Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Chương 3

❊ ❊ ❊

DAVID: THÀNH PHỐ HOÀNG GIA

Một thanh niên xuất hiện trước trại David tuyên bố mình đã giết Saul: ‘Tôi đã giết người được Chúa Trời xức dầu thánh.’ David liền giết tên đưa tin và rồi than khóc Saul và Jonathan trong vầng thơ bất hủ:

Vẻ đẹp của Israël đã bị tàn sát: người hùng mạnh đã ngã xuống đau đớn biết bao! Các người con gái của Israël, hãy than khóc Saul, người đã mặc cho các ngươi áo tía, trang điểm vòng vàng trên áo các ngươi và những niềm hoan lạc khác… Saul và Jonathan khi sống thật đáng yêu và ân cần, và đến chết vẫn không chia lìa: họ nhanh hơn đại bàng, mạnh hơn sư tử... Người hùng mạnh đã ngã xuống đau đớn biết bao và vũ khí chiến tranh bị tiêu hủy đau đớn biết bao!

Vào thời khắc đen tối này, các bộ tộc phía nam của Judah xức dầu thánh cho David tôn ông làm vua với Hebron là kinh đô, trong khi đứa con trai còn sống của Saul là Ishbosheth kế vị Saul lên cai trị các bộ tộc phía bắc của Israël. Sau cuộc chiến 7 năm, Ishbosheth bị mưu sát và các bộ tộc phía bắc cũng xức dầu thánh phong David làm vua. Vương quyền được thống nhất nhưng sự rạn nứt giữa Israël và Judah là mối chia rẽ chỉ có David đầy uy lực có thể chữa lành.

Jerusalem, được biết dưới tên Jebus theo tên cư dân Jebusite, toạ lạc ngay phía nam của căn cứ của Saul, Gibeon. David và binh lính ông tiến lên thành lũy Zion, đối diện với những công sự đáng sợ mới gần đây được khai quật quanh Suối Gihon. Zion được cho là bất khả xâm phạm và làm thế nào David đánh chiếm được nó còn là điều bí ẩn. Kinh thánh mô tả quân Jebusite sắp xếp người mù và què đứng trước tường thành, một hình thức cảnh cáo ai dám tấn công đều sẽ chịu chung số phận như những người này. Nhưng nhà vua đã tìm cách đột kích vào thành phố – qua phương tiện mà Kinh thánh Do Thái gọi là zinnor. Đây có thể là đường hầm dẫn nước, một đường hầm thuộc mạng lưới giờ được khai quật trên đồi Ophel, hoặc nó có thể là tên của một thứ ma thuật nào đó. Dù cách nào, thì ‘David cũng chiếm được cứ địa Zion và đổi tên là thành phố David.’

Việc đánh chiếm này cũng có thể là một cuộc đảo chính cung đình vì David không tàn sát người Jebusite; mà ông còn kết nạp họ vào triều đình và quân đội của mình. Ông đổi tên Zion thành Thành phố David, tu bổ tường thành và triệu hồi chiếc Hòm Giao ước (đã chiếm lại được trong trận chiến) về Jerusalem. Tính linh thiêng đáng sợ của nó đã giết chết một phu khiêng di chuyển nó, vì thế David giao nó cho một Git tin cẩn cho đến khi có thể khiêng đi an toàn. ‘David và mọi dân Israël mang chiếc hòm của Chúa Trời lên trong tiếng hò reo và tiếng kèn vang dội.’ Vận chiếc khố của tăng lữ, ‘David nhảy múa trước Chúa Trời với tất cả sức lực.’ Đáp lại, Chúa hứa với David, ‘ngôi nhà ngươi và vương quốc ngươi sẽ vững chắc mãi mãi’. Sau nhiều thế kỷ tranh đấu, David tuyên bố rằng Yahweh đã thiết lập một quê nhà vĩnh hằng tại thành phố thánh.

