Chờ Mặt Trời Lên

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
55. Chung Cư Trevelyan House Số 3/12, Phố Surrey

❊ ❊ ❊

LYSANDER CHỌN CĂN HỘ THỨ HAI trong số bốn căn hộ. Một người đàn ông to béo, thở hổn hển của công ty cho thuê nhà dẫn anh đi xem. Căn hộ nằm trên tầng ba một khu chung cư tên là Trevelyan House trên phố Surrey, cách xa Strand; có một phòng ngủ, một phòng khách nhỏ, một phòng tắm hiện đại và một bếp. Gọi là bếp nhưng nó cũng chỉ có một cái tủ với bồn rửa bát, một bếp điện hai vòng và hình ảnh hoang vắng của giếng trời xây bằng gạch gốm ở giữa. Thật ra, căn hộ nào cũng đáp ứng được mục đích sơ đẳng của anh thôi. Nhưng một điều gì đó mới mẻ ở những tấm rèm cửa, thảm trải sàn và đồ nội thất khiến khu chung cư số 3/12 lập tức trở nên lí tưởng - không có mép vải dính đầy dầu mỡ, không có những tấm vải bị ố mòn do lửa hay thuốc lá trên bệ lò sưởi. Anh cảm thấy tất cả những gì mình cần bây giờ là một thứ sáng sủa và mang màu sắc nguyên thủy - một bức họa, hai chiếc chụp đèn mới, vài tấm đệm sô pha - để căn hộ này ghi đậm dấu ấn của anh, không phải của tất cả mọi người.

Anh kí hợp đồng thuê nhà, trả trước tiền thuê một tháng và được trao hai bộ chìa khóa. Anh đã mua đồ vải lanh và đồ gia dụng từ cửa hàng ở Chandoes Place, sẽ thuê người phục vụ mang ngay đến Trevelyan House. Theo tính toán, anh có thể đi bộ đến nhà phụ trong vòng chưa đầy mười phút - thêm một phần thưởng bất ngờ nữa cho “tổ uyên ương” của anh và Hettie. Anh cảm thấy sự háo hức dâng đầy trước viễn cảnh được gặp lại cô - một lần nữa được cùng cô trên giường- những hứa hẹn khoái cảm nhục dục bất tận có thể bẻ gẫy hết mọi nguyên tắc anh tự đặt ra cho bản thân. Hettie - Venora bây giờ là phụ nữ đã có chồng; hơn thế nữa, chồng mới của cô ấy là kẻ nóng tính và hay ghen. Hoff và Lasry: hai người đàn ông với tính khí nóng nảy, vô lí ngay cả với những điều nhỏ nhặt nhất - hai kẻ này có cái gì cuốn hút Hettie nhỉ? Ngoài ra, cũng cần phải nói đến những phức tạp hiện thời trong chính cuộc đời Lysander khi bổ sung vào đó những tình tiết mới. “Những nụ hồng hãy nhanh tay góp nhặt”, Lysander nhủ thầm, như thể câu châm ngôn cũ này có thể giải quyết được mọi vấn đề nhạy cảm. Anh đã có nhà mới, và quan trọng hơn hết, chỉ mình anh biết địa chỉ của nó.

Dãy phòng trà Skeffington trên phố Mount kiêu hãnh với sự quý phái, phong nhã, và chắc hẳn sẽ phải mất nhiều công sức lắm mới đạt được như thế. Lysander nhận thấy điều này khi bước vào trong. Những rèm đăng ten gia công tinh tế, như một tấm mành bảo vệ khách uống trà khỏi những người qua đường tò mò, cái tên kể từ khi quán thành lập được viết bằng thủy tinh đen trong một tấm khắc đồng màu trắng bóng loáng. Những hoa văn vòng xoắn trang trí cuốn chặt và dừng lại ở chỗ các bông hoa nhỏ mạ vàng hay các cỏ bốn lá. Một cô phục vụ trên đầu đội chiếc mũ nhỏ, đeo tạp dề dài màu trắng đang lướt nhanh trên mặt đường bên ngoài. Quán này chẳng giống nơi Massinger thường hay đến chút nào.

Bên trong là một căn phòng đơn dài, được thắp sáng bằng những chùm đèn pha lê, áp sát ba bức tường là những chiếc trường kỉ nhung màu nâu sẫm hình bán nguyệt. Hai dãy bàn sáng bóng với những chiếc khăn ăn xếp gọn gàng. Một chậu hoa đặt ở giữa chiếm toàn bộ không gian còn lại. Tiếng dao nĩa bạc trên bát đĩa sành khẽ kêu leng keng và tiếng trò chuyện kín đáo rì rầm chào đón anh. Lysander cảm thấy như đang vào một thư viện, tránh những tiếng ồn không cần thiết - những bước chân nhẹ nhàng, lịch sự, những tiếng ho và hắt hơi cũng giảm cường độ, không hề có tiếng cười.

