Chờ Mặt Trời Lên

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
37. Sĩ Quan Người Anh

❊ ❊ ❊

MUNRO VÀ LYSANDER ăn trưa tại quán Aire, mười hai dặm phía sau tiền tuyến. Lysander nghĩ ngoài việc thực khách trong nhà hàng này toàn là nam giới mặc quân phục, những trải nghiệm của vị giác và rượu vang đã trở nên ngon hơn nhiều so với năm 1912, cũng tại quán này. Họ ăn món gà hầm rượu vang đỏ tuyệt hảo, uống một bình Beaujolais, và được giới thiệu một bộ sưu tập mười hai miếng pho mát. Bữa ăn trọn vẹn với món bánh mứt và một chai brandy Calvados.

“Kẻ tử tù được đãi một bữa hậu hĩ”, Lysander nói.

“Tôi ngưỡng mộ khiếu hài hước hiểm ác của cậu đấy, Rief. Nhưng tôi phải nói rằng, chúng ta không cần điều đó, Cậu sẽ không phải trải qua bất kì rủi ro nào - dù là nhỏ nhất. Chúng ta sẽ đến một quân khu an toàn mới chỉ có ba thương vong vào tháng trước”.

Lời nói xoa dịu của Munro chẳng khiến Lysander yên tâm tí nào: một ca thương vong cũng là thương vong. Chỉ có một ca thương vong trong tháng này - và đó sẽ có thể là anh. Tuy vậy, người ta vẫn sẽ vỗ tay vì sự an toàn ngày càng tăng ở quân khu ấy.

Chiếc xe quân sự đưa họ đến vùng hậu phương ở cực nam của các phòng tuyến nước Anh, nơi Tập đoàn quân số 1 của lực lượng Viễn chinh Anh nằm tiếp giáp với Tập đoàn quân số 10 của Pháp. Họ đi qua thị trấn Bethune. Xe ngoặt vào đường cái, đi xuống những con đường nông thôn tới khi đến chỗ trú quân của Tiểu đoàn 2/10 Lính Hỏa mai Manchester Trung thành. Con đường đầy gỗ và các bó cành cây dẫn họ đến một thảo nguyên, bao quanh là các vườn táo và hàng dãy các lều chuông. Một căn bếp dã chiến khá lớn nằm ở một góc. Từ đồng cỏ lân cận vẳng ra những tiếng hò hét, chạm cốc, và tiếng đập mạnh vào quả bóng da cho thấy đang có một trận đấu bóng.

Lysander xuống xe thấy mình như cậu bé mới đến trường - háo hức, sợ hãi và hơi buồn nôn. Anh và Munro được chỉ đến chỗ Đại đội tiểu đoàn bộ trong ngôi nhà ở trang trại gần đó. Ở đây, Munro trao các công văn cho một sĩ quan quân đội có vẻ cáu kỉnh và lầm lì. Ông ta tận dụng thời gian đọc luôn nội dung tài liệu, rồi thở hổn hển như thể đang phải kiềm chế những lời tục tĩu.

“Do đích thân Haig kí”, ông nói, nhìn Lysander với một ánh thù địch nào đó. “Anh sẽ được cung cấp mọi thứ anh cần, Đại úy Rief. Anh chắc chắn phải là một người rất quan trọng”.

“Anh ta đấy”, Munro ngắt lời. “Điều cơ bản là mọi thứ phải được thực hiện để giúp đỡ đại úy ở mức tốt nhất có thể. Hiểu không, Thiếu tá?”

“Tôi hiểu và không hiểu”, viên thiếu tá đáp, gọn lỏn rồi đứng dậy. “Xin mời theo tôi”.

Phải, chính thế, Lysander nghĩ. Thế là xong: Munro đã đẩy mọi việc đi quá xa, như thể bị bỏ phiếu chống tại một câu lạc bộ - khuôn mặt của viên thiếu tá là một hình ảnh của sự trịch thượng, bề trên. Ông ta dẫn hai người dọc theo lối đi lát gạch đến một chuồng bò, nơi vài chiếc giường xếp được dựng lên, rồi chỉ vào một chiếc giường.

“Vứt đồ đạc của anh lên kia. Tôi sẽ chỉ định công vụ cho anh. Ăn tối lúc sáu giờ trong lều ăn chung”.

“Để ông ta cho tôi”, Munro nói, khi nhìn theo viên thiếu tá đang bỏ đi. “Tôi sẽ có một lời thì thầm nữa với anh chàng tuyệt vời của chúng ta”. Ông mỉm cười: “Dọa ông ta đến chết”.