Michal, con gái của Saul, chế giễu chồng mình phủ phục trước Chúa Trời trong tấm thân nửa trần truồng là cách phô diễn hợm hĩnh thô lỗ. Trong khi những sách trước đó của Kinh thánh là pha trộn giữa những văn bản cổ đại và những câu chuyện được viết lại mãi về sau, thì chân dung trần trụi, tạp sắc của David, được che giấu bên trong Sách về Samuel và Sách về các Vua, đọc rất sống động đến nỗi có thể câu chuyện đã được một triều thần chấp bút.

David chọn cứ điểm này làm kinh đô vì nó không thuộc các bộ tộc phương bắc lẫn xứ Judah phương nam của mình. Ông mang những tấm khiên bằng vàng của kẻ thù bị khuất phục về Jerusalem, tại đó ông xây dựng cho mình một cung điện, nhập khẩu gỗ tuyết tùng từ các đồng minh Phoenicia ở Tyre. David được cho là đã chinh phục một vương quốc trải dài từ Lebanon đến tận biên giới Ai Cập, và về phía đông đến tận Jordan và Syria ngày nay, thậm chí đóng một lực lượng đồn trú ở Damascus. Nguồn tư liệu duy nhất chúng ta có là Kinh thánh: giữa những năm 1200 và 850 TCN, những đế chế Ai Cập và Iraq đang suy yếu nên chỉ để lại những ghi chép sơ sài, nhưng họ cũng để lại những khoảng trống quyền lực. David chắc chắn có thực: một bản khắc tìm được ở Tel Dan phía bắc Israël vào năm 1993 có niên đại từ thế kỷ 9 TCN cho biết các vua của Judah được biết dưới tên ‘ngôi nhà của David’, chứng tỏ David là người sáng lập vương quốc.

 

Image

Năm 1994, các nhà khảo cổ tìm được phiến đá này ở Tel Dan, trên đó Vua Hazael xứ Aram-Syria, huênh hoang về thắng lợi của mình trước Judaea, ‘ngôi nhà của David’, từ đó khẳng định David là có thật.

Tuy vậy Jerusalem của David rất nhỏ hẹp. Tại thời điểm này, thành phố Babylon, thuộc Iraq ngày nay, rộng đến 2,500 mẫu; thậm chí thị trấn Hazor gần đó rộng đến 200 mẫu. Jerusalem chắc chắn không hơn 15 mẫu, chỉ đủ sinh sống cho non 1200 người quanh thành lũy. Nhưng những khai quật các công sự gần đây nằm phía trên Suối Gihon chứng tỏ Zion của David bề thế hơn trước đây vẫn nghĩ nhiều, cho dù nó còn lâu mới đáng là kinh đô một đế chế.

Qui mô của thành phố David là vấn đề gây nhiều tranh cãi giữa phe Nhỏ cho rằng nó chỉ là một thành lũy nhỏ của một tộc trưởng và phe Lớn ôm trọn cả kinh đô đế chế theo những câu chuyện trong Kinh thánh. Trước khi dòng chữ khắc Tel Dan được phát hiện, thậm chí phe cực Nhỏ ám chỉ rằng David không hề tồn tại, vì thiếu các chứng cứ khảo cổ ngoài Kinh thánh. Năm 2005 Tiến sĩ Eilat Mazor thông báo rằng mình đã phát hiện được cung điện Vua David. Rất nhiều người nghi ngờ, nhưng những khai quật của bà dường như phát lộ một tòa nhà công cộng thế kỷ 10 bề thế, cũng với những công sự của người Canaan và những cấu trúc bậc thang, có thể đã tạo ra thành lũy David.

 

Vương quốc của David, được chinh phục với các binh sĩ đánh thuê người Cretia, Philistine và Hittite, thì cũng đáng tin, tuy Kinh thánh có phóng đại, thực ra chỉ là một liên minh các bộ tộc đoàn kết được nhờ vào tính cách của ông. Người Maccabee, mãi về sau này, sẽ cho thấy bằng cách nào những chủ tướng năng động có thể nhanh chóng chinh phục một đế chế Do Thái thừa dịp có một khoảng trống quyền lực trong đế chế.