Một người phụ nữ nghiêm trang đeo kính kẹp mũi tra tên của Massinger trong sổ cái. Bà gọi một cô hầu phòng đến dẫn anh đi ngang qua phòng, tới một trường kỉ trong góc. Massinger ngồi đó, đang hút thuốc, mặc bộ vest buổi sáng, chỉ có vậy, và đang đọc báo. Ông ngước nhìn Lysander và không hề mỉm cười chào anh, ông gần như chỉ giơ tờ báo lên chỉ vào một đề mục. “Sân cricket English County sẽ bị phá bỏ vào năm 1916”.

“Làm ăn ế ẩm quá mà”, Massinger nói. “Chuyện này dẫn chúng ta đến đâu thế? Sự kinh hoàng”.

Lysander đồng tình, ngồi xuống và gọi một ấm cà phê - anh cảm thấy không thích uống trà; đó không phải là thứ đồ uống để chia sẻ với một người như Massinger.

“Ông muốn gặp tôi có chuyện gì thế?” anh hỏi khi Massinger dụi tắt điếu thuốc - mạnh đến ngạc nhiên - vào gạt tàn, làn khói phả ra từ mũi ông

“Không phải tôi đâu, Rief”, ông nói, nhìn lên và ra hiệu. “Cô ta cơ”. Florence Duchesne bước đến, như thể bà ta vừa từ dưới đất chui lên.

Lysander thấy mình lảo đảo do nỗi sợ hãi theo bản năng gây chấn động. Ngay lập tức, anh tin chắc rằng bà ta sẽ lại rút súng ra và bắn anh. Anh nhìn bà ta chằm chằm - vẫn là Florence Duchesne nhưng trông khác với người anh đã gặp lần cuối ở tàu hơi nước trên hồ Lac Léman. Không còn bộ đồ tang màu đen và chiếc khăn voan. Trên mặt vẫn đánh phấn, bờ môi vẫn tô son và bà đang mặc “bộ đồ dạo phố” màu đỏ tía, áo vest cắt ngắn, váy bó sát và quàng chiếc khăn chéo nhỏ trên cổ áo choàng lụa. Chiếc mũ bê rê nhưng đội lệch trên đầu có màu đỏ tía thẫm hơn màu tía trên bộ đồ. Như là người em gái song sinh sành điệu của bà Duchesne, không phải người góa phụ u sầu sống cùng ông anh làm giám đốc bưu điện tại Geneve.

Bà ta lướt vào bên trong chiếc trường kỉ và ngồi cạnh anh, bất chấp bản thân không muốn, anh vẫn thấy nao núng.

“Tôi phải gặp anh, Rief”, bà ta nói bằng tiếng Pháp, “để giải thích và dĩ nhiên, là để xin lỗi”.

Lysander nhìn bà ta, rồi nhìn Massinger, rồi lại nhìn bà ta. Anh hoàn toàn mất phương hướng, không thể nghĩ nổi nên nói gì. Đúng lúc này, Massinger đứng lên, khiến cả hai cùng bối rối.

“Tôi sẽ để hai người nói chuyện. Tôi sẽ gặp cô sau. Tạm biệt, Rief”. Lysander nhìn ông ta đi qua phòng lấy mũ - anh nghĩ ông ta giống như một tay trợ lý cửa hàng hợm hĩnh. Anh quay lại phía Florence Duchesne.

“Chuyện này rất, rất mới mẻ đối với tôi”, anh chậm rãi nói, “Ngồi đây với người đã từng bắn tôi ba phát đạn. Rất lạ lùng. Tôi cho rằng bà đã cố giết chết tôi”.

“À, phải rồi. Nhưng anh phải hiểu rằng tôi đã tin anh đang làm việc cho Glockner. Và tôi cũng tin rằng anh đã giết Glockner. Và khi anh nói dối tôi về đoạn văn bản nguồn - dường như đó là đầu mối cuối cùng. Massinger đã ra lệnh cho tôi không được phép mạo hiểm - ông ấy nói rằng thậm chí có khả năng anh là tên phản bội. Liệu tôi có thể cứ để anh bước lên Evian rồi biến mất không? Đặc biệt là với tất cả những nghi ngờ như thế - đó là nghĩa vụ của tôi”.

