“TÔI ĐANG Ở hàng rào chắn gần sân khấu nhất trong nhà hát Majestic tại Strand. Tôi đang đi qua một đám đông những quý bà, quý cô ăn mặc sang trọng, trang nhã. Họ tán chuyện, cười đùa và thi thoảng một người trong số đó liếc nhìn tôi. Họ chẳng thèm để ý đến tôi - ngay cả khi tôi hoàn toàn trần truồng”.
Lysander dừng lại. Anh đang đọc cho Bensimon nghe cuốn Những cuộc điều tra tự thuật.
“Phải…”, Bác sĩ Bensimon chậm rãi nói. “Thú vị thật. Đêm qua anh đã mơ giấc mơ này à?”
“Vâng. Tôi viết ra ngay lập tức đấy”.
“Nhưng tôi thắc mắc sao lại là nhà hát?”
“Rõ ràng còn gì”, Lysander đáp. “Nếu đó không phải một nhà hát - thì sẽ còn thú vị hơn nhiều”.
“Tôi không hiểu”.
“Tôi là một diễn viên”, Lysander đáp.
“Một diễn viên chuyên nghiệp à?”
“Tôi kiếm sống bằng nghề diễn kịch, chủ yếu ở West End London”.
Anh nghe thấy Bensimon đứng lên, đi ngang phòng đến ngồi phía cuối chiếc đi văng đằng sau. Lysander xoay người lại, vẫn ngồi trong chiếc ghế bành - Bensimon đang nhìn anh chằm chằm.
“Rief”, ông nói. “Tôi nghĩ tên anh nghe rất quen. Có phải anh là Con trai của Halifax Rief không?”
“Ông ấy là cha tôi”.
“Chúa lòng lành!” Bensimon có vẻ kinh ngạc một cách chân thành. “Tôi đã xem vở Vua Lear của ông ấy ở… - Đâu nhỉ?”
“Nhà hát Apollo”.
“Đúng rồi, đúng, nhà hát Apollo… Ông mất rồi, đúng không: Ông mất khi vẫn đang theo đuổi nghiệp diễn ấy đúng không ?”
“Năm 1999. Lúc ấy tôi mười ba tuổi”.
“Lạy Chúa tôi. Cậu là con trai của Halifax Rief. Phi thường làm sao”. Bensimon chằm chằm nhìn Lysander như thể mới gặp anh lần đầu tiên. “Tôi nghĩ mình có thể phát hiện ra một sự tương đồng. Và anh cũng là một diễn viên giỏi đấy, ơn trời”.
“Không thành công bằng cha tôi đâu - nhưng tôi cũng kiếm được khá tươm”.
“Tôi yêu nhà hát. Vở kịch cuối cùng cậu diễn là gì?”
“Vở Bức Tối hậu thư Si tình“.
“Tôi không biết vở đó”.
“Vở này của Kendrick Balston - thể loại hài kịch hiện thực, vừa kết thúc bốn tháng lưu diễn tại Shaftesbury. Đó là lúc tôi đến đây”.
“Chúa ơi…” Bensimon lặp lại, nhẹ gật đầu như thể vừa được tiết lộ một điều gì đó quan trọng. Ông quay lại bàn và Lysander nhìn vào bức phù điêu bằng bạc. Anh cảm thấy mình đang ngày càng quen với nó, dù đây mới là buổi gặp gỡ thứ hai với Bensimon.
“Vậy… anh đã trần truồng ở hàng rào chắn gần sân khấu nhất ở nhà hát Majestic. Anh có bị kích thích không?”
“Tôi cảm thấy vui vẻ khi ở đó. Tôi không xấu hổ khi trần truồng trước mặt những người này. Không ngượng ngập”.
“Không ai phá lên cười, không ai cười khẩy, không chỉ trỏ hay chế giễu à?”
“Không. Họ dường như xem chuyện đó là quá đỗi bình thường. Sự tò mò vu vơ là cảm xúc mạnh mẽ nhất. Họ chỉ liếc nhìn tôi rồi lại tiếp tục chuyện trò”.
“Họ có “liếc nhìn” dương vật của anh không?”
“À. Có. Họ có nhìn”.