Lysander nghĩ đôi khi có một người như Munro bên cạnh là một lợi thế. Dù sao đi nữa anh vẫn ngồi im lặng suốt bữa ăn trong lều ăn chung, không viên sĩ quan nào buồn kéo anh vào cuộc trò chuyện. Anh nghĩ do họ quá cẩn trọng chứ không phải coi thường anh. Có Chúa mới biết Munro đã nói gì, vậy nên anh cố gắng giải quyết hết đồ ăn, món thịt bò kho với bánh bao, bánh pudding hấp và sữa trứng. No nê, khó chịu nhưng cảm thấy sẽ nhục nhã hơn nếu không ăn hết đĩa đồ ăn của mình…

Ngay sau khi xong phận sự, anh quay về chiếc giường xếp trong chuồng bò và hút thuốc.

“Ngài Rief?”

Anh ngồi dậy. Một trung sĩ đứng ở ngưỡng cửa.

“Tôi là Trung sĩ Foley, thưa ngài”.

Họ đứng nghiêm chào nhau. Lysander vẫn cảm thấy không quen khi được gọi là “ngài”. Foley là một người thấp đậm với cái mũi hếch. Lysander đoán anh ta ba mươi tuổi, chất giọng vùng Lancashire nặng thế hóa ra lại thích hợp với khổ người cơ bắp của anh ta.

“Có một đội công binh đang lên. Chúng ta có thể đi theo họ”.

Họ chẳng chịu tha cho mình một giây nào cả, Lysander nghĩ. Anh nhanh chóng gói ghém vài món đồ cần thiết - một chai whisky, thuốc lá, đèn pin, la bàn, mấy tấm bản đồ, túi đồ nghề với hai quả lựu đạn, một khăn quàng cổ và mấy đôi tất dự phòng. Anh bỏ lại chiếc áo mưa - bây giờ đang là một đêm ấm áp, trời quang - và theo Foley ra ngoài. Bất ngờ cảm thấy những mối lo sợ đang khiến chân tay cứng ngắc, anh bèn tập trung hết sức vào việc thở. Bình tĩnh, bình tĩnh nào, anh tự nhủ, hãy nhớ rằng đây là một quân khu yên tĩnh - chiến tranh đang xảy ra ở nơi khác cơ - đó là lí do tại sao mày ở đây. Mày được hướng dẫn và đào tạo rồi, mày xem bản đồ rồi, mày được nhận những lời chỉ dẫn đơn giản rồi - giờ chỉ việc làm theo thôi.

Anh và Foley đi phía sau đội công binh, nặng nề trên một con đường đầy bùn, rẽ ngoặt vào một giao thông hào. Ban đầu còn sâu đến eo lưng, nhưng ngày càng sâu đến khi những công sự nổi mỗi bên thu hẹp bầu trời đêm thành một dải màu xám da cam.

Khi đến được các tuyến phòng thủ, Lysander bắt đầu thấm mệt. Foley dẫn anh vào hầm trú ẩn của các sĩ quan. Lysander tự giới thiệu mình với Đại úy Dodd, Tư lệnh đại đội - một người trông già hơn cái tuổi ba mươi với hàng râu rậm buông rủ, ẩm ướt. Và hai người trung úy còn rất trẻ - tên là Wiley và Gorlice-Law - Lysander đoán họ chưa đến hai mươi - giống những người lớp trưởng tại một trường trung học nội trú. Họ biết anh là ai, chắc tin tức đã truyền đến tận đây. Họ rất lịch sự và chào đón anh nồng nhiệt vừa đủ nhưng có thể thấy họ đang dò xét phù hiệu sĩ quan tham mưu của anh với vẻ nghi ngờ, như thể anh là vật truyền nhiễm theo cách nào đó. Được cấp cho một chiếc giường tầng, anh lấy chai whisky từ trong túi làm quà tặng cho hầm trú ẩn. Mỗi người đều uống một cốc nhỏ, bầu không khí trở nên bớt băng giá và dần suồng sã hơn.

Lysander điểm lại câu chuyện vỏ bọc của mình rằng anh đến đây từ “Quân đoàn” để do thám vùng đất trước mặt các con hào của Anh và Pháp, và nếu có thể, sẽ cố gắng xác định lực lượng binh lính Đức ở phía đối diện.

“Chúng đã đốt gần hết cỏ trước mặt hàng rào dây thép gai của chúng rồi”, Dodd bi quan nói. “Khó tiếp cận lắm”.

Lysander lấy ra bản đồ con hào ra, đề nghị ông xác định chính xác nơi chiến tuyến của Anh và Pháp giao nhau. Dodd chỉ tay vào đầu nhô ra hình chữ V đến tận vùng đất không người.

“Ở đó”, ông nói. “Nhưng chúng đã lấp hết bằng dây thép gai rồi. Anh không thể đi qua được đâu”.

“Hai phương trời cách xa thăm thẳm đấy”. Wiley nói, hài hước.

“Foley sẽ là người đưa anh ra ngoài”, Gorlice-Law nói. “Rõ ràng là cậu ấy thích đi tuần”. Cậu ta đang tưới mắm cá trống lên một chiếc bánh bích quy cứng rồi cắn say mê. Trông cậu nhai tóp tép như một thằng bé ở cửa hàng bán bánh kẹo trong trường. “Ngon tuyệt”, cậu nói, bổ sung thêm một lời bào chữa: “Tôi lúc nào cũng đói meo - chẳng hiểu nổi tại sao nữa”.