“Không, không. Bà hoàn toàn đúng”. Sự mỉa mai trong giọng nói khiến câu nói trở nên khắc nghiệt bất thường giống cái giọng the thé, khàn khàn khó chịu của Massinger, Anh nhớ lại sai lầm do vốn tiếng Pháp ngu xuẩn của Massinger gây ra. Bà ta cúi đầu.

“Dẫu vậy…”. Bà cảm thấy không đủ can đảm nói hết câu.

“Tôi tự hỏi liệu ở đây có phục vụ rượu không nhỉ?” anh hỏi, lối nói hơi hoa mĩ. “Có lẽ là không quá tầm thường. Tôi cần một đồ uống mạnh, thưa bà. Tôi chắc là bà hiểu”.

“Chúng ta có thể đến một khách sạn, nếu anh muốn. Tôi rất muốn nói với anh một chuyện quan trọng”.

Họ thanh toán tiền rồi đi. Ra đến cửa phòng trà, bà lấy lại một chiếc áo choàng lông chuột nhuộm đen, có khuy cài ở hông. Lysander lịch sự giúp bà khoác áo, anh ngửi thấy mùi nước hoa hăng nồng. Anh nhớ lại bữa tối của họ trên hàng hiên quán rượu Bastions tại Geneve, cách anh nhận ra điều đó - nghĩ về nó một cách không bình thường - nhưng bây giờ anh nhận ra đó là dấu hiệu của một người đàn bà đích thực. Một đầu mối nhỏ. Anh liếc nhìn bà khi họ lặng lẽ đi bộ dọc theo con đường thẳng đến khách sạn Connaught.

Họ tìm được chỗ ngồi trong phòng chờ chung. Lysander gọi một chai whisky pha soda cho mình và chai Dubonner cho bà. Đồ uống khiến anh bình tĩnh lại, cảm thấy không còn hoảng hốt. Anh nghĩ thật ngạc nhiên khi người ta có thể bình tĩnh nhanh đến thế trước những tình huống lạ lùng nhất - mình đang ngồi đây uống với một người đàn bà đã cố ám sát minh. Anh nhìn bà qua bàn và để ý thấy mình không còn giận dữ, không chút phẫn nộ. Tất cả những gì anh thấy là một người phụ nữ quyến rũ trong bộ đồ hợp mốt.

“Bà đang làm gì ở London thế?” anh hỏi.

“Massinger đã kéo tôi ra khỏi Geneve. Với tôi, công việc kia đang trở nên quá nguy hiểm”.

Bà giải thích. Mối liên hệ của bà ta ở lãnh sự quán Đức - “người đàn ông với những lá thư đáng xấu hổ” - đã bị bắt và bị trục xuất về Đức. Sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi hắn khai tên bà ra. “Thế nên Massinger mới kéo tôi ra, thật nhanh”.

“Tôi cho rằng bà không phải là góa phụ”.

“Không. Nhưng tôi đảm bảo với anh đó là lớp ngụy trang hoàn hảo nhất đấy. Thực ra tôi còn chưa kết hôn nữa”.

“Thế còn anh trai bà?”

“Đúng anh ấy thật sự là anh trai tôi làm giám đốc bưu điện tại Geneve”. Bà mỉm cười. “Chuyện đó không dối trá một chút nào”.

Nụ cười ấy khiến anh nguôi giận, và anh thấy mình không còn tỉnh táo trước vẻ đẹp của bà - cái mũi cong mạnh mẽ, đôi mắt xanh trong veo, cái hõm sâu tối đen trên cổ giữa hai xương đòn. Anh cho rằng mình có thể tha thứ cho bà. Thực ra chuyện đó rất dễ dàng - thật buồn cười làm sao.

“Anh khỏe không?” bà hỏi. “Ý tôi là sau khi bị bắn?”

“Tôi mang bảy vết sẹo để nhớ đến bà”, anh nói, cho bà thấy vết sẹo trên mu bàn tay. “Chân tôi thi thoảng lại trở nên cứng nhắc”, anh vỗ vào bên hông trái. Ngoài ra thì tôi hoàn toàn khỏe. Kì diệu thật”.

“Thật may khi tôi là một tay súng tồi”, bà nói, mỉm cười đầy nuối tiếc. “Tôi chỉ có thể nói là một lần nữa xin lỗi anh. Hãy tưởng tượng tôi đã cảm thấy hối tiếc ra sao suốt thời gian đó. Xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi anh”.

Lysander nhún vai. “Chuyện qua rồi. Tôi vẫn sống. Bà cũng đã đến London này rồi”. Anh nâng ly lên. “Tôi không phải người khôi hài - mặc kệ mọi chuyện đi, tôi rất vui được gặp lại bà”.

Dường như cuối cùng cũng thấy thoải mái - vì lời xin lỗi đã được chấp nhận, bà lên tiếng: “Anh vẫn còn nhớ tôi thích uống Dubonnet”, bà nói.

