Chờ Mặt Trời Lên

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 116 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
43. Những Cuộc Điều Tra Tự Thuật

❊ ❊ ❊

VÀ PHẦN THƯỞNG DỄ THƯƠNG cho tất cả những điều đó là cuối cùng tôi được nhận vào Đại học Oxford. Dưới mái trường Cao đẳng Somerville trên phố Woodstock này, tôi được trải nghiệm ảo tưởng về cuộc sống ở trường đại học. Tôi có một phòng riêng trên gác ở trong trường cao đẳng nữ sinh. Nhưng chả thấy cô nàng nào (ngoài các y tá và người hầu): các sinh viên nữ chưa tốt nghiệp đều chuyển sang trường Cao đẳng Oriel trong thời gian chiến tranh, chỉ còn toàn nam giới. Những thương binh ở Pháp và nhiều chiến trường khác với đủ kiểu thương tật - một số thương tích kinh hoàng (rất nhiều người cụt chân tay, bị phỏng), một số thương tích không thấy được: Những nạn nhân rối loạn tâm lí do chứng tâm thần phân liệt (Hậu quả từ chấn động của các khẩu đại bác hay những hình ảnh tàn phá và đáng sợ đến khủng khiếp) Somerville bây giờ là một phần của bệnh viện Đa khoa Phía Nam số 3, một tên mới được đặt của bệnh viện Radcliffe, cách vài mét trên đường Woodstock.

Florence Duchesne bắn tôi ba phát, gây ra bảy vết thương. Hãy bắt đầu với phát đạn cuối cùng, khi bà ta bóp cò lần thứ ba. Viên đạn xuyên vào ngực trên sườn phải, cách dưới xương đòn năm phân và ra ngoài qua xương bả vai, Phát thứ hai bắn xuyên bàn tay trái - khi tôi giơ lên trong tư thế phòng vệ vô ích - tiếp tục xuyên qua phần cơ bắp trên vai trái. Tôi nhớ đã thấy trong khoảnh khắc - một đóa hoa máu bừng nở trên mu bàn tay khi viên đạn bay qua. Vết thương đã lành nhưng tôi phải mang hai vết sẹo - một giữa lòng bàn tay và một trên mu bàn tay - màu hồng và nâu nhàu nhĩ to bằng một đồng sáu xu. Phát đầu tiên bị trượt - nhất định là nhắm bắn sai: bà ta không giơ súng lên đủ cao khi bắn. Tôi bị thương ở đỉnh hông bên trái khi viên đạn bắn vào gói tiền lẻ nhỏ trong túi. Mấy đồng xu ghim sâu vào cơ đùi. Bác sĩ phẫu thuật sau này bảo đã lấy ra bốn frăng và sáu mươi bảy xăngtim - ông đưa tất cả cho tôi trong một phong bì nhỏ.

Phát đạn vào ngực khiến phổi tôi nổ tung. Chính vì thế tôi thấy khá nhiều máu chảy ra trước khi bất tỉnh. Thật may mắn - nếu khái niệm đó dùng được đối với trường hợp đa chấn thương do đạn bắn - thì sáu trên bảy vết thương của tôi chính là các con đường hầm. Chỉ có cái túi đựng đầy tiền xu của tôi không chịu biến thành một con đường - bây giờ tôi thấy khỏe hơn nhiều - ngoài vết thương ở hông khiến tôi khó chịu, đi lại khập khiễng, và đôi khi phải dùng gậy.

Tôi vẫn còn may chán. Sau khi Florence Duchesne bắn tôi và bỏ chạy, có người thợ máy, hay là thợ đốt lò, xuất hiện từ buồng máy thấy tôi nằm đó trong vũng máu kinh hoàng. Rồi mọi người nhanh chóng đưa tôi đến một bệnh xá nhỏ tại Evian. Cuối cùng Massinger cũng tìm được tôi. Ông lập tức chuyển tôi đến đầu kia đất nước bằng xe riêng và xe cứu thương. Tôi được điều trị tại bệnh viện Rouen ở vùng nông thôn rộng lớn nước Anh.