Dodd sai Wiley đến con hào trước phòng tuyến kiểm tra các phiên gác. Lysander rót thêm rượu whisky vào hai cốc.

“Họ nói đúng là bất hạnh khi sĩ quan tới phòng tuyến này lại đến từ Quân đoàn”, Dodd nhận xét, buồn bã. Trông ông ta đúng là chẳng vui vẻ tí nào.

“Ồ,ngày mai tôi cũng sẽ đi luôn mà”, Lysander đáp. “Ông sẽ chẳng nhớ tôi đâu”.

“Đúng là mọi chuyện đang tốt đẹp, nhưng anh vẫn phải đến đây, anh không thấy sao? Ngay đây, đến với chúng tôi”, Dodd nói, kiên nhẫn. “Vậy các anh đang lên kế hoạch tấn công kiểu gì thế?”.

“Nghe này, chỉ là do thám thôi mà”, Lysander muốn nói rằng anh thực ra chẳng phải là sĩ quan tham mưu gì hết, nên lời nguyền rủa ác độc sẽ chẳng liên quan gì. “Sẽ chẳng có chuyện gì đâu”.

“Dù gì thì anh cũng sẽ chẳng nói ra, đúng không? Gorlice-Law nói, vươn tay lấy thêm cái bánh nữa. “Bí mật chết người và tất cả những chuyện đó. Im lặng - Im lặng”.

“Uống thêm whisky đi nào”, Lysander nói.

Lysander ngủ chập chờn trên chiếc giường xếp cứng liên tục thức giấc vì tâm trí không ngừng quay cuồng lẫn những tiếng ngáy sâu và dài của Dodd. Anh nghe thấy những tiếng tuýt còi báo hiệu” bình minh lên. Bữa sáng với trà và bánh sandwich mứt được công vụ của Dodd mang đến. Foley tới và ngỏ ý đưa anh đi xem con hào tiền tuyến, để “nhìn qua” vùng đất không người.

Lysander thấy những con hào trên cánh phải giáp biên giới của lực lượng Viễn chinh Anh rất hẹp, sâu nhưng khô ráo và ở điều kiện tốt, với một tầng ván kê, một bục đứng bắn được ốp đá chắc chắn và một công sự hoàn thiện bằng các bao tải cát. Ngoài lính gác đang đứng trên các bục đứng bắn, những người lính khác đứng túm tụm trong các xó xỉnh và những cái hang giả nhỏ sâu lõm vào từ bức tường đối diện - họ đang ăn uống cạo râu và lau chùi đồ nghề của mình. Lysander thích thú khi thấy hầu hết bọn họ đang mặc quần đùi với những cái đầu gối sạm nắng - như thể họ đang trải qua một kì nghỉ hè lạ lùng nào đó - khi anh đi theo Foley dọc theo các bức tường che chiến hào đến một lỗ châu mai phủ lưới. Anh được trao cho một cái ống nhòm.

“Thế này sẽ an toàn trước các tay súng bắn tỉa”, Foley nói. “Anh có thể nhìn qua tấm lưới kia nhưng chúng không thể nhìn thấy anh”.

Lysander nâng ống nhòm nhìn ra khắp vùng đất không người, Bãi cỏ dài và đám ngũ cốc mọc tự nhiên như tô điểm cho những bến tàu hoen rỉ. Ở khoảng cách xa xa chính giữa, ngay trước mắt họ, là một tàn tích nhỏ - trông giống một đống đá vỡ vụn nằm lăn lóc - cách đó một quãng là ba cây đu rậm lá, nghiêng hẳn về một bên với mấy cành chính đã bị chặt. Khung cảnh thanh bình như ở thôn quê. Một làn gió nhẹ ấm áp đang thổi, khiến thảo nguyên xù xì trên mảnh đất không người này khẽ xao động dập dờn. Những cây cỏ cao và các cây chút chít uốn mình trước cơn gió nhẹ mơn man,

“Những con hào này dài bao nhiêu?” anh hỏi.

“Xa hai trăm thước từ đây. Anh không thấy được đâu. Bãi đất gồ lên ở chính giữa nên khó nhìn hết lắm”.

Lysander hiểu. Anh cũng hiểu rằng khối xây vỡ nát là những gì còn lại của một hầm mộ gia đình. Đây sẽ là điểm mốc của anh về đêm.

“Thế còn cái tàn tích kia?”

“Chúng đào một con hào ra đến đó làm điểm nghe lén nhưng chúng tôi đã đánh bom chỗ ấy một tháng trước. Chúng vẫn chưa quay lại”.

“Tôi cần một tầm nhìn tốt vào đêm nay, Trung sĩ. Có con mương thoát nước nào không?”

“Có một vài, nhưng đã bị chặn và cây cối che kín hết rồi. Anh có thấy khóm mấy cây liễu không - về bên phải ấy?”