Họ nhìn thẳng vào mắt nhau.

“Bà thích uống Dubonnet và không thích sâm banh”.

“Và anh đã từng là một diễn viên nổi tiếng”.

“Một diễn viên, chắc chắn rồi… Bà bảo là có chuyện quan trọng muốn nói với tôi mà”.

Lúc này bà ta trở lại vẻ nghiêm túc.

“Liên lạc của tôi tại lãnh sự quán đã kể tôi nghe một chi tiết thú vị - tôi ép hắn phải kể cho tôi những chi tiết đó - trước khi hắn bị bắt và bị trục xuất. Có những khoản tiền đang được trả cho người đã gửi thư cho Glockner. Rất nhiều tiền được chuyển qua Thụy Sĩ”.

“Tôi đã hình dung tiền là lí do mà. Có tên không?”

“Không”.

“Bà có chắc không?”

“Hắn chỉ nói có thế. Nhưng tiền được gửi đi rất nhiều. Hơn hai trăm nghìn bảng rồi. Dường như nhiều tiền thế mà chỉ gửi cho một người. Tôi thì nghĩ phải có một nhóm người. Có thể là hai, hoặc ba…”.

Lysander không ngạc nhiên trước lời khẳng định này, nhưng anh giả vờ lúng túng - nhíu mày, gõ gõ ngón tay.

“Bà đã kể chuyện này cho ai khác nghe chưa?”

“Chưa. Tôi muốn anh là người biết đầu tiên”.

“Không kể cho Massinger à?”

“Tôi nghĩ với cái chết của Glockner, ông ta cho rằng vụ này đã khép lại”.

“Bà có thể giữ bí mật chuyện này một thời gian không? Như thế sẽ giúp tôi”.

“Dĩ nhiên”. Bà lại mỉm cười. “Rất hân hạnh được phục vụ - như người ta thường nói”.

Anh chỉnh lại tư thế ngồi và vắt chéo chân.

“Bây giờ bà có định ở lại London không?”

“Không”, bà đáp. “Massinger muốn đưa tôi sang Luxembourg để ngồi đếm các đoàn tàu quân sự. Ông ta muốn tôi trở thành người bạn đời đặc biệt của một giám đốc nhà ga cũ.

“Lại một bà quả phụ Ducheste nữa à?”

“Rất hiệu quả đấy - bởi mình dễ dàng được tôn trọng. Người ta sẽ luôn giữ khoảng cách với mình. Chẳng ai muốn gây rắc rối với một người đang tận cùng đau khổ”.

“Tại sao bà lại làm thế?”

“Thế anh thì sao?” Bà chẳng buồn nghe anh trả lời. “Massinger trả cho tôi rất hậu”, bà nói, đơn giản. “Tôi quý tiền bởi vì có lúc trong đời tôi đã chẳng có xu nào. Tay trắng hoàn toàn. Và cuộc sống chẳng hề dễ dàng…”. Bà đặt ly xuống và xoay tới xoay lui trên cái lót cốc. Hai người im lặng một lúc.

“Làm thế nào anh quen được Massinger?“bà hỏi, mắt vẫn nhìn xuống

“Khó khăn lắm. Ông ấy đúng là một lão khó nhằn”.

Bây giờ bà nhìn thẳng vào mắt anh.

“Tôi thấy rất khó có thể hoàn toàn tin tưởng ông ấy. Ông ấy cứ đổi ý xoành xoạch”.

Lysander tự hỏi đây có phải một lời cảnh báo nhẹ nhàng không. Anh quyết định giữ thái độ trung lập.

“Massinger lo lắng về công việc và địa vị của ông ấy. Họ muốn chấm dứt công việc tại Geneve và Thụy Sĩ. Tập trung vào Hà Lan”.

“Tôi sắp đi Luxembourg qua Hà Lan. Tôi phải gặp một người tên Munro”.

“Munro hoạt động ở Hà Lan - tôi nghĩ vậy. Sẽ có sự cạnh tranh giữa hai người đó, chẳng tránh được”.

“Lẽ ra tôi đã có thể rất dễ dàng đến Luxembourg từ Thụy Sĩ. Anh có nghĩ điều đó quan trọng không?”

“Tôi không biết”, anh thành thật đáp. Anh ngẫm nghĩ, lẽ ra họ không nên nói chuyện với nhau thế này. Nhưng anh cảm thấy những mối nghi ngờ không ngớt của bà giống hệt với anh. Mày cứ nghĩ mày đã nắm chắc những chi tiết quan trọng, những điều chắc chắn, nhưng rồi chúng biến mất, chẳng còn lại gì nữa.

