MẤT CẢ BUỔI CHIỀU chật vật giải mã những bức thư của Glockner - khiến tâm trí anh bận rộn. Khi những nội dung của nó dần hé lộ - một công việc nặng nhọc - anh đã hiểu rõ điều gì được nêu chi tiết trong các mật mã. Đó là di biến động của đạn dược và nguyên vật liệu từ Anh đến nhiều nơi trên tiền tuyến.
Một trang viết: “Năm trăm tấn HE cỡ mười lăm phân đến St Omer và Béthune”.
Trang khác viết: “Hai mươi nhăm ngàn cỗ áo quan đến Allougne”.
Và nhiều câu tương tự nữa: “Một triệu năm trăm nghìn lẻ ba hoặc ba quân khu Aubers Ridge”; “Sáu trạm cấp cứu đã chiến phía sau Lens”; “Các ga đầu mối Ammo St Venant Lapugnoy đội kị binh quân đội Struzeele đầu tiên”; “Mười sáu trạm băng bó cao cấp tại Greney Vermelles, Cambrin, Givenchy, Beuvry”, “Mười bốn khẩu súng cối trên kênh La Bassee“.
Danh sách dài thêm đến mức ngạc nhiên với rất nhiều chi tiết vụn vặt khi anh bình tĩnh đọc lướt hết sáu cột số dày đặc trong sáu lá thư. Anh đặt giả thiết nếu ngày tháng chặn các lá thư này được ghi lại, thì dữ liệu này cho ta thấy một bức tranh thú vị về tâm điểm của cuộc tấn công sắp tới. Những quả đạn pháo, đạn dược, vũ khí nhẹ, thực phẩm và khẩu phần, thiết bị phát tín hiệu, các bệnh viện dã chiến, các động vật chở hàng phương tiện chuyên chở - có vẻ quá ngẫu hứng. Nhưng nếu ai hiểu một cuộc “tấn công ác liệt” cần những gì, sẽ không khó để đọc ra các dấu hiệu và khoanh vùng một cách chuẩn xác.
Ngoài ra, anh cũng hiểu rõ thông tin chắc chắn còn nằm ẩn sâu đằng sau những dòng chữ này - tỉ lệ và những số lượng quy định cho các đội quân và lữ đoàn thay vì các trung đoàn và tiểu đoàn. Quân nhu cho các tiểu đoàn lấy từ các kho đạn tạm thời được cấp theo các mệnh lệnh di chuyển này. Và thậm chí còn xa hơn thế - có nhắc đến mười khẩu đội pháo với những khẩu đại bác nặng 18 pound[*] đang được vận chuyển từ Folkestone đến Havre, và cuối cùng được chở bằng tàu hỏa đến Abbeville; một xưởng đầu máy xe lửa sắp được xây ở Borre; một kho quân nhu chăn gia súc mới tại Mautort; sơ đồ những con đường nên tránh tại Văn phòng Giao thông ở Abbeville; tổng cộng số ngựa thay thế được gửi từ Anh đến cho Quân đoàn Một vào tháng Năm. Hẳn các sĩ quan tiếp tế cao cấp của Pháp có biết một số sự kiện và số liệu này. Nhưng lĩnh vực và phạm vi kiến thức được nêu trong những lá thư nói lên một điều khác - mà trí tuệ hạn hẹp của Lysander có thể hiểu được - một cái nhìn toàn cảnh rộng hơn nhiều về toàn bộ những di biến động và hoạt động tiếp tế quân nhu cho Lực lượng Viễn chinh Anh trên Chiến trường miền Tây. Anh cho rằng tác giả những lá thư mã hóa này không nằm trong Bộ Tư lệnh Pháp của Tướng Sir John tại St Omer, mà hắn đang an toàn trong chính Văn phòng Chiến tranh hay trong Bộ Quân nhu ở London.