Một lúc im lặng. Lysander nhắm mắt lại, anh có thể nghe thấy tiếng ngòi bút của Bensimon sột soạt. Để khiến tâm trí tạm rời khỏi cuộc trò chuyện này, anh ép mình nhớ lại những điều thú vị cuối tuần trước. Anh đã bắt chuyến tàu hỏa đến Puchberg và nghỉ qua đêm tại một khách sạn nhà ga ở đó. Sau đó anh đón chuyến tàu một toa leo núi đến Hochschneeberg và đi bộ lên đỉnh Alpengipfel rồi leo xuống (anh đã mang theo giày leo núi). Anh cảm thấy tâm trí nhẹ bỗng và trôi nổi mỗi khi leo lên các ngọn núi hoặc trong các chuyến du lịch đi bộ. Anh nghĩ có thể đây là lí do hợp lí nhất giải thích vì sao anh phải sang Áo - những chuyến đi mới, những quang cảnh mới. Mỗi dịp nghỉ cuối tuần anh có thể đi tàu và đi bộ lên những ngọn núi, đầu óc trống rỗng, quên đi hết những rắc rối. Phương thuốc đi bộ…
“Giấc mơ này có tái diễn không?” Bensimon hỏi.
“Có. Có biến đổi một chút, Thỉnh thoảng có ít người hơn”.
“Căn bản là anh cơ - trần truồng - giữa cả đám phụ nữ, áo xống đầy đủ”.
“Vâng. Không phải lúc nào cũng ở trong nhà hát”.
“Anh có đặt câu hỏi tại sao mình lại mơ như thế không?”
“Tôi lại hi vọng ông có thể nói cho tôi biết”.
“Hãy tiếp tục chủ đề này vào lần sau”, Bensimon nói, kết thúc buổi gặp. Lysander đứng dậy và vươn thẳng người - anh thấy mệt lạ lùng, trong suốt thời gian phải tập trung cao độ thế này. Anh thả cuốn sổ tay vào túi áo.
“Tiếp tục viết ra mọi thứ nhé”, Bensimon nói, tiễn anh ra cửa. “Chúng ta đang có tiến triển đấy”. Họ bắt tay nhau.
“Hẹn gặp ông vào thứ Tư”, Lysander nói.
“Con trai của Halifax Rief, đúng là không tin được”.
Lysander ngồi trong quán Central uống cà phê Capuchino và suy nghĩ về cha mình. Như thường lệ, anh cố gắng nhớ về ông nhưng vô hiệu. Tất cả những gì anh có là hình ảnh một người đàn ông lực lưỡng, to lớn và một khuôn mặt vuông nung núc thịt dưới mái tóc dày màu xám. Dĩ nhiên anh có thể nghe thấy giọng nói nổi tiếng như giọng bass ầm ầm vang rền. Nhưng điều còn tồn tại lâu bền nhất trong hồi ức về cha anh đó là mùi hương trên người ông - mùi sáp thơm chải tóc ông thường dùng thứ sáp tổng hợp của riêng ông, do chính các thợ cạo của ông pha chế. Một thứ mùi hoa oải hương làm se, ban đầu rất hắc, làm nền cho mùi dầu thơm đậm hơn. Cha anh là một người đàn ông rất thơm tho, Lysander nghĩ. Thế rồi ông mất.
Lysander nhìn quanh quán cà phê rộng rãi, với trần cao và vòm kính. Một nơi yên tĩnh. Có vài người đang đọc báo, một người mẹ và hai đứa con gái bé bỏng đang chăm chú quan sát chiếc xe dọn bánh ngọt. Mặt trời chiếu xiên qua những ô cửa sổ trên cao, vẽ nên những hình thoi màu hồng ngọc và cẩm thạch trong những tấm kính đỏ rực. Lysander ra hiệu gọi một chai brandy, cảm thấy tâm trạng thật bình yên. Khi rượu được mang đến, anh trả tiền cốc Capuchino và lấy ra lá thư của Blanche. Lá thư đầu tiên anh nhận được kể từ khi đến Vienna - anh đã viết cho Cô bốn lần… Anh vuốt thẳng tờ giấy, mực xanh sang trọng, nét chữ gà bới tràn đầy trang giấy, tràn ra hết cả lề.