“Tôi cũng giống hệt bà”, anh nói. “Làm theo những chỉ dẫn. Cố gắng suy tính trước. Nhận thức những vấn đề tiềm năng. Cố gắng không thất bại”. Anh mỉm cười. “À mà xin chúc bà may mắn. Có lẽ chúng ta nên về thôi”. Cả hai cùng đứng dậy. Bà rút ra một tấm danh thiếp từ trong túi và trao cho anh.

“Tôi mong được gặp lại anh tại London trong vài ngày tới”, bà nói, “Rất vui được gặp anh. Tôi còn nhớ bữa tối của chúng ta tại Geneve - một khoảnh khắc khó quên”.

Anh nhìn tấm danh thiếp - do khách sạn bà đang ở cung cấp. Trên tấm thiệp đề khách sạn Bailey trên đường Gloucester. Có cả số điện thoại.

“Tôi sẽ gọi cho bà”, anh nói, không chắc hiểu được lí do tại sao - hay thậm chí là liều - anh có cố gắng gọi lại Florence Duchesne lần nữa không. Nhưng anh lại không muốn đây là buổi chia tay cuối cùng. Nên anh vẫn hi vọng rằng ít nhất họ sẽ gặp lại nhau.

Ở cửa ra vào, họ từ biệt nhau. Bà nói sẽ đi thăm thú một chút vì đây là lần đầu tiên bà đến London. Họ bắt tay nhau và Lysander cảm thấy bàn tay bà xiết chặt bàn tay anh như muốn bóp nát, đôi mắt bà nhìn thẳng vào anh. Có phải một lời cảnh cáo không - anh có phải thận trọng không? Hay đây chỉ là lời ám chỉ tinh tế rằng bà muốn anh gọi cho bà và muốn được gặp lại anh? Lysander nhìn bà bước đi, áo khoác lông chuột cắt ngắn bay phần phật. Anh suy tính về những mốc tương lai khác nhau, những quá trình hành động, về cách anh hình dung Florence Duchesne ngà ngà say sâm banh, khỏa thân, phá lên cười… dường như nó không còn là ảo ảnh nữa. Anh vẫy một chiếc taxi quay về nhà phụ.

Anh biết mình sẽ phải thức đêm làm việc. Với sự trợ giúp từ lá thư nhiệm màu của CIGS, Tremlett đã xoay xở lấy được các yêu cầu di chuyển của Osborne-Way và các chi phí ông ta đã nộp lên Văn phòng Chiến tranh. Điều khoản đi kèm đó là cậu ta chỉ được phép mang thông tin này ra khỏi tòa nhà trong một đêm thôi.

Tremlett ném phịch cuốn sổ cái nặng nề xuống bàn.

“Đại úy Vandenbrook có ở trong phòng không?” Lysander hỏi.

“Đại úy đang ở Folkestone, thưa ngài. Sáng mai sẽ quay về”.

Thật là tốt, Lysander nghĩ. Vandenbrook vẫn đang làm việc như bình thường. “Tốt rồi”, anh nói với Tremlett. “Mang cho tôi Nhật ký Chiến tranh và các bản tóm tắt những yêu cầu vận chuyển trên đất liền”.

Anh mất thêm hai tiếng để xem qua các yêu cầu của Osborne-Way. Đối chiếu với những chuyến đi của Vandenbrook, anh không phát hiện sự chồng chéo. Thực ra Osborne-Way đã đi Pháp ít nhất hai lần, Lysander chắc chắn rằng đó là khi những lá thư của Glockner được để lại ở hai khách sạn Sandwich và Deal. Tuy nhiên, có một điều rõ ràng - Osborne-Way biết cách hưởng thụ tại Pháp. Những đêm ở lại các nhà hàng đắt tiền tại Amiens; đợt nghỉ cuối tuần tại Paris ở khách sạn Maurice - để làm gì nhỉ? - mọi chi phí đều được tính cho Văn phòng Chiến tranh và người đóng thuế tại Anh. Lysander tức tối tự hỏi mình có nên tiến hành trò trả thù vặt, khiến Osborne-Way bị cấp trên nhòm ngó đến sự tiêu pha phung phí của ông ta hay không. Chỉ cần một lời nói kín đáo có thể mang lại hiệu quả…

Anh chợt nghe thấy những giọng nói to, những bước chân rầm rập trên hành lang bên ngoài phòng 205.

Tremlet gõ cửa phòng và ló đầu vào. Miếng băng đeo mắt của cậu ta hơi lệch.

“Chúng tôi đang lên sân thượng thưa ngài. Zeppelin đang đến!”