Tại đó, tôi bình phục sau bốn tuần. Phổi bị tổn thương luôn bị đọng máu và phải được trợ giúp hô hấp đều đặn. Bàn tay trái bó bột do gãy vài chiếc xương nhỏ khi viên đạn xuyên qua. Nhưng vấn đề dai dẳng nhất là hông trái. Viên đạn và ít tiền lẻ đã được lấy ra tại Rouen, nhưng vết thương có vẻ tiếp tục tái nhiễm trùng phải được dẫn lưu, làm sạch và phục hồi lại. Hầu hết quãng thời gian ở đây tôi buộc phải dùng nạng để đi lại xung quanh.

Tôi được chuyển về Oxford, Anh vào cuối tháng Tám, Mẹ đến thăm tôi gần như ngay sau khi tôi được chuyển vào Somerville. Bà lao vào phòng tôi trong bộ đồ đen. Trong giây phút hoảng sợ, choáng váng, tôi tưởng Florence Duchesne quay lại kết liễu đời mình. Crickmay Faulkner đã qua đời tháng trước - thực ra là khi tôi đang ở Geneve - mẹ vẫn đang đau khổ.

Bà bảo cái đêm kinh hoàng nhất trong đời là khi nhận được bức điện tín báo rằng tôi “mất tích khi làm nhiệm vụ”. Crickmay đang hấp hối và bà nghĩ mình cũng sẽ mất luôn cả con trai. Nhưng sáng hôm sau, một “sĩ quan hải quân” với bộ râu và nụ cười kì quái, lạ lùng đến nhà - anh ta đã lặn lội đường xa đến tận Claverleigh thông báo rằng, họ tìm được tôi rồi, rằng tôi không sao hết. Bà không hiểu nổi làm sao tôi lại đang nằm viện tại Anh, “mình găm đầy vết đạn”. Tôi bảo tay sĩ quan hải quân ấy (mà chỉ có thể là Fyfe-Miller) hoàn toàn có ý tốt, nhưng có vẻ anh ta không biết hết mọi chuyện.

Bất chấp nỗi đau của một góa phụ, phải thừa nhận tâm trạng bà dường như đang rất vui vẻ. Bộ đồ đen viền đăng ten với những chiếc lông đà điểu là gu thời trang của bà. Bà bảo sự ra đi của Crickmay là một phúc lành. Bà yêu cái ông già ngọt ngào ấy thật nhiều. Hugh hiện đang cho xây một ngôi nhà đáng yêu đến hoàn hảo trên dinh cơ ấy. Đó sẽ là di sản của người chồng quá cố để lại cho bà. Quỹ từ thiện đang tăng trưởng ngày một nhiều và bà được phép yết kiến Nữ hoàng Mary. Sau khi đi dạo quanh sân trong và tiễn mẹ lên xe taxi, một trong những anh bạn thương binh - có biết về đoạn đời trước của tôi - đã hỏi có phải bà là diễn viên không. Khi tôi bảo không phải, anh ta hỏi: “Bà ấy là bồ cậu à?” Tôi cho rằng chiến tranh ảnh hưởng đến mọi người theo nhiều cách khác nhau trong trường hợp của mẹ tôi, thì bà đang năng động và trẻ lại thấy rõ.

Hôm nay tôi nhận được điện tín của Munro. Ông bày tỏ nỗi thương xót đồng thời cũng tỏ ý chúc mừng. Ông bảo bọn tôi cần đánh giá tin tức tình báo từ những lá thư Glockner. Và khi thời điểm đó đến, ông có một nhiệm vụ dành cho tôi. Tôi suy luận rằng với cái chết của Glockner, sức ép tìm kiếm nguồn thông tin trong Văn phòng Chiến tranh có thể đã giảm đi phần nào - dù kẻ phản bội là ai hắn cũng phải đi tìm một người mới để liên hệ. Rõ ràng hắn sẽ phải mất thời gian.

Hamo vừa về. Ông rất nóng lòng muốn gặp tôi - lúc ấy đang nằm trên giường sau khi vừa thở bằng máy thở lần nữa - vì có một mối bận tâm làm dấy lên những thắc mắc rất cụ thể về các vết thương của tôi: Chính xác thì tôi cảm thấy thế nào lúc bị bắn? Cơn đau có đến ngay lập tức không hay là về sau mới thấy đau? Có lúc nào tôi thấy mất cảm giác do sốc không? Suốt thời gian bị thương nằm ở chiến trường có bị tê cóng không - vân vân và vân vân. Tôi trả lời thành thật hết sức có thể, nhưng vẫn cố tình giấu kín sự thật bị ai bắn và bắn ở đâu. “Chú thấy những cảm xúc lạ lùng khi chú bị thương nên mới hỏi”. Hamo nói. “Chú đã thấy nhiều người gào thét trong đau đớn chỉ vì gãy một ngón tay, thế mà chú ở đó đấy, đâu cũng thấy máu. Và chú chỉ cảm thấy râm ran, cảm giác như kiến bò ấy”. Khi ra về, ông xiết chặt tay tôi và nói: “Thật vui khi cháu trở về, thằng bé đáng yêu. Anh bạn dũng cảm lắm đấy”.

