao tìm được anh”.
“Anh sẽ đến trong mười phút nữa”.
Anh bắt taxi đến Pimlico, thấy cô trong phòng chờ dành cho khách trọ tại khách sạn Cung điện Trắng, đang ngồi uống một tách trà và một chai rượu thuốc brandy. Anh khóa cửa để không bị quấy rầy, nhưng Hettie lại xem đây như một sự gọi mời thân mật nên cố hôn anh. Bị anh nhẹ nhàng đẩy ra, cô hờn dỗi và lại ngồi xuống sô pha.
“Em có hẳn ba ngày tự do”, cô nói. “Jago tin rằng em đi nghỉ trên đảo Wight để phác thảo. Em nghĩ ở trên một hòn đảo sẽ khiến ông ta dễ tin hơn”.
“Anh không gặp em được đâu, Hettie”, anh đáp. “Có sự xáo trộn về… anh đang phải làm việc suốt ngày đêm. Thế nên anh mới gửi điện tín cho em”.
Cô nhíu mày, Co chân lên ghế, bĩu môi, gõ gõ ngón trỏ lên má. một, hai, ba - như thể đang đếm ngược trong đầu. Rồi ngón tay cô chỉ vào anh.
“Anh có người khác rồi”, cuối cùng cô nói. “Em nói đúng không?”
“Không… Có”.
“Anh là thằng chó, Lysander. Thắng chó khốn nạn đáng ghét”.
“Hettie. Em đã bỏ đi và kết hôn. Chúng ta có con nhưng em chẳng buồn nói cho anh biết”.
“Chuyện đó khác”.
“Thế bây giờ giải thích đi”.
“Anh đã làm gì em hả Lysander?”
“Đợi một giây đã. Anh có thể nhắc để em nhớ những sự kiện năm 1913 tại Vienna không? Em tống anh vào tù bằng những lời dối trá chết tiệt của em. Sao em dám làm thế?”
“Em đang giúp anh đấy. Có thể lúc đầu là không nhưng sau đó thì có”.
“Em đang nói gì thế?”
“Những người đó thuyết phục em rút lại lời buộc tội cưỡng hiếp, để anh có thể được bảo lãnh. Udo rất giận dữ, thật ra hắn đã tống cổ em ra khỏi nhà…”.
“Những người nào?
“Hai người ở đại sứ quán. Những tùy viên - em quên tên họ rồi”.
“Munro và Fyfe-Miller”.
“Nếu anh nói thế”.
Lysander bắt đầu suy nghĩ rất nhanh.
“Em nói Munro và Fyfe-Miller à?” anh hỏi. “Trong khi anh vẫn đang bị bắt sao?”
“Bọn họ có gặp em vài lần. Em làm những gì họ bảo - thay đổi lời buộc tội. Và khi em đòi thì họ cho em ít tiền. Sau khi anh trốn thoát, họ đã rất tốt - ngỏ ý đưa em sang Thụy Sĩ. Nhưng em quyết định ở lại - vì Lothar”. Cô nhìn anh trừng trừng, như thể anh phải chịu trách nhiệm về cái đống hỗn độn ấy. “Họ hỏi em hàng đống câu hỏi về anh. Rất tò mò. Có thể nói là em rất biết nghe lời. Em kể với họ tất cả những chi tiết lí thú về ngài Lysander Rief”.
Lysander tự hỏi có phải cô đang nói dối không. Có phải đây là một màn trình diễn xuất sắc không? Anh cảm thấy một lần nữa sự bối rối lại chiếm hữu mình. Anh vươn tay lấy ly brandy và nốc cạn. Ban đầu Munro hóa ra lại là bệnh nhân của Bensimon và bây giờ dường như có sự thông đồng giữa Munro, Fyfe-Miller và Hettie. Anh cố gắng hiểu những mối liên hệ và hậu quả có thể là gì nhưng tất cả bỗng trở nên quá phức tạp. Thực sự chuyện gì đã xảy ra tại Vienna năm 1914: Chuyện này làm anh rất khó chịu.
Hettie đứng dậy, đến bên, ngồi vào lòng anh. Hai cánh tay vòng quanh cổ và hôn anh - những nụ hôn nghịch ngợm lên mặt, ngực cô ép chặt vào cánh tay anh.
“Em biết anh thích gì, Lysander. Hãy nghĩ đến sự vui vẻ ta có thể dành cho nhau những ba ngày cơ. Cùng nhau mua rất nhiều đồ ăn, thức uống và hãy ở bên em. Chúng ta có thể…”. Cô bắt đầu luồn tay vào chỗ giữa hai chân anh.