Lysander lấy chiếc áo choàng treo trên móc sau cửa, theo cậu ta ra ngoài, chạy lên cầu thang dẫn lên sân thượng nhà phụ. Một đám người đang tụ tập trên khu vực bằng phẳng của thang máy, nhìn chằm chằm về phía tây - nơi những chùm đèn pha dài, trong suốt của máy bay vẫn đang quét qua bầu trời đêm, tìm kiếm khinh khí cầu. Có tiếng đạn phòng không bập bùng ở phía xa, cứ thỉnh thoảng những quả pháo sáng bằng mảnh đạn lại bắn lên trời.

Lysander nhìn ra thành phố ban đêm, vài tòa nhà bảy tầng vươn cao từ các con phố. Trước mắt anh tất cả như đang trong thời bình. Những chiếc xe con và xe buýt, những chùm đèn pha rực sáng, những biển hiệu cửa hàng chiếu sáng dưới những tấm vải bạt, những tấm ruy băng trên các ngọn đèn đường tỏa ánh sáng rực rỡ như ngọc trai. Đây đó có những khu vực tuy chìm trong bóng tối nhưng Lysander hình dung đó như lời gọi mời chiếc khinh khí cầu ở đâu đó trên cao kia. Tôi nên thả bom ở đâu? Ở đây à? Hay ở đằng kia? Như thể đọc được những ý nghĩ của anh, chùm đèn rọi đầu tiên đã tìm thấy chiếc Zeppelin và thêm chùm đèn thứ hai nữa. Ý nghĩ đầu tiên của Lysander đó là, Chúa ơi, nó to quá - khổng lồ - và có một vẻ đẹp thật bình yên. Nó đang di chuyển ở độ cao rất kinh khủng, điềm tĩnh tiến về phía trước - thật nhanh làm sao, anh không thể đoán được. Tiếng ầm ĩ ngày càng tăng từ các khẩu pháo bắn lên át đi tiếng động cơ của khí cầu, khiến nó đang trôi nổi cô độc trên đầu họ, bay bằng sức gió ban đêm hơn là bằng các động cơ.

Một khẩu pháo khác, gần hơn, bắt đầu nhả đạn - Bùm! Bùm! Bùm!

“Đó là khẩu pháo ở Green Park”, Tremlett ghé vào tai anh nói, rồi hét to lên vào bóng tối. “Hạ gục chúng nó đi, anh em ơi!”

Thêm nhiều tiếng reo hò của những người khác trên sân thượng khi Lysander nhìn lên chiếc Zeppelin. Phải thừa nhận anh thấy kinh hoàng trước vẻ đẹp chết người của cỗ máy khổng lồ bằng bạc biết bay này, giữa những chùm đèn rọi ngang dọc. Bây giờ có vẻ như nó ngay trên đỉnh đầu anh.

“Cao hơn hai nghìn mét”, Tremlett nói. “Mức tối thiểu đấy”.

“Các máy bay của chúng ta đâu? Tại sao chúng ta không thể bắn hạ nó?”

“Thưa ngài, ngài có biết phải mất bao nhiêu lâu thì máy bay của ta mới leo lên được độ cao đó không?”

“Không, tôi chẳng biết gì cả”.

“Khoảng bốn mươi phút. Cả một hành trình dài đấy. Còn không máy bay sẽ phải bỏ hết tất cả chi tiết nặng đi và phải cố thêm ba trăm mét nữa. Dễ như ăn bánh”.

“Làm sao cậu biết tất cả chuyện này, Tremlett?”

“Em trai tôi đang chiến đấu trong Quân đoàn Không quân Hoàng gia. Đóng quân ở Hainault. Nó lúc nào cũng nói - ÔI! CHÓ CHẾT THẬT!…”

Quả bom đầu tiên đã phát nổ, cách con đường đắp không xa. Một quầng lửa dữ dội bùng lên, tiếp theo là đợt chấn động và tiếng đổ vỡ răng rắc của vụ nổ.

“Nơi đó là Strand đấy”, Tremlett la hét. “Mẹ kiếp”,

Rồi vang lên những tiếng nổ ngắn - Ùm! Ùm! Ùm! - khi những trái bom nhanh chóng rơi xuống, quả này tiếp quả khác. Tremlet gào lên:

“Chúng đang tiến về phía mấy cái nhà hát đấy! Mẹ kiếp Ada! Đó là Drury Lane! Đó là Aldwych!”