Một buổi chiều, David đang thư giãn trên mái cung điện: ‘ông trông thấy một phụ nữ đang tắm, người rất đẹp và ưa nhìn. David liền cho người đến để hỏi thăm về cô ta. Một người tâu, ‘Bộ không phải là Bathsheba sao?’ Người phụ nữ đã kết hôn với một chỉ huy đội quân đánh thuê không phải người Israël, Uriah dân Hittite. David liền triệu cô đến gặp mình và ‘nàng đến với ông và ông ngủ với nàng’, khiến nàng mang bầu. Vua ra lệnh cho chỉ huy của mình là Joab gọi chồng nàng từ mặt trận ở xứ Jordan ngày nay về. Khi Uriah về đến, David ra lệnh cho y về nhà để ‘rửa chân’, trong bụng tạo dịp cho Uriah ngủ với Bathsheba để che giấu tác giả của bào thai. Nhưng Uriah từ chối vì thế David ra lệnh cho y mang thư này đến Joab: ‘Sắp xếp cho Uriah ở tiền tuyến trong trận đánh nào ác liệt nhất... để y bị trừng phạt.’ Uriah bị tử trận.

Bathsheba trở thành người vợ được David sủng ái. Nhưng nhà tiên tri Nathan kể cho nhà vua câu chuyện về một tên nhà giàu có đủ mọi thứ mà còn ăn cắp con cừu duy nhất của một nông dân nghèo. David rất bất bình trước hành động bất công này: ‘Tên đó đáng tội chết!’ ‘Ngài chính là tên nhà giàu đó,’ Nathan đáp. Nhà vua mới ngộ ra là mình đã phạm một tội tày trời. Ông và Bathsheba mất đứa con đầu tiên sinh ra từ tội lỗi này – nhưng đứa con thứ hai của họ, Solomon, sống sót.

Còn lâu mới là một triều đình đúng mực của một ông vua thánh, David chủ trì một đấu trường gấu, nghe như thật từ mọi chi tiết. Như nhiều đế chế được dựng quanh một nhân vật hùng mạnh, khi ông bệnh nặng, những vết nứt bắt đầu xuất hiện: các con trai của ông tranh giành quyền kế vị. Trưởng nam của ông, Amnon, được dự kiến kế vị David nhưng người mà David sủng ái là người em khác mẹ của Amnon, anh chàng Absalom hư đốn và đầy tham vọng, với bộ tóc vàng rực và thân hình không tì vết: ‘trong toàn xứ Israël không ai có vẻ đẹp được ca tụng nhiều như Absalom’.

 

ABSALOM: SỰ PHẤT LÊN VÀ CHÌM XUỐNG CỦA MỘT HOÀNG TỬ

Sau khi Amnon lừa được em gái của Absalom Tamar vào nhà mình rồi hiếp dâm cô ta, Absalom cho người ám sát Amnon ở ngoài thành Jerusalem. Khi David than khóc, Absalom trốn khỏi kinh đô và chỉ ba năm sau mới quay về. Nhà vua và người con ông sủng ái hòa giải nhau: Absalom cúi xuống đất trước ngai vàng và David ôm hôn y. Nhưng Hoàng tử Absalom vẫn chưa thỏa mãn tham vọng của mình. Y diễu hành qua Jerusalem trong chiến mã xa với 50 người chạy đằng trước. Y làm suy yếu chính quyền của thân phụ – ‘Absalom đánh cắp trái tim của Israël’ – và lập nên một triều đình phản nghịch của mình ở Hebron.

Dân chúng tụ tập về vầng mặt trời đang mọc, Absalom. Nhưng giờ đây David phục hồi được tinh thần trước đây của mình: ông mang theo Hòm Giao ước, biểu tượng của ân sủng Chúa Trời, rồi rời bỏ Jerusalem. Trong khi Absalom đóng đô tại Jerusalem, vị vua già chiêu tập các lực lượng. ‘Hãy vì ta mà nương tay với con trẻ,’ David dặn dò vị tướng lĩnh của mình, Joab. Khi các lực lượng của David tàn sát bọn phản loạn ở cánh rừng Ephraim, Absalom cởi lừa trốn chạy. Bộ tóc lộng lẫy của y đã làm hại y; ‘và con lừa chạy bên dưới những cành lá xum xuê của một tán sồi già, và đầu tóc y bị vướng vào cành sồi, con lừa thì cứ chạy đi, và y lơ lửng giữa trời và đất.’ Khi bắt gặp Absalom đang treo lơ lửng, Joab liền giết y và chôn xác trong một hố thay vì dưới những cột trụ của lăng mộ mà ông hoàng phản loạn đã xây cất cho mình.

