LYSANDER NGỪNG ĐỌC. ANH cảm thấy nỗi tủi hổ trong quá khứ đang cháy dữ dội toàn thân, như một đám bùi nhùi khô khốc nhất đang cháy, quằn quại và kêu lách tách nóng bỏng. Miệng anh khô nẻ. Thôi nào, mạnh mẽ lên, anh tự nhủ, mày hai mươi bảy tuổi rồi - đây chỉ là hồi ức cũ mà thôi.
Lysander ngồi im lặng một lúc. Bensimon phải lên tiếng trước. “Đúng vậy”, Bensimon nói. “Phải. Vậy chuyện này xảy ra khi anh mười bốn tuổi”.
“Tôi nghĩ mình đã ngủ thiếp đi gần hai tiếng và bỏ lỡ giờ uống trà. Mẹ tôi rất lo lắng nên chạy ra ngoài tìm tôi. Những người làm vườn nói rằng tôi đã đi vào rừng”.
“Và anh bắt đầu thủ dâm…”.
“Và đã ngủ thiếp đi. Ngủ như chết. Mặt trời, hơi ấm. Một giấc ngủ lành… Và rồi mẹ tôi thấy tôi rõ ràng đang bất tỉnh khi quần bị kéo hết xuống, nửa trần truồng phơi trần ra. Chả trách bà hốt hoảng”.
“Chuyện gì đã xảy ra với cậu làm vườn vậy?”
“Anh ta bị cha dượng tôi sa thải ngay lập tức, không được nhận lương và không được ý kiến gì hết. Cha dượng tôi hoặc cảnh sát đã làm thế. Bố anh ta cho rằng con mình chẳng làm gì cả - cho dù ông thừa nhận mình không có mặt ở khu vườn suốt buổi chiều hôm đó - và cả ông ta cũng bị sa thải”.
“Ai mà dám không tin tưởng cậu chủ Lysander chứ?”
“Đúng, chính xác là thế. Tôi cảm thấy rất có lỗi. Đến giờ vẫn thế. Tôi chẳng biết chuyện gì đã xảy ra với họ. Họ cũng bị đuổi khỏi ngôi nhà riêng nằm trên dinh cơ Faulkner. Tôi bị ốm - tôi nhớ mình đã khóc suốt mấy ngày - và nằm bẹp trên giường suốt nửa tháng. Rồi mẹ tôi đưa tôi đến một khách sạn ở Margate. Tôi được các bác sĩ khám, phải uống cả đống thuốc thang để làm dịu “thần kinh”. Sau đó tôi khăn gói lên đường đến ngôi trường nội trú khủng khiếp của đời mình”.
“Vụ này không bao giờ được nhắc lại nữa à?”
“Không bao giờ. Tôi là nạn nhân, ông biết mà. Ốm yếu, tơi tả, nhợt nhạt. Mỗi lần có ai đó hỏi tôi về chuyện này, tôi lại bắt đầu nức nở. Thế nên mọi người đều rất thận trọng rất lo lắng về những gì tôi đã phải “trải qua”. Đi thật nhẹ, nói thật khẽ, ông biết đấy”.
“Rất thú vị khi anh đổ tội cho con trai người làm vườn…”. Bensimon viết một điều gì đó. “Nhắc lại tên anh ta đi?”
“Tommy Bledlow”.
“Anh vẫn còn nhớ à”.
“Tôi không thể quên được cái tên ấy”.
“Anh ta có rủ cậu đi săn - cùng con chồn của anh ta?”
“Tôi đã từ chối”.
“Anh có cảm xúc đồng tính luyến ái nào với anh ta không?”
“À… Không. Hay ít nhất tôi chẳng để ý đến cảm xúc nào hết. Anh ta là người cuối cùng tôi nói chuyện. Trong cơn hốt hoảng của mình, trong tình trạng khẩn cấp của giây phút đó, tôi chỉ với đại một cái tên bay trong không khí”.