“Không Hettie, xin em đấy”. Anh đứng dậy, nhẹ nhàng tránh khỏi cô - thật bé bỏng, mềm mại. “Anh đã đính hôn rồi. Kết thúc rồi. Lẽ ra em không bao giờ nên đến đây. Anh muốn nói thẳng rằng em đừng đến nữa. Em chỉ nên tự trách mình thôi”.
“Anh là thằng khốn”, cô nói, rơm rớm nước mắt. “Một thằng khốn ích kỉ chó chết”. Cô tiếp tục xỉ vả, ngày càng to tiếng, khi anh mặc áo mưa và cầm mũ lên. Anh rời phòng mà không buồn nhìn xung quanh. Anh không muốn quan tâm nhưng điều cuối cùng cô hét lên vào tai là: “… Và suốt phần đời còn lại, anh đừng mong gặp được Lothar”.
Nhà hát London mới ở Varieties, ngay đối diện rạp xiếc Cambridge, đúng là hoàn toàn mới mẻ với Lysander. Anh sẽ không bao giờ diễn tại đây vì nó chỉ là một nhà hát tạp kĩ đơn thuần, dù có chút chuyên nghiệp, “những vở ba lê, kịch Pháp và những tiểu phẩm xã hội”. Khi tham khảo thông tin hướng dẫn về nhà hát - anh không quan tâm đến chương trình mà là những tiện ích - anh biết rằng “du khách sẽ thấy khán giả tạo thành một phần của giải trí”. Đó là mật mã anh biết, dành cho những ả điểm thường lượn lờ quanh các quán bar hành lang”. Nhà hát London mới là một dạng nhà hát Victoria kiểu cũ, nơi người đi đường có thể uống rượu tại những quán bar mà không phải trả tiền xem các vở diễn. Thực ra đây là cách tăng doanh thu buổi tối vì nhà hát buộc phải kinh doanh các mặt hàng khác. Lysander nhớ đến một số nam diễn viên cao tuổi anh quen. Mấy ông hay vui vẻ hồi tưởng về giá cả và chất lượng của những ả điếm có thể xài được - bạn càng vào sâu trong nhà hát - từ các quầy hàng, các quán bar đến ban công trong rạp hát, hàng ghế trên cùng và tầng thượng nhà hát - gái điếm ở đó giá càng rẻ. Những quý ông quý tộc hơn cũng đến các quán bar nhà hát công cộng này, tạo lớp vỏ ngụy trang hoàn hảo - có khối thời gian cho họ xem xét kĩ lưỡng và lựa chọn, trong khi vẫn giả vờ đang làm việc nghiêm túc: đến nhà hát - có văn hóa, có giáo dục làm sao.
Buổi diễn đã bắt đầu đúng lúc Lysander ngồi xuống ghế. Một vở “ba lê” về những cô gái Pháp và một chàng thợ may, anh đoán vậy.
“Xin lỗi tôi đến muộn”, anh nói với Vandenbrook, nhẹ xoay người lại để có góc nhìn tốt hơn. Hắn ta mặc bộ vest, mái tóc phẳng bóng mượt, rẽ ngôi giữa và hai mép cong của bộ râu được vuốt phẳng. Trông hắn hoàn toàn khác với người anh đã từng giới thiệu cho cả thế giới này - yếu đuối và kém quyến rũ hơn nhiều.
“Có mang kính theo không?
Vandenbrook thò tay vào túi áo, và đeo lên.
“Lý tưởng đấy. Cứ đeo thế đi”.
Đó là cặp kính bình thường, giãn tròng với gọng kính bằng dây, mượn được từ phòng chứa đồ dùng sân khấu ở Drury Lane. Khi vở ba lê vẫn đang diễn, Lysander duyệt qua kế hoạch một lần nữa, chắc chắn Vandenbrook hiểu được cần phải làm gì. Không cần phải thì thầm hay thậm chí là hạ giọng xuống. Vì khán phòng này đang rất ồn với tiếng nói chuyện rì rầm không ngớt, tiếng mọi người liên tục rời chỗ ra quầy bar hay quầy rượu bao quanh sân khấu. Lysander nhận thấy rất nhiều người trong số này là lính hay thủy thủ mặc thường phục. Hình như ai cũng hút thuốc cả, nên anh mời Vandenbrook một điếu. Cả hai cùng hút khi vở ba lê kết thúc để bắt đầu một tiểu phẩm hài.