Tối nay tôi đi bộ lên St Giles, cố gắng tới được nghĩa trang tưởng niệm liệt sĩ rồi mới về - chừng nào tôi còn đi bộ được đến bất kì đâu như hồi ở Geneve. Tôi ghé một quán rượu trên đường về và gọi nửa cốc rượu táo. Mọi người nhìn tôi như một sinh vật lạ - tôi cho rằng sắc mặt xanh xao và cây gậy là cái “giá” tôi đã phải trả. Tôi luôn muốn quên đi mình đang là sĩ quan mặc quân phục (Munro đã thu xếp hoàn trả lại mọi thứ cho tôi). Trung úy Lysander Rief của Trung đoàn Bộ binh Đông Sussex, đang hồi phục sau chấn thương. Đó là một buổi tối cuối hè ấm áp, và St Giles với trường cao đẳng cổ kính, đen như bồ hóng ở một bên và bảo tàng Ashmolean một bên, trông như không có tuổi và rất lôi cuốn - tất nhiên, ngoại trừ những chiếc xe ô tô và xe tải của những người giao hàng - và tôi thấy ghen tị với những ai có cơ hội được học tập và sinh sống tại đây. Quá muộn đối với tôi rồi, Chúa ơi.

Chiều nay, tôi đang ngồi trên ghế dài ở sân trước, nằm khuất sau phòng bảo vệ, đọc báo dưới ánh mặt trời, thì một y tá xuất hiện. “À, anh đây rồi, anh Rief. Phòng anh vừa có khách đến thăm. Chúng tôi đang không biết tìm anh ở đâu”. Và xuất hiện trong tầm nhìn là Massinger, rụt rè trong bộ thường phục.

Ông đến ngồi cạnh tôi trên ghế dài, rất căng thẳng và lúng túng. Dường như ông còn không đủ can đảm nhìn vào mắt tôi.

“Tôi chưa bao giờ chính thức cảm ơn ông”, tôi nói, muốn làm vợi bớt tâm trạng căng thẳng của ông. “Nhanh chóng chuyển tôi đến Rouen. Xe cứu thương riêng và tất cả những chuyện đó. Đúng là sự chăm sóc tốt nhất đấy”.

“Tôi nợ cậu một lời xin lỗi, Rief, ông đáp, nhìn xuống đôi bàn tay đặt trong lòng, những ngón tay đan vào nhau như thể đang cầu nguyện. “Tôi không thể nói hết bằng lời tôi mừng đến thế nào khi thấy cậu còn sống ở Evian. Đến hôm nay, tôi vẫn còn mừng vô cùng”.

“Cảm ơn ông”, tôi nói. Thế rồi vì tò mò, tôi hỏi: “Tại sao lại thế? Sao lại đặc biệt thế?”

“Vì tôi nghĩ… Tôi có cảm giác khủng khiếp rằng tôi đã ra lệnh giết chết cậu. Một sai lầm kinh khủng, tôi thừa nhận. Tôi đã làm sai tất cả”.

Ông giải thích. Ông và bà Duchesne đã trao đổi nhanh các bức điện tín vào sáng thứ Hai, ngay sau khi Glockner được phát hiện và báo cáo là đã chết. Bà Duchesne rất tò mò. Bà tin chuyện này có liên quan đến tôi, và cuộc gặp giữa tôi với hắn. Họ thậm chí đã nói chuyện trên điện thoại khoảng một tiếng, trước khi con tàu hơi nước khởi hành, Massinger đã nhận được điện tín của tôi vào lúc đó và căn cứ thời gian biểu của con tàu, ông biết khi nào tôi sẽ đi. Đến lúc này ông ra lệnh cho bà Duchesne bám theo tôi lên tàu, tra hỏi tôi. Và nếu có bất kì bằng chứng gì chứng tỏ tôi là kẻ phản bội, bà ta sẽ tiến hành các bước cần thiết để bắt tôi phải đền tội.