Lysander bắt tàu điện quay về Mariahilfer Strasse. Anh ngồi đó trong trạng thái như mê mụ khi chuyến tàu ầm ĩ và rung chuyển băng qua thành phố. Bensimon chính là người duy nhất anh có thể nói sự thật về ngày hè ở thời điểm chuyển giao thế kỉ ấy. Anh phải thừa nhận rằng việc gợi lại bí mật đáng sợ và đen tối này đã tạo nên một cảm giác hồi hộp phấn chấn. Anh cảm thấy thoải mái lạ lùng, xa cách với quá khứ, và khi nhìn xung quanh, nó xa cách với thế giới anh đang đi qua cùng những con người của hiện tại. Anh suy ngẫm về những hành khách cùng đi trên chuyến tàu K - anh thấy họ đang đọc sách, nói chuyện, chìm trong những suy nghĩ của riêng mình, nhìn chằm chằm vô hồn ra cửa số khi thành phố lao vút qua - và có một cảm nhận lạ lùng về sự khác biệt. Giống người đang có một tấm vé số độc đắc trong túi - hay một kẻ sát nhân quay về từ hiện trường một vụ án mạng mà không bị phát hiện - anh cảm nhận bản thân mình như vượt trên họ, xa cách họ, và gần như là vượt trội. Giá mà các người biết được điều tôi tiết lộ ngày hôm nay, giá mà các người biết giờ đây mọi thứ trong cuộc đời tôi sẽ khác biệt như thế nào…
Anh nhanh chóng nhận ra ý nghĩ cuối cùng này thật đáng trân trọng. Chuyện xảy ra vào buổi chiều tháng Sáu năm 1900 ấy là một đoạn bị xóa trong phần tường thuật về cuộc đời anh, một đoạn dài bị bỏ trắng giữa hai dấu ngoặc đơn về quãng thời gian anh là thằng nhóc mười bốn tuổi. Sau đó anh đã không bao giờ suy nghĩ về nó - đã dựng lên một hàng rào bao vây - như để ngăn chặn tất cả những xúc tác có thể làm gợi lên hồi ức không muốn nhớ ấy. Anh đã đi bộ rất nhiều lần trong rừng Claverleigh; mẹ con anh đã từng rất thân thiết; anh đã nói chuyện với những người làm vườn và công nhân trong vùng mà không hề nhớ đến cái tên Tommy Bledlow. Sự việc đã qua rồi, đã bị xua đuổi - lạc lối hoàn toàn trong thời gian - như thể một bộ phận cơ thể bị bệnh hay một khối u đã được loại bỏ và đốt thành tro.
Anh xuống tàu, tự hỏi tại sao mình lại kể chuyện đó mà không hề suy nghĩ. Không - anh thấy mừng khi đã kể với Bensimon mọi thứ. Có lẽ về căn bản, đây là điều mà tất cả các phương pháp trị bệnh bằng phân tâm học có thể đạt tới: nó cho phép anh nói chuyện về những vấn đề thiết yếu, căn bản và quan trọng những điều không thể nói với bất kì ai khác - dưới dạng một buổi trò chuyện trị liệu bình thường. Bây giờ anh có thể nói với Bensimon những điều thầm kín nhất. Hành động thú nhận là một hình thức tự do và anh tự hỏi mình có cần Bensimon nữa không. Dẫu vậy anh vẫn cảm thấy một chút khác biệt về mặt diện mạo so với con người ngồi viết ra những sự kiện của ngày hôm đó. Và anh có thể thấy rằng viết lách cũng thật quan trọng. Có điều gì đó đã thay đổi - dạng như một sự thanh lọc, khai phá, một sự làm sạch.
Anh bước chậm, đầy suy tư trên suốt quãng đường từ điểm dừng xe điện đến khu nhà nghỉ. Anh chỉ dừng lại mua một trăm điếu thuốc lá Virginia của Anh từ một cửa hàng bán buôn tại nút giao giữa đường Mariahilfer Strasse và sân sau của nhà nghỉ. Anh mơ hồ tự hỏi mình có đang hút quá nhiều thuốc không điều anh cần là một chuyến đi bộ đường dài hai mươi dặm trong các dãy núi giúp anh khỏe người. Anh bắt đầu thấy thư giãn để suy tính về nơi anh có thể đến dịp cuối tuần này.
Traudl đang phủi bụi cho con cú nhồi bông trong vòm kính khi anh đẩy cửa vào. Anh nhận ra cô không nhún gối chào và nụ cười đón chào của cô có vẻ ranh mãnh hơn một chút. Lysander không ngạc nhiên vì giờ đây cả hai đều có bí mật riêng mới để chia sẻ với nhau.
“Ngài Đại úy muốn gặp ông, thưa ông”, sau đó cô nói, liếc nhìn xung quanh, thì thầm. “Hãy nhớ đến 20 curon”.
“Yên tâm, Ông ấy sẽ cho rằng chúng ta. Cô biết đấy…”.
“Vâng. Tốt quá. Xin ông chắc chắn nói chuyện ấy, thưa ông”.
“Tôi sẽ nói, Traudl. An tâm đi”.
“Tôi chuyển thư của ông vào phòng ông rồi, thưa ông”.
“Cảm ơn cô”.
Lysander gõ cửa phòng Wolfram và bước vào khi được mời. Từ nụ cười rộng ngoác của Wolfram và chai sâm banh trong xô đá, anh có thể thấy ngay rằng mọi chuyện ở tòa đã diễn ra suôn sẻ. Ông ta đã mặc lại thường phục - một bộ quần áo bằng vải tuýt màu nâu nhạt với cà vạt màu sô cô la.
“Trắng án!” Wolfram nói, cử chỉ như một vị nhạc trưởng đại tài, hai cánh tay giơ cao mạnh mẽ, hai người nồng nhiệt bắt tay nhau.
“Chúc mừng ông. Tôi hi vọng không có quá nhiều thử thách”, Lysander đáp.