Lăng được biết dưới tên Cột Trụ Absalom ở Thung lũng Kidron được đề cập lần đầu tiên bởi Benjamin xứ Tudela vào năm 1170 SCN. Nó không có niên đại từ 1000 TCN, mà thực sự chỉ là lãng mộ xây vào thế kỷ thứ nhất TCN. Vào thời Trung Cổ, người Do Thái, bị cấm vào thành phố và thậm chí vào Bức Tường phía Tây, phải cầu nguyện sát bên Cột Trụ. Thậm chí tận đầu thế kỷ 20, những người Do Thái đi qua đó thường phun nước bọt hoặc ném đá vào nó để biểu lộ sự ghê tởm của mình trước sự phản trắc của Absalom.

 

‘Con trẻ Absalom có bình an không?’ nhà vua ôn tồn hỏi. Khi David nghe tin hoàng tử đã chết, ông than vãn: ‘Ôi con trai ta, Absalom, con trai ta, Absalom, sao Chúa Trời không để ta chết thay cho nó. Ôi Absalom, con trai ta, con trai ta!’ Khi nạn đói và bệnh dịch hoành hành khắp vương quốc, David đứng trên núi Moriah và trông thấy thần chết đe doạ Jerusalem. Ông được Chúa Trời mặc khải, ra lệnh cho ông hãy xây dựng một áng thờ ở đấy. Có thể đã từng có một điện thờ ở Jerusalem mà người cai trị nó được mô tả là những vị vua-giáo sĩ. Một trong những cư dân gốc của thành phố, Araunah người Jebusite’, sở hữu đất đai trên Núi Moriah, cho thấy thành phố đã mở rộng từ Ophel sang đến ngọn núi kế cận. ‘Vì thế David mua nền đất đập lúa và con bò đực với giá 50 lạng bạc. Rồi David xây cất ở đấy một áng thờ Chúa Trời và dâng hương đốt và đồ tế lễ chay tịnh.’ Davis lên kế hoạch dựng lên một đền thờ ở đó và đặt mua gỗ tuyết tùng từ

Abibaal, Vua Phoenicia xứ Tyre. Đó là thời khắc đỉnh điểm trong sự nghiệp ông, mang Chúa Trời đến cho dân ông, hoà hợp Israël và Judah, và xức dầu thánh cho chính Jerusalem làm kinh đô thần thánh. Nhưng việc đó không nên làm. Chúa phán với David: ‘Ngươi không được xây dựng ngôi nhà nhân danh ta, vì ngươi từng là chiến binh, tay đã vấy máu.’

Giờ David đã là ‘một ông già bệnh hoạn’, các quan triều và con trai ông âm mưu chiếm quyền kế vị. Một con trai khác, Adonijah, tìm cách đoạt ngôi báu, trong khi một hầu thiếp quyến rũ, Abishag, được đưa vào để làm David xao nhãng. Nhưng bọn âm mưu đánh giá quá thấp Bathsheba.

 

SOLOMON: ĐỀN THỜ

Bathsheba giành ngôi vua cho con trai mình Solomon. David cho gọi Zadok giáo sĩ và Nathan nhà tiên tri, tháp tùng Solomon trên con lừa của vua cha đi xuống Suối Gihon linh thiêng. Tại đó ông được xức dầu thánh làm vua. Kèn thổi vang và dân chúng reo hò chúc tụng. Adonijah, nghe tin về lễ chúc mừng, tìm chỗ ẩn nấp trong chốn lính thiêng của áng thờ, và Solomon bảo đảm y toàn mạng sống.