Tôi lắng nghe chuyện này với một chút sốc.

“Rồi khi tôi gặp bà ấy ở Evian, bà ấy bảo với tôi là bà ấy đã bắn cậu”. Massinger nói. “Cậu có thể tưởng tượng tôi cảm thấy thế nào”.

“Gặp bà ấy?”

“Chúng tôi gặp nhau trên bến tàu. Bà ấy bảo cậu đã nói dối về chìa khóa giải mã - văn bản gốc. Rằng cậu đang che giấu một điều gì đó. Và vì cậu đã giết chết Glockner nên cực kì nghi ngờ cậu. Tôi nghĩ chính việc cậu giả trang đã đủ là một bằng chứng đối với bà ấy”,

“Đúng vậy. Làm sao ông biết tôi sẽ cải trang?”

Trông Massinger có vẻ như ngạc nhiên trước câu hỏi này, ông ta lúng túng.

“Munro nói với tôi. Hay là Fyfe-Miller nhỉ? Về chuyện đã xảy ra tại Vienna khi tôi gặp họ ở đó”.

“Ông đã ở Vienna?”

“Lúc có lúc không. Chủ yếu là năm ngoái trước khi chiến tranh bắt đầu trong khi tôi đang thiết lập mạng lưới tại Thụy Sĩ. Ai cũng nói về chuyện cậu trốn thoát”.

“Tôi hiểu…”. Tôi rất khó xử khi nghe về vụ tai tiếng đó của mình, Tôi cố gạt nó sang một bên. “Mà này, tôi không nghĩ mình có nhiệm vụ phải nói với bà Duchesne mọi thứ. Sao tôi phải nói chứ? Tôi đã định gặp ông và báo cáo toàn bộ, vì Chúa - trên đất Pháp. Và trong suốt thời gian đó, ông đã ra lệnh giết chết tôi”.

Massinger trông có vẻ khó ở, nhăn nhó.

“Thực ra tôi không giỏi ăn nói lắm. Bà Duchesne cứ liên tục lải nhải mãi, nhấn mạnh mối nghi ngờ đối với cậu. Thế nên tôi đã nói. “, ông ngừng lại. “Tiếng Pháp của tôi hơi lạc hậu một chút, cậu thấy đấy. Tôi còn không biết mình có nói rõ ràng với bà ấy không nữa. Tôi cố gắng an ủi bà ấy, đại ý nói là chúng tôi không thể cho rằng anh ta - tức là cậu đấy - không phải là một kẻ phản bội. Điều đó là không thể nhưng trong trường hợp điều đó được khẳng định, cậu sẽ bị xử ngay không hối tiếc”.

“Rất khó nói điều đó bằng tiếng Pháp ngay cả khi ông có thành thạo đi nữa”, tôi đáp.

“Tôi bị sức ép quá lớn, cậu nói đúng. Tôi lẫn lộn giữa hai từ “traitre”[*] và “traiter”[*], tôi nghĩ vậy”. Ông nhìn tôi đầy phiền muộn. “Tôi có một cảm giác kinh khiếp rằng tôi đã nói cậu là một “traitre sans pitié“…”.

“Câu đó hoàn toàn rõ ràng. Nghĩa là “một kẻ phản bội tàn độc”.

“Nhưng ngược lại tôi đang cố diễn đạt là…”.

“Tôi có thể thấy đó là sự nhầm lẫn”.

“Tôi thức trắng suốt mấy đêm, nhớ lại tất cả những gì tôi có thể thật sự đã nói với bà ấy. Tất cả chúng tôi đều khá bấn loạn trước cái chết của Glockner, Sự hốt hoảng, cậu biết đấy”.

“Tất cả đã rất rõ ràng. Người đàn bà ấy đã bắn tôi ba phát. Tầm đạn dứt khoát, vô cảm. Tất cả chỉ vì cái thứ tiếng Pháp nhà quê của ông”.

“Glockner chết thế nào?” ông hỏi, rõ ràng rất nóng lòng muốn đổi chủ đề.

“Bị bệnh tim - Bà Duchesne nói với tôi như vậy”.

“Và khi cậu rời đi, hắn vẫn khỏe chứ?”

“Vâng. Đang đếm tiền”.