Khi rèm kéo xuống, người dẫn chương trình nhắc khán giả số diễn đỉnh cao trong phần hai của chương trình tối nay là của Trelawny Melhuish, “nam diễn viên khu tây London trứ danh”. Ông sẽ ngâm lại những đoạn độc thoại của Hamlet, Hoàng tử Đan Mạch. Lysander và Vandenbrook nối đuôi nhau trên lối đi giữa các dãy ghế, ra phía quầy bar hành lang của gian hàng. Tồn tại hay không tồn tại, Lysander nghĩ.
“Chúng ta sẽ chia nhau ra ở đây”, anh nói khi hai người ra đến ngưỡng cửa buông rèm, dẫn ra hành lang.
Hành lang của gian hàng là một lối đi rộng quanh co và có trần thấp, chiếu sáng mờ mờ bằng các đèn khí lập lòe. Ở đây đông đặc người từ ngoài phố đi vào, người từ khán phòng đi ra. Lysander đi men về phía quầy bar trung tâm, đối diện các cầu thang lên lối ra vào. Đứng lùi xa một quãng là một bộ ba câm lặng, mặc thường phục như anh yêu cầu trong các điện tín anh gửi cho họ. Đó là Munro, Fyfe-Miller và Massinger. Anh liếc nhìn phía sau để chắc chắn rằng Vandenbrook đâu đó gần anh, không thể bị nhận diện trong đám đông. Tốt rồi.
Anh đến gần ba người kia, lượn mấy vòng quanh họ. Cả ba đều tỏ ra khổ sở, khó chịu khi phải đứng giữa đám đông say xỉn, cười nói bỗ bã này. Lysander nghĩ như thế còn tốt hơn nhiều.
“Các quý ông”, anh nói, bất ngờ xuất hiện trước mặt họ. “Cảm ơn vì đã đến”.
“Chúng ta đang làm gì ở đây, Rief: Cái hành động ngớ ngẩn này nghĩa là gì?” Massinger càu nhàu.
“Tôi phải chắc chắn mình không bị theo dõi”, anh đáp. “Tôi không tin tưởng bất kì ai ở Ban Hậu cần”.
“Chuyện gì thế?” Munro hỏi, đôi mắt ông đảo quanh những khuôn mặt trong đám đông. “Trò chơi của cậu là gì, Rief: Chuyện khẩn cấp quái gì mà gọi cả ba chúng tôi đến thế hả?”
“Tôi đã tìm thấy Andromeda”, Lysander nói, ngay lập tức khiến họ chú ý.
“Thế sao?” Fyfe-Miller nói với sự mỉa mai không chút giấu giếm, Lysander nghĩ. Qua vai trái của Fyfe-Miller, anh có thể nhìn thấy Vandenbrook đang lượn vòng quanh, rất gần. Hóa trang tuyệt hảo thật - trông hắn ta như một thằng cha kế toán nhút nhát nào đó đang ra phố tìm gái.
“Đúng”, Lysander đáp. Anh phải kéo dài chuyện này ra một chút để Vandenbrook có càng nhiều thời gian càng tốt. “Là một người ở vị trí rất cao”.
“Không phải Osborne-Way - đừng phí thời gian nữa”.
“Là cánh tay trái của ông ta”, Lysander tiếp. “Mansfield Keogh”.
Ba người nhìn nhau. Rõ ràng họ biết Keogh là ai.
“Mansfield Keogh”, Massinger nói. “Chúa toàn năng ơi”.
“Phải, là Keogh”, Lysander vừa đáp, vừa thấy Vandenbrook đang di chuyển xung quanh họ. “Mọi thứ đều khớp. Những chuyến đi sang Pháp tính toán hàng hóa. Chỉ hắn mới có được toàn bộ thông tin trong các lá thư Glockner”.
“Nhưng tại sao hắn làm thế?” Munro nói, rõ ràng vẫn không tin.
“Thế tại sao lại là người khác?” Lysander hỏi, nhìn thẳng vào cả ba người, “Có ba lí do để ai đó phản bội tổ quốc của họ - hận thù, tiền bạc”, anh ngừng lại. “Và bị tống tiền”.
“Vô lý”, Massinger nói. Munro và Fyfe-Miller vẫn im lặng.
“Nghĩ về chuyện đó đi”, Lysander nói.
“Làm sao mà những tiêu chí của chúng ta hợp với Keogh được?” Fyfe-Miller hỏi, nhíu mày.
“Vợ hắn chết khi còn rất trẻ - có thể chuyện đó khiến hắn ngớ ngẩn một chút”, Lysander đáp. “Nhưng thế nào thì tôi không biết. Tôi chỉ cung cấp bằng chứng, không phải là đi tìm động cơ”.