Sau một sự nghiệp lừng lẫy thống nhất dân tộc Israël và chọn Jerusalem làm thành phố của Chúa Trời, David qua đời, trăn trối việc xây dựng Đền Thờ trên Núi Moriah cho Solomon. Đó là những gì tác giả Kinh thánh đã viết bốn thế kỷ sau để giáo huấn các thế hệ trẻ của họ, biến nhân vật David bất toàn thành tinh túy của một vì vua thánh. Ông được chôn cất trong Thành phố David. (Đến nay vị trí chính xác của lăng mộ vẫn còn là điều bí ẩn).

Con trai ông thì rất khác. Solomon sẽ hoàn tất sứ mạng linhl thiêng này – nhưng ông khởi nghiệp cai trị, vào khoảng 970 TCN, bằng cách ấn định các thắng lợi một cách đẫm máu.

Bathsheba, thái hậu, yêu cầu Solomon cho phép người anh khác mẹ, Adonijah, cưới người thiếp cuối cùng của Vua David, Abishag. ‘Rồi xin cho hắn vương quốc nữa phải không?’ Solomon đáp lại mỉa mai, và ra lệnh ám sát Adonisjah và thanh trừng đội cận vệ cũ của vua cha. Câu chuyện này là đoạn kết của quan thái sử viết về David nhưng cũng thực sự là đoạn đầu và duy nhất lướt qua về Solomon như một con người, vì ông sẽ trở thành kiểu mẫu tuyệt vời và minh triết một cách bí hiểm của một hoàng đế thần sầu. Mọi thứ Solomon sở hữu đều to lớn hơn và tốt đẹp hơn của bất kì ông vua nào: sự minh triết của ông sinh ra 3,000 tục ngữ và 1050 bài ca, hậu cung của ông chứa 700 bà vợ và 300 phi tần, còn quân đội của ông khoe có12,000 kỵ binh và 1,400 chiến mã xa. Những quân trang quân dụng mắc tiền của kỹ thuật quân sự đó được cất giữ trong những thị trấn kiên cố Megiddo, Gezer và Hazor, trong khi hạm đội của ông neo đậu tại Ezion-Geber trên Vịnh Aqaba.

Solomon buôn bán với Ai Cập và Cilicia gia vị và vàng, chiến mã xa và ngựa. Ông tham gia những chuyến mậu dịch xa tận Sudan và Somalia với Vua Hiram xứ Tyre, đồng minh Phoenicia của mình. Ông mời Nữ Hoàng Sheba (chắc là Saba, Yemen ngày nay), đến Jerusalem ‘với một đoàn lạc đà đông đảo chở gia vị và rất nhiều vàng và đá quý’. Vàng đến từ Ophir, ắt là Ấn Độ; đồng đến từ các mỏ của ông. Tài sản của ông dùng để làm đẹp Jerusalem: ‘Nhà vua khiến bạc ở Jerusalem nhiều như đá và gỗ tuyết tùng nhiều như cây sung dâu mọc ở thung lũng.’ Dấu ấn hùng hồn nhất nói lên uy tín quốc tế của ông là hôn nhân của ông với con gái của Pharaoh. Các vì Pharaoh gần như không bao giờ cưới con gái mình cho các ông hoàng ngoại bang – nhất là không với những dân Judaea mới phất lên gần đây từ những tộc trưởng chăn cừu trên đồi. Vậy mà Ai Cập một thời ngạo nghễ giờ đang trong thời kỳ hỗn loạn nhục nhã đến nỗi Pharaoh Siamun phải cướp phá Gezer không xa Jerusalem và, có lẽ thấy mình giờ không an toàn khi hành quân quá xa nhà, nên trao chiến lợi phẩm cho Solomon cùng với con gái mình, một vinh dự không thể nghĩ đến tại bất kỳ thời điểm nào khác. Nhưng Đền Thờ Jerusalem, do vua cha thiết kế, mới là tuyệt phẩm của ông.