Tại sao tôi vẫn nói dối? Một điều gì đó mách bảo rằng, tôi càng nói với mọi người ít bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu. Chúng tôi nói chuyện thêm một lúc nữa. Ông thông báo Munro sẽ đến gặp tôi về chuyện giải mã những lá thư. Cuối cùng ông đứng dậy và bắt tay tôi.

“Hãy nhận lời xin lỗi chân thành của tôi, Rief”.

“Tôi không thể nói được gì nữa, trong hoàn cảnh này. Chuyện gì xảy ra với bà Duchesne rồi?”

“Bà ấy đã đáp tàu hỏa quay về Geneve. Giờ bà ta đang quay lại đó, tiếp tục sắm vai điệp viên Lửa Mừng. Một điệp viên vô giá đấy”.

“Bà ta có biết tôi còn sống không?”

“Tôi hoàn toàn chắc chắn là bà ta thật sự nghĩ rằng cậu đã chết. Tôi nghĩ tốt nhất không nên xới lại vấn đề này nữa - Tôi không muốn làm bà ta khó chịu một cách không cần thiết, cậu biết đấy. Rốt cuộc bà ta nghĩ rằng mình đang làm theo lệnh của tôi. Không thể thật sự trách bà ta được”.

“Ông biết nghĩ thật đấy”.

Mẹ mang đến cho tôi thư từ gửi về Claverleigh. Trong đó gồm cả lá thư tôi gửi cho mình từ Geneve, chứa những lời giải mã Glockner. Tôi đã tạo các bản sao mới nguyên của sáu lá thư và trao cho Munro, khi ông đến gặp tôi ngày hôm qua.

Chúng tôi ngồi trong một căn phòng vốn là phòng giải lao của sinh viên. Có bốn người đang ngồi chơi bài brit nhưng cũng khá yên tĩnh. Một ngày mưa nhiều, không khí trong lành, những hơi thở xa xôi đầu tiên của mùa thu lan trong không khí.

Munro trải rộng những bản sao lên bàn. Trông ông có vẻ nghiêm túc,

“Điều khiến tôi băn khoăn đó là người này dường như biết mọi thứ”, ông nói. “Nhìn này - việc xây dựng hai đoạn đường sắt vận chuyển súng trên tuyến đường sắt Hazebrouk-Ypes…“. Ông chỉ vào một lá thư khác, “Ở đây - con số các tàu cứu thương tại Pháp, nơi các ga đầu mối đạn dược duy nhất là…“.

“Có gì liên quan đến tổ chức đường sắt không?”

“Cậu sẽ nghĩ thế nhưng hãy nhìn cả đống thức ăn gia súc này đi”.

“Rối”, tôi đáp. “Nhưng tôi không hiểu”.

“Ở Pháp, cứ ba người thì có một con ngựa”, Munro nói. “Hàng trăm nghìn con - và tất cả đều phải cho ăn uống đầy đủ”.

“Ra thế. Lần theo đường vận chuyển thức ăn gia súc, chúng ta sẽ tìm được nơi đóng quân”.

Munro trầm ngâm: “Đúng. Vậy thì hắn ở đâu? Văn phòng Đạn dược? Tổng cục Đường sắt? Cơ quan Thư ký của Tổng cục Hậu cần? Văn phòng Chiến tranh à? Nhưng hãy nhìn cái này xem”. Ông cầm lên lá thư thứ năm và trích dẫn: “Hai nghìn xe tải chở đồ đông lạnh được đặt hàng từ Canada”. Những chiếc xe tải chở đồ đông lạnh. Làm sao hắn biết được chuyện ấy nhỉ?”

“Phải. Những chiếc xe này được dùng làm gì?”

“Anh lính à, anh có muốn ăn thịt tươi ở tiền tuyến không thế?”

Munro xoa xoa chòm râu gọn gàng bằng ngón tay trỏ, nghĩ rất lung. Rồi ông quay lại nhìn tôi, với cái nhìn thắc mắc rõ ràng.

“Cậu muốn làm gì, Rief?”

“Ý ông là sao?”

“Cậu có muốn quay về tiểu đoàn của mình không? Họ vẫn ở Swansea đấy - nhưng cậu không được giữ chức vụ hiện thời nữa. Hoặc cậu có thể giải ngũ trong danh dự. Cậu đã làm quá tốt bổn phận của mình rồi - chúng tôi hiểu điều đó và rất biết ơn cậu”.