Lysander yêu dấu,
Anh sẽ giận em lắm, em biết nhưng em rất nhớ anh, người đàn ông yêu dấu của em, thật đấy. Và em vẫn luôn định viết thư nhưng anh hiểu em và biết rằng mọi thứ “điên rồ” như thế nào rồi. Chúng em đã rà soát về vấn đề bản quyền tác giả vở Tháng Sáu Rực lửa nhưng rõ ràng có gì đó không ổn và bọn em đã phải họp nhau lại hai ngày trước. Với em vở này thật đáng yêu và em đang nghĩ có một vai sĩ quan bảo vệ trẻ trung rất “hợp” với anh đấy. Em có nên nói với Manley già nua, đáng yêu rằng có thể anh sẽ hứng thú với vai này không? Ông ấy sẽ làm bất cứ điều gì em yêu cầu, ngớ ngẩn đến đáng yêu. Nhưng anh phải về nhà sớm đi, kho báu của em. Sẽ thật thú vị khi chúng ta lại làm việc cùng nhau. “Phương thuốc” bí ẩn của anh vẫn tốt chứ? Nó có rút ngắn tuổi thọ không? Anh có ngâm muối, tắm nước lạnh, uống sữa lừa nữa không đấy? Em nói với mọi người rằng anh có điều kiện” và họ kêu lên - “Ồ. À, Đúng rồi… Tôi hiểu”, và vội vã bỏ đi với vẻ mặt nghiêm túc lắm. Ngày mai em sẽ xuống Borehamwood để “quay thử”. Dougie nói em có một khuôn mặt hoàn hảo, hợp với điện ảnh” nên bọn em sẽ xem xét. Em nhận được một lá thư thú vị từ mẹ anh hỏi em rằng, chúng ta đã quyết định về cái “ngày tuyệt vời” ấy chưa? Suy nghĩ về chuyện đó nhé, người tình ngọt ngào của em. Em đã khoe nhẫn với mọi người và họ hỏi “Bao giờ thế?” em phá lên cười - cười nghe như chuông ngân ý - và nói rằng bọn mình không cần vội. Nhưng em đang nghĩ là đám cưới mùa đông có thể cũng đặc biệt. Em có thể mặc đồ lông thú…
Lysander gấp thư và nhét lại vào túi áo, mơ hồ cảm thấy không khỏe. Như thể tai anh đang nghe thấy giọng nói của cô, nhắc anh nhớ rằng cái gì đã đưa anh đến Vienna, buộc anh phải đối mặt với thực tế về vấn đề đặc biệt của mình. Anh không thể kết hôn với Blanche trong hoàn cảnh này. Tưởng tượng một đêm trong tuần trăng mật…
Anh hút một điếu thuốc. Anh biết Blanche đã từng có nhiều người yêu. Thực ra cô đã mời anh lên giường nhưng anh khăng khăng nào là đạo đức, nào là sự tôn trọng - giờ hai người đã đính hôn. Anh lấy cuốn sổ từ trong túi và nhớ lại. Lần cuối cùng anh cố gắng tham dự đại hội ái tình với một phụ nữ là một ả gái điếm trẻ anh chọn được ở Piccadilly. Anh đếm lại: ba tháng, mười ngày trước. Đó là những ngày tháng sau khi anh cầu hôn Blanche và đó đơn thuần là một thử nghiệm cần thiết. Anh nhớ lại căn phòng nhỏ hôi hám trên phố Dover, một ngọn đèn đất, tấm ga giường sạch sẽ trên chiếc giường hẹp. Với lớp son phấn trên mặt, cô ta xinh đẹp đến ghê gớm nhưng có một chiếc răng đen lộ rõ khi mỉm cười. Anh khởi đầu rất tốt nhưng không thể tránh khỏi kết cục ấy. Chẳng có gì cả. Chúng ta có thể thử lại, cô ta nói khi anh trả tiền, chẳng buồn đếm xem bao nhiêu, thử lại làm gì khi chẳng có gì xảy ra cả? Dù vậy anh vẫn trả tiền - vỏ đạn rỗng vẫn có thể phát ra tiếng nổ.
Lysander tự cho phép mình nở nụ cười chua cay - vài khách hàng là lính có thể đã kể cho cô ả nghe điều đó và điều này vẫn đeo đuổi cô ta. Anh dụi tắt điếu thuốc. Có lẽ anh nên nói với Bensimon rằng mình đã đính hôn với cô Blanche Blondel - việc này có thể gây ấn tượng với ông nhiều như khi nghe thấy tên Halifax Rief.