‘Ngôi nhà của Chúa Trời’ phải đứng bên phải sát cung điện của Salomon trong một vệ thành linh thiêng, được Kinh thánh mô tả, phô trương những cung điện và sảnh có kích cỡ đáng kinh ngạc phủ đầy vàng và gỗ tuyết tùng, trong đó có Nhà Rừng Lebanon và Sảnh Cột nơi nhà vua xét xử.

Đây không chỉ là thành tựu của riêng người Israël. Người Phoenicia, sinh sống trong những thành bang độc lập dọc theo bờ biển Lebanon, là những thợ thủ công tinh xảo và những thương nhân đi biển Địa Trung Hải, nổi tiếng với màu tím vùng Tyre từ đó có tên dân tộc Phoenicia (phoinix,có nghĩa làtím) và với bảng chữ cái. Vua Hiram xứ Tire cung cấp không chỉ gỗ bạch và tuyết tùng mà còn những tay thợ thủ công chạm khắc các hoa văn trang trí vàng bạc. Mọi thứ đều bằng ‘vàng ròng’.

Đền Thờ không chỉ là một điện thờ, nó còn là nhà của chính Chúa Trời, một phức hợp gồm ba phần cao khoảng 33 bộ đến l 115 bộ, trong một vòng tường khép kín. Trước tiên là một cổng với hai cột đồng,Yachin và Boaz, cao 33 bộ, trang trí hoa lựu và hoa súng, dẫn đến một sân rộng lớn có cột mở ra đến bầu trời và bao quanh ba mặt là những gian phòng hai tầng có thể dùng để chứa văn kiện hoặc châu báu hoàng gia. Cổng mở ra một sảnh thiêng: 10 chiếc đèn bằng vàng đứng dọc theo tường. Một bàn bằng vàng dùng đặt bánh thánh được đặt trước một hương áng dành cho đồ cúng tế, một bồn nước và những chậu rửa tội có bánh xe với các bát bên trên để thanh tẩy, và một bồn bằng đồng gọi là Biển. Những bậc thang dẫn đến Nơi Chí Thánh,* một gian phòng nhỏ có hai tiểu thiên sứ bảo vệ, cao 17 bộ, làm bằng gỗ ô liu lát vàng lá.

Nơi Chí Thánh ở đâu? Giờ đây đó là câu hỏi bùng nổ về phương diện chính trị và một thách thức khó vượt qua cho bất kỳ thỏa thuận hòa bình nào giữa Israël và Palestine nhằm chia sẻ Jerusalem. Có nhiều giả thuyết, tùy theo kích cỡ của Núi Đền mà sau này được Herod Vĩ đại mở rộng. Hầu hết học giả cho rằng nó nằm trên một tảng đá bên trong Nhà Thờ Vòm Đá của người Hồi giáo. Một số lập luận rằng hang động lắt léo màu vàng bí mật này nguồn gốc là một hang ăn táng vào khoảng 2,000 TCN. Điều chắc chắn là vào năm 691 SCN, kha-lip Abd al-Malik chọn địa điểm này để xây dựng Nhà thờ Vòm Đá ít nhất một phần nhằm tạo ra một sự kế thừa Đền Thờ cho đạo Hồi. Người Do Thái coi Tảng Đá như khối đá nền móng của Đền Thờ.

 

Image

Địa điểm của Đền Thờ Solomon đã bị tàn phá và xây dựng lại nhiều lần đến nỗi rất ít tàn tích còn lại, trừ quả lựu bằng ngà này được khắc chữ ‘dâng cúng Nơi Chí Thánh’. Nó ắt hẳn đã được gắn trên đầu một cây trượng sử dụng trong lễ rước tôn giáo tại Đền Thờ Thứ Nhất

 

Nhưng còn thua mức nguy nga tráng lệ của công trình dành cho chính Solomon. Ông mất 7 năm để hoàn thành Đền Thờ, và 13 năm để xây dựng cung điện của mình, rộng lớn hơn. Trong nhà Chúa phải im lặng, vì thế ‘không được nghe thấy tiếng búa, tiếng rìu hoặc bất kì tiếng công cụ sắt nào trong nhà’: các thợ thủ công Phoenicia của ông phải đẽo đá, chạm khắc gỗ tuyết tùng và gỗ bách, và tạo tác các hình trang trí vàng, bạc, đồng ở Tyre trước khi chở đến Jerusalem. Vua Solomon củng cố Núi Moriah bằng cách mở rộng tường thành cũ: từ đó cái tên Zion biểu thị cả thành lũy gốc lẫn Núi Đền mới.