Lysander xoay ống nhòm. “Có”.

“Đó là điểm bắt đầu của con mương sâu nhất. Nó chạy cắt ngang mặt trận của ta, rồi rẽ ngoặt vào hàng rào thép gai của quân Pháp”.

Lysander ghi chú qua loa trên bản đồ của mình - bây giờ anh ngày càng nhận rõ phương hướng - kèm theo một chiếc đèn pin nhỏ và cái la bàn. Anh sẽ chẳng sao đâu.

“Anh muốn ra ngoài vào lúc mấy giờ?” Foley hỏi. Lysander nhận ra lúc này không còn chữ “ngài” đi kèm nữa.

“Khi trời tối nhất. Hai hoặc ba giờ sáng”.

“Đêm nay rất ngắn đấy. Hạ chí vừa qua rồi”.

“Chúng ta sẽ không ra ngoài lâu đâu. Tôi chỉ muốn xác nhận một vài chi tiết. Anh sẽ quay về trong vòng nửa giờ. Chúng ta sẽ quay về”, anh nói thêm rất nhanh.

“Gorlice-Law có vẻ sẽ đi với chúng ta”, Foley nói. “Cậu ta chưa làm nhiệm vụ tuần tra lần nào. Đại úy Dodd cho rằng, đây có thể là một buổi thực tập tốt đối với cậu ấy”.

“Không”, Lysander đáp. “Chỉ anh và tôi thôi, Foley”.

“Tôi sẽ trông chừng thằng nhóc, ngài đừng lo”. Anh ta mỉm cười. “Tốt hơn hết ta nên làm vui lòng Đại úy”.

Vào buổi chiều, hai chiếc máy bay chỉ điểm RFC lượn lờ phía trên con hào. Lần đầu tiên Lysander nghe thấy những tiếng súng từ phía phòng tuyến quân Đức. Tiếp theo là một tiếng la hét nghe xa xôi từ đâu đó trên vùng đất không người. Một giọng nói đơn độc. Những người lính bắt đầu cười cợt.

“Hắn đang hét cái gì thế nhỉ? Ai thế?” Lysander hỏi Foley.

“Hầu như chiều nào hắn cũng bò ra ngoài vào lúc yên tĩnh và quấy rối chúng tôi. Anh có thể đặt giờ đồng hồ của mình theo hắn được”.

Lysander đứng lên bục đứng bắn và lắng nghe. Từ bãi cỏ dài vẳng đến một giọng nói yếu ớt nhưng rõ ràng: “Này, mấy thằng Anh chó chết kia! Cút mẹ về nhà đi, bọn Anh chó chết!”

Lysander nghĩ rằng mình cũng có thể nghe thấy tiếng cười từ các phòng tuyến của quân Đức.

Sau khi nghe “báo hiệu” buổi tối, Lysander lại bắt đầu thấy thần kinh căng thẳng. Anh thầm lặng điểm lại hết những chỉ dẫn, không chỉ một lần soát lại trong đầu những gì phải làm. Anh ngầm kiểm tra lại hai trái lựu đạn quả dứa số 5 trong ba lô, xác nhận đến hai mươi lần rằng các kíp nổ vẫn còn nguyên. Gorlice-Law tỏ ra rất háo hức với chuyến tuần tra, bôi đen mặt, lau chùi khẩu súng lục, hết tháo đạn ra rồi lại lắp vào.

“Chúng ta chỉ đi xem khu đất thôi”, Lysander cảm thấy có trách nhiệm phải nói với cậu. “Tôi không nghĩ cậu sẽ thấy thú vị đâu”.

“Tôi mới đến đây hai ngày trước”, Gorlice-Law đáp. “Tôi không thể đợi thêm được nữa”.

“Được rồi, ngay khi phát hiện dấu hiệu rắc rối đầu tiên, chúng ta phải rút ngay”.

Dodd sai anh ta đi rửa sạch mặt mũi và chuẩn bị “bàn ăn” - một bên cánh cửa được đặt lên trên hai thùng đạn dược - và nói: “tôi không muốn ngồi cùng với một tên da đen đâu, Trung úy”. Họ được phục vụ bữa tối với món thịt hầm đóng hộp, bánh bích quy rồi bánh pudding nho khô và phần rượu whisky còn lại của Lysander. Khi trời ngày càng tối hơn, Foley mang đến một ít rượu rum. Lysander cho rằng đó lại một loại rượu mạnh với mùi mật đường rất nồng và đặc như thuốc ho. Anh có thể thấy Gorlice-Law đang ngấm dần những ảnh hưởng mạnh của whisky - biểu hiện đờ đẫn trên mặt cậu ngày càng rõ nét khi cậu cố tập trung - hai lông mày oằn xuống trong cái nhíu mắt, hai môi bặm lại, lời nói chậm và thận trọng

Đến hai rưỡi sáng, Lysander bước lên con hào để gặp Foley tại điểm xuất phát. Một chiếc thang gỗ dựng tựa vào bức tường, đối diện chở hàng rào dây thép gai bị chọc thủng. Foley quấn chiếc mũ che mặt đang đội lên trên trán, mặc áo chẽn bằng da bẩn thỉu buộc quanh bằng chiếc đai nịt, quần soóc, giày đi cát và buộc thêm mấy chiếc tất quanh đầu gối. Anh ta mang một khẩu súng lục trong túi và một chiếc còi buộc vào dây đeo trên cổ.

