CÓ LẼ TÔI ĐÃ NÓI QUÁ thẳng thừng chẳng suy nghĩ. Bất ngờ mẹ như bị chấn động - không nghi ngờ gì - như thể tính logic kinh hoàng nhưng không thể bác bỏ của chuyện này làm bà choáng váng chẳng kém gì tôi. Tôi rót cho bà một ly brandy nữa và bảo bà thuật lại mọi chuyện, thật rõ ràng. Bắt đầu từ cuộc gặp gỡ đầu tiên với Vandenbrook ở Văn phòng Chiến tranh tháng Chín năm 1914, và những lần liên hệ sau đó khi Quỹ Chiến tranh Tòa thị chính Claverleigh bắt đầu phát sinh những lượng tiền rất lớn. Hắn đến Claverleigh lần đầu vào đầu năm 1915 ngay sau khi vào làm ở Ban Hậu cần.
“Tại sao hắn không chuyển công việc của Quỹ Chiến tranh sang cho người khác? Công việc ở ban cũng rất bận cơ mà”.
“Anh ta hỏi mẹ trao việc này cho anh ta được không, nếu có thể”, bà đáp. “Anh ta bảo mình rất ấn tượng với những gì mẹ đang làm. Anh ta cho rằng để người khác lo chuyện này sẽ bất lợi. Thế nên mẹ đồng ý ngay, không suy nghĩ gì. Mẹ rất hạnh phúc - mọi chuyện tiến triển rất tốt - anh ta thực sự hiệu quả đấy. Thực ra mẹ nghĩ mẹ đã đề nghị gặp mặt khi anh ta đến Folkestone làm việc - chỉ là để thuận tiện cho anh ta hơn thôi. Khách sạn đầu tiên mẹ thuê là Sandwich. Mẹ đã tự lái xe sang đó”.
“Mẹ có gặp hắn tại London không?”
“Có. Gần chục lần - khi mẹ lên thành phố”. Bà ngừng lại. “Mẹ sẽ không phủ nhận mẹ thích những cuộc gặp này… Crickmay không được khỏe, và những đêm đi xa thế như một sự giải thoát nho nhỏ đối với mẹ. Dĩ nhiên, Đại úy Vandenbrook là một người quyến rũ, khôi hài. Mẹ cho rằng cả mẹ và anh ta đều thích thú… Sự tán tỉnh nhẹ nhàng. Nhẹ nhàng nhất. Nhưng chẳng có gì xảy ra hết. Không bao giờ. Kể cả sau khi Crickmay ra đi”.
“Con hoàn toàn hiểu”, tôi nói, “Con tin mẹ. Con chỉ đang cố nhìn nhận mọi thứ theo quan điểm của mình”.
“Tất nhiên, đó là vì mẹ là người Áo”, bà nói thẳng thừng, gần như thất vọng. “Mẹ chỉ vừa nhận ra - đó là chìa khóa. Đó là lí do tại sao họ sẽ nghi ngờ mẹ. Ngay lập tức”. Anh cảm thấy sự thất vọng vây bủa lấy bà, gần như về mặt thể chất, đôi vai của bà chùng xuống. “Khi họ xâu chuỗi chuyện của mẹ với anh ta… Một người phụ nữ Áo”.
“Con cũng có nửa dòng máu Áo này, mẹ nhớ không”, tôi đáp, lo lắng. “Mọi thứ quá khéo léo, quá nhanh…”.
“Con định sẽ làm gì?”
“Chưa làm gì hết ạ - con phải điều tra thêm chút nữa”.
“Thế còn mẹ?
“Cứ tiếp tục như chẳng có chuyện gì xảy ra”.
Bà đứng dậy, trên khuôn mặt hiện lên sự hồi hộp mới. Dường như bà lại trở về với vẻ phiền muộn mà tôi thường thấy.
“Con đã kể về Vandenbrook và những gì con phát hiện được cho ai nghe chưa?”
“Chưa kể với ai mẹ ạ. Con không muốn tất cả bọn họ nhúng tay vào. Con sẽ phải cẩn thận với những gì mình nói”.
Bà lại bước đến chỗ cửa sổ - ngoài kia trời đã tối sầm. Tôi có thể nghe thấy tiếng mưa rơi trên kính lanh canh.
“Chính con đang tự khiến mọi việc tồi tệ hơn nếu không nói chuyện này với ai”, bà nói, lặng lẽ và kiên định. “Đúng không?”
“Chuyện này phức tạp lắm. Rất phức tạp. Con không muốn mẹ dính líu vào đống hỗn độn này. Tôi đáp. Thế nên con mới cần thêm chút thời gian”.
Bà quay lại, hai cánh tay vươn ra như thể bà muốn ôm chặt tôi vào lòng. Tôi bèn bước đến và bà ôm tôi thật chặt.
“Mẹ sẽ không để con bị chết chìm vì chuyện này đâu”, bà dịu dàng nói. “Sẽ không để con bị cuốn vào đâu”.
“Mẹ - thôi mà mẹ - đừng bi kịch hóa. Sẽ chẳng ai bị “chết chìm”. Mẹ chẳng làm gì cả - thế nên đừng suy nghĩ về nó. Dù ai đang tống tiền Vandenbrook, hắn cũng là kẻ rất thông minh. Nhưng con sẽ tìm ra cách, mẹ đừng lo. Dù cho hắn có thông minh hơn con”.