Không cần phải nghĩ nhiều. “Tôi sẽ chọn giải ngũ trong danh dự, cảm ơn ông”, tôi nói, biết không thể quay về với Trung đoàn Bộ binh Đông Sussex 2/5 nữa. “Tôi nên biến khỏi đây trong vòng hai tuần”.

Rồi ông chợt cứng người lại, như thể vừa nghĩ ra chuyện gì.

“Hoặc cậu có thể làm thêm cho chúng tôi một việc nữa, ở đây - tại London này. Cậu sẽ nói gì nào?”

“Tôi thật sự nghĩ mình có nhiều hơn…”.

“Tôi đang diễn đạt nó như một câu hỏi, Rief, để cậu có thể trả lời có hoặc không”. Ông mỉm cười, nhưng đó không phải là nụ cười ấm áp. “Cậu sẽ vẫn là một trung úy, vẫn ăn lương như thế”.

“Nếu ông đã nói thế - thì tôi đồng ý. Miễn là tôi sẽ không bị bắn nữa”.

Đúng lúc ấy, mấy nhân viên nhà ăn vào phòng dọn đồ ăn trưa trên một bàn dài. Tiếng đĩa bát, bằng sứ vang lên loảng xoảng.

“Ông muốn ăn trưa không?” tôi hỏi Munro.

“Tôi không nuốt nổi món cháo bệnh viện đâu”, ông đáp. “Đến quán rượu nhé?”

Chúng tôi đi qua trường đại học, đến cổng sau dẫn ra phố Walton.

“Tôi chưa bao giờ học trường này”, Munro nói. “Dù có đi qua nó hàng trăm lần”.

“Thế ông học trường nào?” tôi hỏi. Tôi không ngạc nhiên khi biết ông đã từng là sinh viên chưa tốt nghiệp trường Oxford.

“Magdalen”, ông đáp. “Bên kia thành phố”.

“Vậy ông vào học khoa Ngoại giao?” tôi hỏi.

“Đúng vậy, sau khi quân đội mê hoặc tôi”. Ông liếc nhìn tôi. Còn cậu học trường gì?”

“Tôi không vào đại học”, tôi đáp. “Tôi bắt đầu đi diễn ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông”.

“À, là trường Đời”.

Quán rượu tên là Temeraire, cái biển hiệu này là sự xuyên tạc khủng khiếp tuyệt tác của Turner. Quán nhỏ, ốp gỗ với những chiếc bàn thấp, những chiếc ghế đẩu ba chân. Các bức tranh những con tàu chiến treo trên tường. Munro gọi hai cốc bia, một bánh nướng thịt bê và giăm bông, khoai tây nghiền nhừ và hành dầm giấm. Tôi nói mình không đói.

“Sắp có một cuộc tấn công lớn”, Munro nói, rắc muối, hạt tiêu lên bánh và khoai tây. “Thực ra chỉ vài ngày nữa thôi. Mục đích là yểm trợ cho cuộc tấn công của quân Pháp. Ở quân khu Loos”.

Tôi duỗi thẳng hai bàn tay, nhìn ông hoài nghi. “Vì Chúa”, tôi nói. “Tôi đặc biệt khuyến cáo nên dừng hết tất cả các hoạt động đi. Tôi nhấn mạnh chúng ta nên dừng lại đi. Chúng đang chờ quân ta - hãy xem hai lá thư Glockner cuối cùng đi. Ông có thể tự mình xác định được phạm vi mà”.

“Giá mà mọi việc dễ thế. Quân Pháp rất kiên định”. Ông mỉm cười, mặt méo mó, đau khổ, rõ ràng cũng có cảm nhận giống tôi. “Hãy cùng hi vọng vào điều tốt nhất”.

“Ôi, chúng ta luôn có thể làm được chuyện đó. Chẳng mất mát gì cả, hi vọng thế”.

Munro tỏ vẻ u sầu, chẳng nói gì, chỉ cắn miếng bánh. Tôi hút thuốc.

“Có một điều tên gián điệp của chúng ta đã bỏ lỡ”, Munro nói, “Hiếu kì thật. Chúng ta sẽ dùng khí độc tại Loos - dù chúng tôi thích gọi đó là “giải pháp bổ sung” hơn”.