“Ba tiếng nổ và chúng ta đi thẳng về nhà”, Foley nói, nhìn Lysander, nghi ngờ.

“Chuyện gì thế, Foley?”

“Ăn mặc tề chỉnh quá thưa ngài. Trông ngài cứ như đi duyệt binh ấy”.

“Tôi có mang theo nhiều đồ đâu”.

Foley có một cái hộp sáp nến màu đen, anh vẽ mấy đường sọc lên mặt Lysander. Anh quay lại nhìn Gorlice-Law đã cởi áo vest, đai nịt và xà cạp, đang giắt khẩu súng lục vào thắt lưng.

“Gorlice - Law, từ bây giờ cậu phải làm theo tất cả những gì tôi chỉ dẫn. Hiểu không?”

“Rõ, Trung sĩ”.

Foley bắn lên một quả pháo sáng Verey[*] màu hồng báo cho toàn tiểu đoàn biết có nhóm tuần tra ra ngoài. Sau đó họ lên thang, trèo qua các bao tải cát, bỏ qua hàng dây thép gai và tiến vào bóng tối đang bao trùm lên vùng đất không người.

Một đêm không trăng và Lysander vẫn kinh ngạc thấy mình bị lạc hướng quá nhanh khi bò qua bãi cỏ dài. Sau vài phút, anh không biết mình đang tiến về đâu khi đi theo Foley - với Gorlice-Law đang theo sát phía sau. Một quả pháo sáng màu trắng bắn lên từ phòng tuyến quân Đức, trong một thoáng biến thế giới thành bức tranh một màu rực sáng. Anh chợt có ham muốn đứng thẳng lên nhìn xem mình đang ở đâu. Tất cả chợt dừng lại.

“Tàn tích đâu rồi?” anh rít lên với Foley. Ánh sáng chói lọi mờ dần rồi tắt lịm.

“Khoảng năm mươi thước nữa, chéo về bên phải”.

“Dẫn chúng tôi đến đó đi”.

Foley đổi hướng và họ tiếp tục bò. Một vài dặm về phía bắc đang diễn ra một “cảnh nguy hiểm” - những quả pháo sáng và hỏa lực phía xa xa, những tràng súng máy rát họng. Lysander quay nhìn lại - trên những con hào của Trung đoàn Lính Hỏa mai Manchester Trung thành 2/10 vẫn chẳng có gì xảy ra. Vùng thôn quê tối đen như mực đang yên ngủ. Ngay cả những phát đạn pháo sáng mang tính đề phòng, thăm dò nhưng cũng chẳng buồn bắn lên. Tất cả vẫn còn đang say giấc nồng.

“Chúng ta đi được bao xa rồi?” Lysander vỗ lên mắt cá chân Foley. “Sang cái gò nhỏ kia là đến nơi”.

Đến lúc rồi.

“Ở lại đây”, anh nói với Foley. “Đừng để cậu ấy một mình”.

“Không, thưa ngài. Không được đi một mình. Hãy để tôi đi theo ngài”.

“Đó là lệnh, Foley. Trông chừng Trung úy đi”.

Lysander bò đi, tách xa khỏi hai người, hướng về phía con dốc - đúng chỗ nhấp nhô nhỏ nhất nhưng vẫn đủ cao để thấy những khối đá lộn xộn, nhợt nhạt từ phía hầm mộ bị phá hủy. Anh nhìn sang bên phải tìm những cây đu bị chặt phá. Anh cho rằng đã thấy cái bóng đen kịt của chúng in trên bầu trời đêm. Những tàn tích, những cây đu, mương thoát nước - ít nhất anh cũng có những điểm mốc tự nhiên để nhắm tới trong bóng tối hay thay đổi. Xung quanh anh, cỏ cây như đang thì thầm.

Anh trượt xuống bên kia con dốc, tiến đến hầm mộ hoang tàn. Chắc chắn đó phải là một dinh thự, anh nghĩ khi bò đến gần hơn. Một chức sắc địa phương nào đó hẳn muốn lưu giữ mãi tên tuổi gia đình mình. Nhưng anh không cho rằng…

Lysander lạnh người. Anh nghe thấy tiếng ken két, Chuột à? Nhưng nó không ngừng kêu. Nước nhỏ giọt à? Rồi nó dừng lại. Anh rút đèn pin và hai trái lựu đạn khỏi túi đồ nghề. Rút chốt, đếm đến ba, quăng ra và lùi lại ngay, rất mau lẹ. Những tiếng nổ này sẽ là thuật nghi binh, nguyên nhân “cái chết” của hắn sẽ cho phép anh đánh giá các phòng tuyến của Pháp.