Anh bỏ bút xuống và với sự khó chịu, anh cầm văn bản gốc lên - Andromeda và Perseus. Anh quay về trang đề tựa, nhẹ nhõm khi thấy ấn bản này không giống bản anh đã có. Nó được xuất bản tại Dresden năm 1912, một năm trước chuyến đi của anh đến Vienna. Tựa đề và tên tác giả được viết đơn giản không có hình minh họa. Biết rằng những buổi diễn định mệnh vở opera này của Toller tại Vienna không phải là những buổi đầu tiên, nên anh nghĩ vở này chắc chắn phải được diễn ở Dresden, là nơi cho ra đời bản sao này…
Sự trùng hợp đến nham hiểm? Không thể nào. Khi những đoạn văn bản trở nên tối nghĩa, có thể thấy Andromeda và Perseus gần như là một chọn lựa tinh tế. Nhưng càng tự hỏi nhiều câu hỏi về lai lịch dễ hiểu của văn bản giải mã này trong mật mã PLWL, anh càng thấy lú lẫn và rắc rối thêm, Tại sao lại là vở opera đặc biệt và đáng bị lãng quên này? Và làm thế nào anh lại là người khám phá ra nó? Một ý nghĩ bất ngờ chợt đến. Chỉ còn một người nữa thôi sở hữu một bản sao lời vở nhạc kịch này, đó là Lysander Rief. Điều đó ngụ ý cái gì?
Anh nhận ra rằng có suy đoán thêm nữa cũng chỉ vô ích. Anh phải quay về nhà, cùng Munro và Fyfe-Miller phân tích triệt để tất cả các cành nhánh của khám phá mới này. Anh chẳng thể làm được gì nhiều vào một chiều Chủ nhật tại Geneve. Khách sạn des Postes đóng cửa vào giữa trưa nên anh phải đợi đến sáng mai để gửi điện báo cho Massinger tại Thonon. Khách sạn mở cửa vào bảy giờ sáng - anh sẽ tới đó, Anh dán kín các bản sao sáu lá thư này vào một phong bì, viết tên anh và địa chỉ Tòa thị chính Claverleigh lên đó. Anh cho rằng tốt nhất nên giấu kín những chi tiết chính xác ấy, ít nhất đến khi anh quyết định nên tiết lộ cái gì trong chìa khóa giải mã này.
Buổi chiều muộn, anh ra ngoài đi dạo, có lẽ anh nên nói chuyện này - một cách kín đáo - với Florence Duchesne. Nhưng anh nhận ra mình không biết bà sống ở đâu. Thế rồi một lần nữa anh quyết định, bà ta nên biết càng ít càng tốt.
Anh bắt xe điện qua sông Arve và xuống xe ở một trong những lối vào rừng Bâtre cách xa thành phố. Anh thả bộ vào cánh rừng rậm, rời khỏi những lối đi để đến một nơi hẻo lánh - tránh xa những người đi picnic hay các gia đình đi tản bộ - và kiên nhẫn đốt từng trang vở kịch Andromeda và Perseus của Glockner. Anh đá tung đống tro tàn nhỏ yếu ớt bay đi khắp nơi, giẫm nát chúng trong đám cỏ như muốn không còn cách nào có thể khôi phục và đọc lại được. Anh bắt đầu nghĩ rằng quy trình hành động tốt nhất lúc này chính là giữ bí mật văn bản mật mã. Không hiểu tại sao, nhưng anh như thấy xuất hiện một lối thoát theo bản năng khỏi những câu hỏi, câu trả lời rắc rối quay cuồng trong đầu. Đó là biến mình thành người duy nhất biết câu trả lời - khỏi lo bị lộ nữa. Vào lúc gặp Massinge, có lẽ anh sẽ đề nghị chuyện đó - anh hoàn toàn hiểu được chuyện đó - nhưng đến lúc ấy, anh sẽ còn nhiều thời gian để dựng nên một câu chuyện hợp lí.