Anh trả tiền - nhớ phải đội mũ lên đầu - và bước ra ngoài dưới ánh nắng ấm áp của buổi chiều, dừng lại trên các bậc thang của quán cà phê, suy nghĩ liệu anh có nên quay về nhà nghỉ Kriwanek - có thể bỏ bữa tối - hay có thể đi đâu đó dịp nghỉ cuối tuần này - có thể là Baden hay thậm chí là Salzburg, làm một chuyến du lịch ngắn, đi Tyrol…
“Anh Rief?”
Lysander vô thức nhảy dựng lên. Một người đàn ông cao kều, khuôn mặt thô gầy với hàng ria đen gọn gàng.
“Không có ý làm anh ngạc nhiên. Anh thế nào rồi? Tôi là Alwyn Munro”.
“Xin lỗi… tôi đang mơ”. Họ bắt tay nhau. “Dĩ nhiên. Chúng ta đã gặp nhau tại phòng khám của bác sĩ Bensimon. Tình cờ”. Lysander đáp.
“Nếu anh đến quán cà phê Central thì anh sẽ gặp được tất cả mọi người ở Vienna này”.Munro nói. “Thời gian anh lưu lại đây thú vị không?”
Lysander không muốn nói chuyện phiếm.
“Ông có phải bệnh nhân của bác sĩ Bensimon không?” anh hỏi.
“John ấy à? Ông ấy là bạn tôi. Chúng tôi cùng học đại học. Thi thoảng tôi được lợi nhờ trí tuệ của ông ấy. Một người rất thông minh”. Dường như cảm thấy Lysander miễn cưỡng làm quen với mình. “Tôi có thể thấy là anh đang vội. Tôi sẽ để anh đi tiếp”. Munro thọc tay vào túi tìm danh thiếp và trao cho anh. “Tôi ở Đại sứ quán đây nếu anh có cần gì. Vui được gặp anh”.
Ông ta đưa ngón trỏ lên chỉnh vành chiếc mũ quả dưa và bước vào quán.
Lysander rảo bước quay về đường Mariahilfer Strasse, tận hưởng ánh mặt trời. Anh cởi áo choàng khoác lên vai, suy nghĩ về Tyrol, phải rồi - những dãy núi thật sự. Sau đó khi anh vừa định băng qua đường Opernring thì lại trông thấy mấy tấm áp phích xấu xí, bị xé nham nhở khác. Lần này chỉ còn đầu một con quỷ - một kiểu sinh vật lai giữa cá sấu và rồng - và họ tên đầy đủ của người nghệ sĩ: Gottlieb Toller, Anh nghĩ mình có thể hỏi Barth xem ông ta có biết gì về người này không. Anh nghe tiếng một ban nhạc đang chơi điệu van của Strauss[*] theo kiểu hành khúc, anh điều chỉnh nhịp bước theo nhịp trống bass. Anh nghĩ đến khuôn mặt dài xinh đẹp của Blanche, hai cổ tay mỏng manh, trơ xương của cô với những chiếc vòng kêu lách cách, thân hình thanh mảnh. Anh đã yêu cô và muốn cưới cô, anh tự nhủ như thế không phải là giả vờ hay là do quy ước xã hội. Anh nợ cô nên phải cố gắng để mọi thứ tốt đẹp trở lại, để làm một người đàn ông bình thường, có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc với một người phụ nữ tuyệt vời. Anh phải thực hiện điều đó đến cùng.
Anh băng qua đường vành đai, chú ý hết sức, và khi ấy ban nhạc cũng chuyển tông sang nhịp bước nhanh nghe như điệu polka. Anh cảm thấy tâm hồn mình như bay bổng với giai điệu ấy khi bước đi nhẹ nhàng lên đường Mariahilfer Strasse. Tiếng nhạc nhỏ dần phía sau, hòa lẫn với tiếng ồn của xe cộ, khi ban nhạc hành quân đi về phía các trại lính cũng là lúc họ hoàn thành bổn phận công dân, giải trí cho những người dân thành Vienna trong hơn một tiếng. Lysander cảm thấy mặt trời đang sưởi ấm đôi vai mình. Những cảm xúc rất lạ lùng cùng lúc tụ lại tấn công anh - tự hào vì những gì anh đã làm được cho bản thân, tự tìm phương thuốc cho riêng mình, thích thú rảo bước trên những con phố quen thuộc của thành phố ngoại quốc này. Trong một thoáng dễ chịu, anh thấy một nỗi u sầu thú vị mỏng manh khi xa rời Blanche, và cả đôi mắt tinh nhanh, thông minh của cô.