Tiếng ken két lại vang lên. Rất yếu. Anh dựa vào những tảng đá đầu tiên từ bức tường vụn. Trong một giây, anh lia đèn về hướng anh nghĩ là nguồn phát ra âm thanh rồi tắt đi ngay. Trong chùm sáng ngắn ngủi, anh thấy hai khuôn mặt trắng bợt quay lại nhìn mình từ một con hào đào sâu dưới nền hâm mộ. Một người đàn ông râu đen và một cậu thanh niên khá trẻ với cái trục xoay của một bó dây điện thoại đang được gỡ ra - lặng lẽ kêu ken két.

Anh tắt đèn, lại kéo chốt lựu đạn và quăng về phía con hào. Tiếng lách cách vang lên. Những lời nguyền rủa. Rồi quả thứ hai. Vừa cúi anh vừa bò về hướng nghĩ rằng sẽ có những cây đu.

Một tích tắc như kéo dài bất tận, anh nghe thấy những trái lựu đạn phát nổ - hai tiếng nổ cách nhau - ùng! ùng! xé nát không gian chật hẹp dưới hầm mộ. Có ai đó bắt đầu thét lên.

Lysander quỳ xuống. Tiếng thét vẫn vang lên, rời rạc và the thé. Gần như ngay lập tức bắt đầu vang lên tiếng súng ngẫu hứng từ cả hai tuyến con hào - những người lính gác kinh hoàng thức giấc vì tiếng lựu đạn. Những quả pháo sáng bay lên trời đêm thành những đường cong - màu xanh, đỏ và trắng. Anh bỗng lọt vào một thế giới sắc màu chói lọi. Thế rồi vang lên tiếng còi và tiếng thịch của những trái lựu đạn bắn bằng súng. Một khẩu súng máy bắt đầu trả đũa. Lysander giờ đang nằm sát đất, không dám nhìn lên. Anh tính toán rằng mình sẽ phải đi sáu mươi hoặc bảy mươi thước về phía nam tàn tích. Những cái cây đu chết tiệt đâu rồi? Trong khoảnh khắc im lặng, anh nghe thấy tiếng hét đau khổ: “Foley! Foley! Anh đâu rồi?”. Một luồng sáng trắng mạnh mẽ từ một quả pháo sáng cho thấy anh vừa đi qua những cây đu. Anh đã đi xa hơn dự tính - giờ anh cần phải đổi hướng để tìm những cây liễu và một con mương thoát nước. Anh thu mình tròn như quả bóng và rọi đèn pin vào chiếc la bàn. Anh đang tiến thẳng đến các chiến tuyến quân Đức - phía đông - lẽ ra anh phải đi về phía nam. Anh quay chín mươi độ và lại bò tiếp. Có một tiếng hét chói tai vang lên từ phía sau lưng anh. Giờ anh có thể nghe thấy những tiếng nổ trầm phát ra từ những khẩu súng cối lớn. Chệch hướng một chút thôi nhưng phần nào đó khiến anh không còn kiểm soát được tình hình - anh hy vọng Foley và Gorlice-Law đã rút lui an toàn.

Lysander ngã vào một con mương thoát nước và dầm toàn bộ cơ thể xuống đến bốn mét nước. Anh ngồi xổm, dựa lưng vào bờ mương và cho phép mình thở để bình tĩnh trở lại. Thêm vài quả pháo sáng nữa nhưng tiếng súng như đang lắng xuống. Báo động nhầm. Chẳng có gì quan trọng cả. Chỉ là một cơn sợ hãi mà thôi.

Anh lại lấy bản đồ ra, bàn tay khum lại che ánh đèn pin và cố gắng xem mình đang ở đâu. Nếu đây là con mương mà Foley đã nói, thì chỉ cần đi men hơn một trăm thước, đến khi bắt đầu rẽ phải thì sẽ đến hàng rào dây thép gai của quân Đức. Tất cả những gì anh phải để ý đó là những quả pháo sáng màu xanh từ các phòng tuyến quân Pháp. Nhờ thế anh sẽ biết mình phải đến đâu. Giả sử tất cả đều theo như kế hoạch của Munro. Anh nhìn đồng hồ, 3 giờ 30 phút. Vài tiếng nữa trời sẽ bắt đầu sáng - đến lúc phải di chuyển rồi.

Anh bì bõm lội dọc con mương. Chắc chắn nó sẽ rẽ ngoặt về bên phải. Nhưng có vẻ nó sẽ đột ngột dẫn đến một điểm dừng đối diện một cái cống cổ nào đó. Lysander nhìn vào trong bóng tối đen kịt. Theo lý thuyết, hàng rào thép gai tuyến đầu của Tập đoàn quân Pháp thứ 10 phải ở ngay trước mặt. Nhưng không có dấu hiệu nào của các quả pháo sáng màu xanh như Munro đã hứa. Ông đã nói cứ mười phút sẽ có một quả được bắn lên. Họ hẳn phải nghe thấy tiếng ồn và sự hỗn loạn từ những trái lựu đạn của anh chứ?