“Chúng ta có thể tra hỏi khi bắt hắn”, Munro nói với một nụ cười mỉm. “Ngày mai - hoặc có thể là đêm nay”.
Mọi người cùng im lặng cân nhắc tính khả thi của tình hình này.
“Vậy - Keogh là Andromeda”, Massinger nói, gần như tự lẩm bẩm một mình.
“Làm tốt lắm, Rief”, Munro lên tiếng. “Cậu đã tận dụng thời gian của mình và đến đích. Tôi sẽ giữ liên lạc. Tiếp tục làm việc ở nhà phụ như bình thường nhé”.
“Đúng rồi, chuyến đi săn tốt đấy, Rief”, Fyfe-Miller nói thêm, miệng cười rộng ngoác. “Chúng tôi đã nghĩ anh chính là người sẽ lôi hắn ra, Hoan hô”.
Một tiếng chuông bỗng kêu vang, báo hiệu phần hai của chương trình buổi tối nay sắp bắt đầu. Đám đông đang lục đục đi vào trong khán phòng. Lần đầu tiên Lysander nhận thấy những người phụ nữ mặt bự son phấn đang đứng xung quanh.
“Tôi phải vào trong rồi”, anh nói và mỉm cười. “Tôi đi xem phần còn lại của buổi biểu diễn đây. Tốt hơn là nên đi ra từng người một”. Anh quay lưng bước đi, vui mừng khi không nhìn thấy Vandenbrook
“Chào buổi tối, thưa ngài”, một ả điếm nói với anh, mỉm cười. “Xem xong có làm gì không cưng?”
Anh quay lại thấy Massinger đang rời đi. Fyfe-Miller và Munro đang nói chuyện rất gấp gáp, chụm đầu vào nhau. Anh sẽ cho họ ít nhất là hai mươi tư tiếng, Lysander nghĩ, vui mừng khi mọi chuyện êm xuôi - sẽ có kịch hay để xem đây.
Vandenbrook đã vào chỗ ngồi, hút thuốc, đang đợi rèm kéo lên. Lysander ngồi xuống bên cạnh và trao cho hắn một cốc bia lớn, Anh cũng có một cốc cho mình.
“Làm tốt lắm”, anh nói, “Cậu thích loại bia này không? Tôi đã bắt đầu yêu thích nó từ hồi ở Vienna đấy”.
“Cảm ơn anh”. Hắn nói chuyện hơi khẽ khàng, nhấp môi vào lớp bọt trên miệng cốc bia.
“Thế nào?”
“Tôi không nhận ra được ai trong số họ. Ngoại trừ một người cổ áo đeo nơ, chả hiểu sao trông quen lắm”.
“Massinger à?”
“Tôi nghĩ có thể trước kia tôi đã gặp ông ta. Trong những ngày ở Văn phòng Chiến tranh. Ông ta có ở trong quân ngũ không?”
“Có. Vậy - có thể cho là ông ta biết cậu là ai”.
“Có khả năng - trông ông ta có vẻ quen quen”.
Lysander nghĩ - đây không thể là bằng chứng. Dàn nhạc vừa chơi một bản quân hành, rèm kéo lên, hiện ra một dàn đồng ca các cô gái, mặc áo nịt bằng vải kaki và quần buộc túm mang những khẩu súng trường bằng gỗ. Những tiếng reo hò, la hét và huýt gió vang lên từ hàng ghế khán giả. Đây đúng là thứ họ muốn thấy - hơn là xem ngài Trelaway Melhuish ngâm thơ.
“Vậy Massinger có thể là Andromeda”, Lysander nói.
“Andromeda? Là gì?”
“Đó là mật danh chúng tôi đặt cho những kẻ như cậu, khi bắt đầu cuộc tìm kiếm này”.
“À, phải rồi”, Vandenbrook trông hơi khó chịu với ý nghĩ mình được đặt mật danh như thế, anh nghĩ vậy.“Tại sao lại là Andromeda?”
“Thực ra đó là lựa chọn của tôi. Trích từ một vở opera của Đức. Andromeda và Perseus của Gottlieb Toller”.
“À phải. Đó là một vở kịch rất gợi tình, đúng không?”
“Tôi chưa hề xem”, Lysander nói. Bất ngờ một nàng vũ công dáng người cao, chân dài lọt vào mắt, khiến anh nhớ đến Blanche. Anh bỏ vào rãnh một đồng sáu xu, cái móc bật trên các cặp ống nhòm gắn cố định ở lưng ghế trước. Anh đeo kính lên để xem cho rõ hơn và nghĩ có lẽ mình cũng thích màn diễn này.