Lysander cảm thấy cơn buồn nôn dâng tràn cổ họng. Blanche đang diễn kịch ở Lyceum, lạy Chúa tôi. Nhà hát nằm trên đường Wellington, góc phố Aldwych. Anh giơ tay nhìn đồng hồ - vừa đúng lúc sắp nghỉ giải lao. Anh nhìn lên thấy chiếc Zeppelin chậm rãi quay tròn, thẳng tiến về phía bắc, thẳng tiến đến quán trọ Lincoln. Có thêm nhiều tiếng bom rơi xuống khuất xa tầm nhìn.

“Cháy lớn ở đằng kia!” Tremlett gào lên. “Chúng chiếm được Lyceum rồi!”

Lysander quay người lao qua cửa, chạy hết tốc lực xuống cầu thang. Anh phóng ra con đường đắp - tiếng còi xe cảnh sát, còi xe chữa cháy, những tiếng huýt còi, quát tháo, tất cả vọng xuống từ con phố Strand. Và từ phía xa xa, âm thanh của nhiều quả bom nữa rơi xuống. Anh chạy lên đường Carting Lane, qua khách sạn Cecil đến phố Strand. Đến đây anh có thể thấy những ngọn lửa đang bốc cao như những tòa nhà, một chùm sáng màu cam lạ thường chiếu sáng các mặt tiền trên phố Aldwych và Wellington. Anh nghĩ đó là khí gas, đường ống dẫn khí chính đã bị nổ. Mọi người đổ xô dọc theo phố Strand về phía nguồn cháy. Anh đi xuyên qua dòng người và chạy vội lên con dốc phố Exeter. Một đám mây bụi dày đang lơ lửng trên phố, toàn bộ đèn đường đã tắt ngóm. Anh rẽ vào góc phố thấy thủy tinh và gạch vỡ vương vãi trên đường, hố bom đầu tiên đang bốc khói nghi ngút. Ba cái xác nằm túm tụm một bên đường như những người vô gia cư đang say ngủ. Ở cuối phố lửa cháy dữ dội, anh chạy về phía đó. Anh có thể thấy đây là một bên nhà hát Lyceum, đường ống dẫn khí chính đang bốc lên ngọn lửa cao đến mười hai mét. Những tiếng còi, tiếng quát tháo, tiếng la hét. Một người phụ nữ mặc chiếc áo dài có đính những đĩa kim loại nhỏ xuất hiện từ trong bóng tối đi lướt qua anh, khóc thút thít, phần còn lại của cánh tay phải rách nát giật giật trên đôi vai. Một người đàn ông mặc bộ vest buổi tối nằm ngửa, hai cánh tay dang rộng không thể nhận diện được ông ta nữa.

Gần nửa bức tường hồi có mái đã đổ sập, con đường bị chắn bằng đống gạch vụn hỗn độn cao gần hai mét. Anh có thể nghe thấy tiếng phụ nữ đang gào thét, tiếng cảnh sát quát tháo trên phố Wellington: “Lùi lại! Lùi lại!”. Anh trèo lên đống gạch vụn nhưng bị trượt xuống khuỷu tay bị va đập mạnh. Anh lại cố gắng chạy về phía bắc phố Exeter, ở đấy ít nhất anh có thể trú chân tại các mặt tiền đối diện. Thủy tinh chiếu sáng, những mảnh vỡ màu cam - những đồ trang sức kim cương - sáng lấp lánh - mọi cửa sổ trên phố đều tắt đèn. Anh đang nghĩ đến Lyceum với những phòng thay đồ - là nơi cha anh đã từng diễn suốt những năm tám mươi. Có thể không phải trong giờ giải lao - Blanche sẽ an toàn hơn khi ở trên sân khấu - nhưng anh cũng chưa xem vở kịch đau buồn này nên không biết tìm cô ở đâu.

Anh trèo lên đống gạch đang đổ xuống. Ở trên cùng ngọn lửa gas sáng lóe hắt bóng anh nhìn to đùng đến kì quái lên mặt trước tòa nhà, rung rinh và nhấp nhô. Hố bom to khủng khiếp, sâu ba mét. Thêm nhiều xác chết và các mảnh xác chết nữa nằm rải rác xung quanh - quán rượu Cái chuông ở góc phố đang bốc cháy. Người ta đến quán rượu từ Lyceum vào giờ giải lao - quán đã hứng trọn một trái bom. Phía xa, anh thấy cảnh sát đang thiết lập một hàng rào ngăn những kẻ hiếu kì, kinh hãi tránh xa những đám lửa bay lên từ đường ống thông gió chính.

Anh nghe thấy những viên gạch đang rơi xuống đường, âm thanh khô khốc như tiếng trứng vỡ. Anh nhìn lên, vừa đúng lúc thấy một ô cửa sổ đang trượt ra ngoài và rơi xuống kéo theo cả một nửa mảng tường. Anh nhảy tránh sang một bên, ngã sõng soài xuống con dốc, kiệt sức. Những ngọn đèn nhấp nháy trước mặt khi anh cố lấy lại hơi thở. Anh cố gắng quỳ gối và thấy một bóng người cách vài thước bên kia con phố, vẫn đang đứng trong bóng tối, rõ ràng đang nhìn thẳng vào anh.