“Chúng đã từng làm thế với quân ta tại Ypes”. Tôi thận trọng đáp. “Trong tình yêu và chiến tranh, chuyện đó là công bằng”. Tôi tự hỏi tại sao ông lại cho tôi biết chuyện này. Có phải là một bài kiểm tra không?

“Tôi tự hỏi tại sao hắn lại bỏ lỡ điều này”, Munro nói tiếp. “Điều đó sẽ giúp chúng ta xác định hắn”. Ông nhấp một ngụm bia, “Cậu có một tuần nghỉ ngơi sau khi xuất viện. Sau đó, tôi muốn cậu gặp một người tại London. Chúng ta cần lên kế hoạch cho hành động của mình”.

“Và tôi vẫn là Trung úy.”

“Chắc chắn”, rồi ông nói, cố ra vẻ như bâng quơ: “Cậu chưa hề nói với tôi đoạn văn bản giải mã là gì”.

“Tôi đã nói với Massinger và bà Duchesne rồi”.

“À phải rồi, một đoạn Kinh Thánh tiếng Đức. Nhưng rõ ràng điều đó không đúng”.

Đánh giá thấp sự thông minh của Munro luôn nguy hiểm, bây giờ tôi nhận ra mình phải lưu ý điều này. Nhiều lúc ông nguyên tắc đến phát chán - một quân nhân rất chuyên nghiệp, một nhà ngoại giao có trình độ, một người đàn ông gọn gàng, ngăn nắp ở địa vị của mình, hơi tự mãn và bề trên, dù ông cố gắng không để lộ ra. Nhưng đó chưa phải là tất cả - đây là điều ông khiến bạn phải suy nghĩ. Tôi không hiểu rõ tại sao - có thể vì ông đã cố kiểm tra tôi với các tin tức về “giải pháp bổ sung” - nhưng tôi quyết định đến lượt mình kiểm tra ông.

“Tôi quyết định không nói cho họ biết, thực ra đó là lời nhạc kịch một vở opera vô danh của Đức”.

“Thế à? Tên là gì?”

Tôi thận trọng dò xét khuôn mặt ống.

“Vở Andromeda và Perseus“.

Ông cau mày. “Đừng nghĩ rằng tôi biết vở đó”, ông nói với một nụ cười mơ hồ.

“Tôi cho rằng ông chẳng việc gì phải biết đến nó. Vở này của Gottlieb Toller, Trình diễn lần đầu tại Dresden năm 1912”.

“À, kịch hiện đại. Điều này giải thích được tại sao tôi không biết. Tôi lại đang nghĩ đến vở Persée của Lully”.

Tôi cảm thấy cơn buốt lạnh chạy khắp người. Ngay lúc đó, tôi quyết định không đặt niềm tin vào Munro nữa, bất chấp việc tôi tự nhiên thấy thích ông nhiều hơn trước. Ai sống tại Vienna năm 1913 hẳn cũng đều nghe nói đến Adromeda của Toller, bất kỳ ai - nhất là người đã biết đến vở Persée của Lully. Tại sao ông ta nói dối? Tại sao cả hai chúng tôi đều đang hớn hở nói dối nhau? Chúng tôi ở cùng phe cơ mà,

“Glockner có đưa cho cậu lời vở nhạc kịch đó không?”

“Có. Đổi lại hắn có được tiền”.

“Chuyện gì xảy ra với nó rồi?”

“Tôi làm mất rồi. Trong tất cả sự hỗn độn sau vụ bị bắn. Tôi để đâu đó trong nhà an dưỡng tại Evian, chắc vậy. Từ đó trở đi, tôi không nhìn thấy nó nữa”.

Munro bỏ dao, đĩa xuống và đặt đĩa đồ ăn sang bên.

“Xấu hổ thật. Cậu có thể lấy lại một bản sao khác - có thể thông qua những mối liên hệ của cậu trong thế giới nhà hát?”

“Tôi có thể thử xem sao”.

“Ta uống thêm cốc nữa chứ? Hãy chúc mừng những tiến bộ nhanh chóng của chúng ta”.

ý câu lạc bộ đến quán bar Lỗ thứ 19. Ở đây có hai nhân viên đánh máy tuổi trung niên từ Swansea đến giúp giải quyết vấn đề hành chính của trại. Phương tiện liên lạc duy nhất là chiếc điện thoại nằm trên bàn trong một góc phòng. Ở góc kia, p
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William Boyd

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.