“Me hi vong thế”. Bà xiết chặt đôi vai tôi. Tôi thích được mẹ ôm chặt trong vòng tay. Hai mẹ con đã không hề ôm nhau kể từ khi cha tôi qua đời. Tôi hôn lên trán bà.
“Mẹ đừng lo. Con sẽ tóm được hắn”.
Tôi hi vọng giọng mình nghe tự tin vì thực ra tôi chẳng tự tin gì hết. Tôi biết ngay sau khi kể chuyện Vandenbrook cho Munro và Massinger, mọi thứ sẽ phơi bày ra rất nhanh và hủy hoại cũng rất nhanh - nào là quỹ, những cuộc gặp gỡ, các khách sạn và bữa tối. Trong cơn hoảng hốt, khi bắt đầu nghĩ về chuỗi sự kiện này, có thể tôi đã nghĩ đến hướng giải quyết khác. Điều đó nhắc nhở tôi.
“Tốt hơn là con nên đi”, tôi nói, khẽ đẩy bà ra. “Con chỉ cần một thứ thôi. Mẹ còn nhớ con đã cho mẹ lời vở nhạc kịch không. Tấm bìa có ảnh minh họa cô gái ấy, vở Andromeda và Perseus”.
“À, có”, bà đáp, tính hoài nghi châm biếm của bà có vẻ đã trở lại.
“Mẹ làm sao quên được? Người mẹ đứa cháu nội của mẹ hoàn toàn trần truồng”. Bà bước đến cửa ra vào, “Mẹ để nó trong phòng làm việc”. Bà ngừng lại. “Có tin gì về thằng bé không?”
“Lothar ạ? Nó khỏe, cô ấy bảo thế - đang sống với một gia đình ở Salzburg”.
“Lothar ở Salzburg. Thế còn mẹ nó?”
“Con tin rằng cô ấy về Anh rồi”, tôi nói, lảng tránh.
Bà nhìn tôi có vẻ hiểu và đi lấy lời vở nhạc kịch. Tôi liếc nhìn đồng hồ đeo tay - vẫn còn dư thời gian bắt chuyến tàu về London từ Lewes. Nhưng khi mẹ quay lại, tôi có thể thấy ngay bà đang bối rối một cách khác thường.
“Chuyện gì thế mẹ?” Tôi hỏi. “Có gì không ổn à?”
“Thật lạ lùng! Lời vở nhạc kịch của con - nó biến mất rồi”.
Ngồi trên chuyến tàu Lewes - London. Não bộ chạy như điên. Những ý nghĩ tràn đến như làn sóng. Văn phòng của bà là phòng làm việc trên tầng cao nhất, là nơi bà điều hành quỹ từ thiện. Có hai chiếc bàn cho các thư ký, hai giá sách bằng gỗ trắng có vài quyển sách cùng với một đống hồ sơ trên đó. Bà nói rất quả quyết rằng đã để cuốn nhạc kịch ở đó. Chúng tôi đã tìm kiếm - nhưng chẳng tìm được gì. Những quyển sách khác cũng mất nhưng tôi nói chuyện đó không quan trọng. Rốt cuộc thì đó chỉ là cuốn sách tôi tặng bà gần mười tám tháng trước rồi. Chuyện gì cũng có thể xảy ra với nó.
Khi viết những dòng này, người đàn ông đang ngồi trước mặt tôi đang đọc tiểu thuyết. Chốc chốc lại thò tay vào mũi, lôi ra mấy thứ từ trong hốc mũi xong lại đưa tay bỏ tọt mấy viên kẹo vào mồm. Thật ngạc nhiên với những bí mật cá nhân có thể để lộ khi ta nghĩ ta không bị theo dõi. Và thật ngạc nhiên với những bí mật chúng ta có thể tiết lộ khi biết mình bị theo dõi.
Quay về phòng tại Cung điện Trắng, tôi thấy một chứng thư nhỏ đang đợi mình. Một phong bì có danh sách bốn căn hộ nội thất đầy đủ, sẵn sàng cho thuê ngắn hạn, từ công ty cho thuê nhà, ở khu Strand và Charing Cross. Tôi rất vui trước viễn cảnh lại có một ngôi nhà của riêng mình rằng Hettie có thể sẽ ở cùng tôi tại đó, giấu tung tích và chẳng hề ngượng ngập. Thật ngạc nhiên là có bức điện tín khác của Massinger. Ông đề nghị một cuộc gặp ở phòng trà Mayfair bốn giờ chiều mai. Dãy phòng trà Skeffinton trên phố Mount.
Để sau đã. Tôi dành một tiếng cuối cùng ngồi uống whisky từ chai rượu để túi bên hông. Tôi viết ra một danh sách những cái tên theo rất nhiều hình dạng và kiểu xếp chữ khác nhau, nối lại bằng các đường gạch đứt và những mũi tên hai đầu, đánh ngoặc đơn vài cái tên và gạch dưới ba lần những cái tên khác. Khi làm xong bài tập vô nghĩa này, tôi vẫn thấy mình tự hỏi tại sao Massinger lại có thể muốn nói chuyện với tôi.