Anh ăn trứng tráng trong một quán bia cạnh các bến tàu hơi nước, kiểm tra giờ xuất bến của những con tàu tốc hành chạy vòng quanh hồ trong ngày. Anh uống quá nhiều rượu nên thấy mục đích rõ ràng trước đó đã bắt đầu bị phủ mây khi thả bộ trên phố. Như thể bất ngờ nhận ra một thực tế, rằng trong buổi sáng Chủ nhật này tại Geneve, anh vừa tra tấn một người đàn ông để moi thông tin. Chuyện gì đang xảy ra với mình? Mình đang trở thành kẻ tàn ác kiểu gì thế? Nhưng anh lại nghĩ - dùng từ “tra tấn” có đúng không? Anh không đập nát bét đầu Glockner bằng dùi cui, không hủy hoại cơ quan sinh dục của hắn, không xé rách ngón tay hắn. Anh cảnh báo hắn đến mấy lần, cho hắn mọi cơ hội để nói. Nhưng phải thừa nhận anh cũng quá bối rối - bối rối trước sự khéo léo nhanh nhẹn và thủ đoạn của chính mình. Có thể chính vì không có máu - không có chất nhầy, phân và nước tiểu - khiến… anh lục tìm từ - mưu kế - khiến mưu kế của anh trở nên khó đoán và dễ dàng được thực hiện. Điều anh đã làm có vẻ giống một thí nghiệm trong phòng thí nghiệm hóa học, hơn là hành vi cố ý gây thương tích… Nhưng rồi một giọng nói khác nhắc anh sao ngu dại và nhạy cảm thế. Anh chỉ làm theo mệnh lệnh trong một nhiệm vụ. Thông tin anh thu được bằng những hành động thông minh, thẳng thắn và thú thật là tàn nhẫn của mình mang tính quan trọng sống còn đối với kết quả cuộc chiến, dễ hình dung là nó có thể cứu được vô số sinh mạng dĩ nhiên là thế. Người ta dặn anh một điều mơ hồ - làm phận sự của một người lính - và anh đã làm.
Người gác đêm ngái ngủ tại khách sạn Touring càu nhàu mở cửa chính cho anh sau nửa đêm. Lysander lên phòng, thấm mệt nhưng biết chắc sẽ không ngủ được vì những ý nghĩ đang không ngừng khuấy tung đầu anh lên. Còn trầm trọng hơn nữa khi anh nhìn thấy một lá thư nhét dưới khe cửa. Thư không đề địa chỉ nhưng anh vẫn xé phong bì, biết thừa ai đã gửi.
“Anh trai Manfred ốm nặng. Về nhà ngay lập tức. Mọi người đang rất lo lắng”.
Chỉ có thể là Florence Duchesne. Manfred - làm sao bà ta biết chuyện Glockner nhỉ? Lại còn chữ “lo lắng” gạch dưới này có ý nghĩa quan trọng như thế nào? Anh nằm trên giường, mặc nguyên quần áo, nhẩm lại tất cả những khả năng cho ngày mai - điều gì anh nên cố gắng làm, điều gì anh tuyệt đối phải làm vì lợi ích tốt nhất của chính mình. Anh vẫn tỉnh táo, đợi chờ và suy nghĩ, cho đến khi mặt trời lên, tỏa sáng những bức rèm cửa sổ.
Bảy giờ sáng, Lysander là người xếp hàng thứ ba ở cửa chính bưu điện trung tâm trên đường Rue du Mont Blanc. Đó là một tòa nhà to lớn, bề thế, được trang trí lộng lẫy - giống một bảo tàng hay trụ sở Bộ Ngoại giao nhiều hơn là một bưu điện - và khi đến lượt, anh tiến đến quầy bán vé trong sảnh vòm rộng, gửi ngay bức điện tín cho Massinger.
CÓ NỘI DUNG LỜI GIẢI RỒI. NGHI NGỜ CÓ RẮC RỐI NGHIÊM TRỌNG TRONG BỘ MÁY CHÍNH. ĐẶC BIỆT THÔNG BÁO RẰNG TRONG TƯƠNG LAI GẦN, KHÔNG CÓ CUỘC PHÁ VÂY NÀO. ĐẾN AVIAN LES BAINS VÀO LÚC 04 GIỜ 40 PHÚT CHIỀU.
Lá thư cuối cùng của Glockner được chặn lại muộn hơn hai tuần một chút. Thật hợp lí khi cho rằng thông tin về việc cung cấp quân nhu có liên quan đến bất kì cuộc tấn công nào được ấn định vào khoảng cuối hè. Cuộc tấn công mùa thu, dù sẽ diễn ra theo cách nào hay ở bất kì đâu, bây giờ hẳn quân thù đã biết rõ, chừng nào chúng còn quan tâm.
Sau đó anh gửi sáu lá thư chép tay cho chính mình đến Claverleigh và rời khỏi bưu điện lúc 07 giờ 20 phút. Con tàu hơi nước tốc hành đầu tiên đang đi vòng đến Nyon, Ouchy, Montreux và chiếc Evian khởi hành lúc 09 giờ 15 phút. Mẩu giấy của bà Duchesne tối qua như ngụ ý các bến tàu hơi nước và ga xe lửa có thể đang bị theo dõi - anh còn gần hai tiếng hoặc hơn để chắc chắn mình sẽ không bị bắt.