Wolfram hào hứng khui và rót sâm banh.
“Ồ, dĩ nhiên là chúng cố dọa anh đến chết rồi”, ông nói. “Tất cả các viên sĩ quan cao cấp đều mặc đồng phục và mang vẻ mặt khó chịu nhất - những bộ mặt phô trương vô cùng trịch thượng. Bắt anh phải đợi đến hàng giờ đồng hồ”. Ông rót đầy ly của Lysander. “Nếu thần kinh anh vững vàng, thái độ đường hoàng thì anh mới đi được nửa đường thôi”. Ông mỉm cười. “Chính mấy ly whisky tuyệt hảo của anh mới là thứ hữu dụng nhất trong cái phòng ấy đấy”.
Họ cùng chạm ly và uống cạn.
“Thế là mọi chuyện kết thúc rồi”, Lysander nói. “Điều gì làm họ nhận ra vấn đề thế?”
“Sự thiếu hụt bằng chứng đáng xấu hổ. Nhưng tôi đã cho chúng một thứ để suy nghĩ. Nó đã giúp xóa bỏ định kiến về người Slovenia”.
“Ồ thế ư. Là gì vậy?”
“Có một viên đội trưởng trong trung đoàn, Frankenthal. Không giống tôi. Hắn là một kẻ kiêu căng, ngạo mạn. Tôi tìm cách nhắc nhở các sĩ quan cấp trên rằng Frankenthal là một cái tên Do Thái”. wolfram nhún vai. “Frankenthal cũng giữ chìa khóa trong vòng một tuần, giống hệt tôi”.
“Cái tính Do Thái ấy có liên quan gì đến chuyện này?”
“Hắn không phải người Do Thái - gia đình hắn chuyển sang Đạo Thiên Chúa cả một thế hệ trước rồi. Nhưng vẫn…” Wolfram mỉm cười tinh quái: “Lẽ ra chúng nên đổi cả tên của chúng nữa”.
“Tôi không hiểu”.
“Lysander thân mến ơi - nếu chúng không thể đổ tội lên đầu một tên Slovenia thì một tên Do Thái sẽ là tên tốt thí mạng đáng giá hơn thế”. Wolfram uống cạn ly. “Chiều chuộng mấy gã khó tính kia thôi. Và tôi được nghỉ phép một tháng như sự đền bù cho những thử thách” tôi đã phải chịu. Vậy đấy - rồi anh sẽ biết thêm nhiều chuyện về tôi. Rồi chúng tôi sẽ lại tập trận vào cuối tháng Chín”. Ông mỉm cười. “Còn con bé nhà quê kia thế nào hả?”
“À Traudl, vâng. Thú vị nhất. Cảm ơn ông nhiều”.
Lysander thay đổi chủ đề rất nhanh, “Nếu họ không tuyên bố ông trắng án, ông sẽ làm gì?”
Wolfram suy nghĩ một giây. “Hẳn tôi sẽ tự sát, nhiều khả năng là như thế”. Ông nhíu mày, như thể đang suy nghĩ về những lựa chọn, dựa trên lí trí. “Một viên đạn vào đầu, hẳn thế. Hoặc uống thuốc độc”.
“Chắc không phải thế chứ? Chúa ơi”.
“Không, không anh phải hiểu, Lysander. Ở Vienna này, trong cái đế chế đổ nát của chúng ta, thì tự sát là một hành động hợp lý đến hoàn hảo. Ai cũng sẽ biết những cảm xúc thật sự của anh và lý do tại sao anh không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đó - không ai lên án hay oán trách anh”.
“Thật không?
“Thật. Một khi anh hiểu điều đó, anh sẽ hiểu chúng tôi”.
Wolfram mỉm cười. “Nó nằm rất sâu trong bản chất của chúng tôi. Selbstmord - cái chết tự thân: đó là một lời giã biệt trong danh dự với thế giới này”.
Hai người uống hết chai và Lysander về phòng, cảm nhận rõ những ảnh hưởng của rượu. Anh nghĩ mình có thể bỏ bữa tối nay - có thể ra quán cà phê tiếp tục uống. Anh cảm thấy sôi nổi, vui vẻ khi nghĩ về Wolfram, tất nhiên rồi và chính anh cũng thấy vui khi cuối cùng cũng mở ra được chiếc quan tài quá khứ vốn đóng kín của mình.
Nằm trên bàn là các thư từ của anh. Một lá của Blanche, một lá từ ngân hàng ở London và một lá dán tem của Áo với dòng chữ viết tay của ai đó mà anh không nhận ra. Anh xé phong bì. Đó là lời mời đến tham dự triển lãm Vernissage “tác phẩm đương đại” của nghệ sĩ Udo Hoff tại một galery nghệ thuật đương đại - Bosendorfer-Renz - ở trung tâm thành phố. Dòng chữ cuối cùng bằng mực xanh, cỡ chữ to là một câu mệnh lệnh: “Đến đi! Hettie Bull”.