“Giúp tôi một tay, được không?” Lysander hét lên, thở khò khè.

Bóng người không nhúc nhích. Đó là một người đàn ông đội mũ, cổ áo khoác dựng đứng - không thể thấy được mặt vì đèn đường đã tắt hết. Ông ta đang đứng ngay góc phải phố Exeter - chỗ rẽ xuống phố Strand, nơi anh đã thấy có vài xác chết.

Lysander run rẩy đứng thẳng lên, lo sợ. Bóng người vẫn đứng nguyên tại chỗ, rõ ràng đang nhìn anh chằm chằm. Hắn ta bị làm sao thế nhỉ? Tại sao hắn chỉ đứng đó, nhìn trừng trừng mà chẳng làm gì? Ống dẫn khí chính lại lóe sáng và trong tích tắc ánh sáng bao trùm - bóng người giơ tay lên che mắt.

“Tao thấy mày rồi!” Lysander la hét - anh không thấy hắn nhưng giả vờ khiêu khích hắn. “Tao biết mày là ai! Tao thấy mày rồi!”

Bóng người quay lưng lại, chạy qua góc phố - và biến mất.

Chẳng cần đuổi theo, Lysander nghĩ, và hơn nữa anh phải tìm Blanche, Anh trèo lên dốc và trượt xuống mặt bên kia đống gạch, chạy lên cửa vào đằng sau nhà hát Lyceum. Một cảnh sát viên đang trú ẩn bên trong

“Những diễn viên! Tôi có một người bạn.”.

“Ngài không thể vào trong này. Mọi người xuống phố Strand rồi”.

Lysander nhận ra không còn đường nào đi qua phố Wellington, anh buộc phải quay lại con đường cũ. Anh thận trọng trèo lên bức tường gạch, thấy có nhiều cảnh sát và xe cứu thương đang thu gom các xác chết. An toàn rồi. Anh chạy qua họ xuống phố Strand thằng tiến về Aldwych. Có một đám đông đang ngày càng đông ở đây. Nhà hát Strand đối diện chẳng còn ai, các con phố đầy những người xem hát ăn mặc đẹp đi đi lại lại, hút thuốc và xúc động nói chuyện với nhau - những cái nơ con bướm, những chiếc lông chim, lụa là, đồ trang sức. Anh nhìn xung quanh mình. Các diễn viên đâu rồi?

“Lysander! Em không tin được!”

Đó là Blanche, một tay cầm tách cà phê, tay kia cầm điếu thuốc lá. Áo choàng của ai đó đang khoác hờ trên hai vai cô, như một chiếc áo choàng không tay.

Anh cảm thấy chùng lòng khi tìm thấy cô như thế này - bỗng dưng trở nên yếu mềm. Anh tiến lại và hôn lên má cô, nếm hương vị phấn hóa trang. Trong ánh sáng như sóng gợn của đường ống dẫn khí chính, trông cô thật kì cục trong bộ tóc giả màu trắng của thời nhiếp chính - một con chim lặn được vẽ lên đôi lông mày đen đậm, rất cong, một nốt ruồi xinh và đôi môi đỏ mọng

“Anh có bị kẹt trong vụ nổ không?”

Anh nhìn xuống người mình. Quần áo anh dính đầy bụi gạch, gối quần trái rách toạc, bay phần phật, dầu không đội mũ, một bên khuỷu tay còn đang chảy máu.

“Không, anh đang làm việc thì thấy những quả bom. Thế nên anh chạy đi tìm em. Anh rất lo…”.

“Ôi, Lysander của em”.

Họ ôm chầm lấy nhau, xiết chặt trong vòng tay nhau. Toàn bộ cơ thể cô đang run lên bần bật, run rẩy.

“Em không thể về nhà trong tình trạng thế này được”, anh nói, nhẹ nhàng, cầm lấy hai tay cô. “Về căn hộ của anh và tắm rửa đi đã. Uống cái gì đó thích hợp đó. Đi mất có hai phút thôi”.

ý câu lạc bộ đến quán bar Lỗ thứ 19. Ở đây có hai nhân viên đánh máy tuổi trung niên từ Swansea đến giúp giải quyết vấn đề hành chính của trại. Phương tiện liên lạc duy nhất là chiếc điện thoại nằm trên bàn trong một góc phòng. Ở góc kia, p
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William Boyd

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.