Rồi anh lại nghĩ về hai trái lựu đạn mình đã ném về phía chiến hào dưới hầm mộ. Bằng con mắt tư duy, anh nhớ lại những hình ảnh chớp nhoáng của hai khuôn mặt đang nhìn mình - người đàn ông có râu và chàng trai trẻ - hoàn toàn sốc và kinh ngạc. Anh đoán đó là hai tên lính thông tin đang đặt một đường dây điện thoại ở đó làm chốt nghe lén. Anh cũng cho rằng những trái lựu đạn đã giết hoặc làm cả hai tên bị thương. Cái tiếng thét ấy là của chúng. Đau đớn và hung tợn. Cơn hốt hoảng trong bóng tối khi hai trái lựu đạn va vào đá kêu lách cách. Những ngón tay mò mẫm, tìm kiếm, điên cuồng chửi thề, và rồi - BÙM!…

Anh cảm thấy mình bắt đầu run lên, ngồi xổm, hai tay ôm chặt đầu gối vào ngực - chẳng ích gì khi nghĩ về chuyện đã xảy ra cho hai tên lính thông tin kia. Làm sao anh biết được chúng sẽ ở đó? Không anh quyết định, thông minh nhất bây giờ là ở nguyên đây chờ mặt trời lên. Đến lúc ấy anh sẽ biết nên làm gì tiếp theo.

Có vẻ khá kì quái và dễ chịu khi ngắm bầu trời sáng dần sau chiến tuyến quân Đức. Và khi bình minh lên, anh có thể xác định rõ những chi tiết cảnh quan - ba cái cây đu về bên phải, trước mặt là những đường gạch chéo tối của các hàng rào dây thép gai của quân Pháp. Miệng cống là một vòm đá thô. Những cây cói đang mọc ngày càng dày xung quanh, nhờ hơi ẩm bổ sung từ con mương thoát nước. Một làn gió nhẹ thổi lên. Anh bắt đầu ngửi thấy mùi khói đang bay qua vùng đất không người, khi những lò than được đốt lên trong các con hào. Anh thấy đói - vài lát thịt lợn muối xông khói giòn và một khoanh to bánh mì rưới mỡ nóng thực sự có ích, anh phải cảm ơn chúng.

Anh thận trọng rẽ mấy cây cói phía trên cống, thấy một hàng rào dây thép gai dày của các chiến tuyến quân Pháp cách khoảng hai mươi thước. Anh nghĩ chúng được đặt rất dày và rất chuyên nghiệp, không thể lách qua đó. Anh thấy một cột khói xám bốc lên từ các con hào phía xa, bị làn gió nhẹ thổi bật đi. Nhưng không thấy dấu hiệu của một công sự nổi bằng các bao tải cát hay một lỗ châu mai của lính gác.

Anh khum tay lại quanh miệng và hét lên:[*]

Alô! Alô! Tôi là sĩ quan người Anh”?

Sau khoảng năm giây anh hét lên “A lô!” lần nữa, chỉ có câu trả lời là một phát súng trường chói tai.

Tôi là một sĩ quan người Anh! Tôi không phải là người Đức!”

Thêm nhiều phát súng nữa vang lên nhưng chẳng ai đến gần anh. Thế rồi anh nghe thấy một tiếng hét từ phía tiền tuyến quân Pháp.

Mày nghĩ chúng tao là lũ ngu hả, thằng Đức kia!”

Lysander cảm thấy một khoảnh khắc vô vọng. Có thể nói tiếng Pháp là một sai lầm.

“Tôi là người Anh!” anh hét lên. “Sĩ quan người Anh. Tôi bị lạc! Hoạt động bí mật!”

Lại thêm mấy phát súng trường bắn bừa nữa. Anh nhìn qua vai mình về phía chiến tuyến quân Đức, hy vọng bạn Đức sẽ không bị khiêu khích mà bắn trả. Nếu không anh sẽ mắc kẹt giữa hai làn đạn.

Các anh có nói được tiếng Anh không?” anh lại hét lên. “Tôi là một sĩ quan người Anh! Tôi bị lạc”.

Thêm nhiều tiếng chửi thề nữa nhằm vào anh - những câu nói lóng anh chả hiểu. Hoặc chỉ hiểu mơ hồ là những lời tục tĩu dành cho anh,

Anh ngồi thụp xuống, thấy một chút tuyệt vọng. Mình nên làm gì đây? Anh nghĩ có lẽ phải đợi đêm xuống và tìm đường về Trung đoàn Lính Hỏa mai Manchester. Rồi anh sẽ phải hứng chịu cái may mắn khốn kiếp là ăn đạn của một tên lính gác đang cau có, giật mình từ trận đấu súng đêm qua. Nhưng giả sử quay về trót lọt, làm sao anh tự giải thích được toàn bộ chiến dịch Geneve có thể bị nguy hiểm? Anh nghĩ dù sao đó cũng là một kế hoạch chó chết. Tại sao anh phải biến mất, tại sao phải “mất tích khi làm nhiệm vụ”? Tại sao không đơn giản là đến Geneve với tư cách là ông Abelard Schwimmer?

Sĩ quan người Anh à?” Tiếng hét cất lên từ tiền tuyến quân Pháp. Sau đó là “Anh có đấy không?” bằng tiếng Anh.

“Có, tôi ở đây! Trong con mương! Con mương!”

“Di chuyển sang bên trái! Cho đến khi anh trông thấy…”. Tiếng nói ngừng lại.

“Thấy cái gì?”

“Một cái cột màu đỏ!”

“Một cái cột màu đỏ à? Tôi hiểu rồi!”

“Đó là lối vào… À, hàng rào dây thép gai của chúng”.

“Tôi đang đến đây! Đừng bắn nhé! Đừng bắn!

“Đi chậm thôi”.

Lysander ráng sức trèo ra khỏi con mương thoát nước và bắt đầu bò về bên trái. Anh ép mình càng sát đất càng tốt, bất ngờ cảm thấy mình như bị phơi trần ra, Bò ngoằn ngoèo, luồn lách trong vài phút thì anh thấy một cái cột màu đỏ cắm cạnh một khe hở trong mê cung hàng rào dây thép gai, Anh đổi hướng bò về phía đó - bây giờ có thể thấy một đường chữ chỉ qua mê cung được đánh dấu.

Tôi đến rồi!” anh hét lên.

Anh chầm chậm bò vào mê cung, trông thấy công sự nổi bằng bao tải cát trên đầu.

“Tôi đang đến đây!” anh lại hét. Bất ngờ thấy khiếp đảm toàn thân, tin rằng mình bị lừa vào đây chỉ để bị hạ gục. Anh giơ chiếc mũ quân đội Anh bằng vải kaki lên, vẫy vẫy trên đầu. Những cánh tay mạnh mẽ vươn ra kéo anh lên khi anh tiến gần mấy bao tải cát. Họ nhẹ nhàng đỡ anh đứng lên phía trên con hào.

Anh nằm đó một lúc, lấy lại hơi thở, nhìn lên những người khổng lồ đang đứng phía trên trông bẩn thỉu, rậm râu trong những bộ quân phục màu xanh cũng bẩn thỉu. Tất cả đều đang hút tẩu, vẻ kỳ dị. Họ đáp trả anh bằng cái nhìn chằm chằm, tò mò.

Chắc chắn rồi”, một người trong số họ nói. “Đúng là một sĩ quan người Anh thật…”

Lysander đang ngồi trong một hầm trú ẩn ở các tuyến phòng thủ. Cốc cà phê đen không đường trong tay, trải nghiệm một mức độ kiệt sức mà anh chưa từng trải qua. Tất cả những gì anh có thể làm là đưa cốc lên môi, như một tảng đá mòn nặng trịch hay một quả đạn thần công bằng chì. Anh bỏ cốc xuống và nhắm mắt lại. Ngủ. Ngủ trong một tuần. Anh đã trao lá thư dán kín từ trong ba lô cho người sĩ quan phụ trách hầm trú ẩn này - nơi những người khổng lồ màu xanh rậm râu dẫn anh tới. Thuốc lá là thứ anh cần, Anh vỗ vỗ vào mấy cái túi - rồi nhớ ra đã để thuốc lại hầm trú ẩn của Dodd rồi. Hầm trú ẩn của Dodd. Wiley và Gorlice-Law. Có phải Gorlice-Law hét lên tìm Foley không? Anh chỉ hy vọng rằng tất cả…

“Anh đây rồi. Vận xui của chúng tôi”.

Anh nhìn quanh, chớp mắt. Fyfe-Miller đứng đó trên ngưỡng cửa. Lịch lãm trong bộ đồ vest với dây nịt chéo bằng da, quần và ủng đi ngựa bóng loáng. Một sĩ quan người Pháp đứng sau lưng.

Notre mauvais centime”, Fyfe-Miller dịch lại câu vừa nói cho tay sĩ quan Pháp, chẳng buồn quan tâm đến trọng âm. Anh đỡ Lysander đứng dậy, cười toe toét vui vẻ. Lysander cảm thấy muốn hôn anh ta.

“Giai đoạn một hoàn tất”, Fyfe-Miller nói. “Hơi dễ dàng nhỉ”.

ý câu lạc bộ đến quán bar Lỗ thứ 19. Ở đây có hai nhân viên đánh máy tuổi trung niên từ Swansea đến giúp giải quyết vấn đề hành chính của trại. Phương tiện liên lạc duy nhất là chiếc điện thoại nằm trên bàn trong một góc phòng. Ở góc kia, p
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William Boyd

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.