Khi tất cả đều hoàn thiện, Solomon triệu tập dân chúng cùng chiêm ngưỡng cảnh các giáo sĩ mang rương gỗ keo chứa Hòm Giao ước từ lều của nó trên thành lũy Zion, Thành phố David, đến Đền Thờ trên Núi Moriah. Solomon làm lễ tế tại áng thờ rồi các giáo sĩ mang Hòm Giao ước vào trong Nơi Chí Thánh và đặt nó bên dưới cánh của hai tiểu thiên sứ đồ sộ bằng vàng. Không có gì bên trong Nơi Chí Thánh trừ tiểu thiên sứ và Hòm, và không có gì bên trong Hòm – vốn chỉ rộng 2 x 4 bộ – trừ những bản luật điều của Moses. Nó lính thiêng đến nỗi không thể để thờ phụng nơi công cộng: Trong sự trống trải này ngự trị tính thần thánh vô ảnh, khổ hạnh của Yahweh, một quan niệm độc đáo của dân Israël.

 

Image

Núi Đền – tiếng Hebrew là Har haBayit, tiếng Ả Rập là Haram al-Sharif, được biết trong Kinh thánh là Núi Moriah – là tâm điểm của Jerusalem. Cấu trúc có mái vòm vàng rực là Đền thờ Vòm Đá của người Hồi giáo. Đối với nhiều người, 35 mẫu đất này vẫn còn là trung tâm của thế giới.

 

Khi giáo sĩ bước ra, ‘đám mây’ của sự Hiện diện Thần Thánh, ‘vinh quang của Chúa Trời, tràn ngập nhà Chúa.’ Solomon dâng cúng Đền Thờ trước thần dân ông, trình lên Chúa Trời: ‘Con đã xây dựng cho Ngài một ngôi nhà để ngài cư ngụ, một chốn an định cho ngài lưu trú mãi mãi,’ Chúa Trời trả lời Solomon, ‘Ta sẽ thiết lập ngôi báu của vương quốc nhà ngươi trên Israël mãi mãi, như ta đã hứa với David cha ngươi.’ Sự kiện này trở thành lễ hội đầu tiên và sẽ phát triển thành những cuộc hành hương tưng bừng theo lịch Do Thái: ‘cứ ba lần mỗi năm Solomon đến dâng hương lên áng thờ’. Ngay thời khắc đó, quan niệm về tính linh thiêng trong thế giới Do Thái – Kitô – Hồi giáo đã tìm thấy chỗ đứng vĩnh hằng của mình. Người Do Thái và những Dân tộc khác của Kinh thánh tin rằng sự Hiện diện Thần Thánh không bao giờ rời bỏ Núi Đền. Jerusalem sẽ trở thành nơi siêu phàm cho sự hiệp thông Chúa-Người trên mặt đất.

 

SOLOMON: THỜI SUY TÀN

Tất cả những Jerusalem lý tưởng, mới hay cũ, trên trời hay hạ giới, đều dựa vào sự mô tả của Kinh thánh về thành phố của Solomon. Nhưng không có nguồn tư liệu nào khác để khẳng định điều đó, và không có gì thuộc Đền Thờ của ông được tìm thấy.

Nhưng coi vậy mà không lắm ngạc nhiên. Không thể khai quật Núi Đền vì những lý do chính trị và tôn giáo, nhưng cho dù những cuộc khai quật như thế được cho phép chúng ta chắc hẳn cũng không thể tìm được vết tích nào của Đền Thờ Solomon vì nó đã bị xóa sổ ít nhất hai lần, bị san bằng tận nền đá ít nhất một lần và tu bổ lại vô số lần. Vậy mà Đền Thờ có thể tin được với kích cỡ và lối thiết kế cho dù các tác giả kinh thánh có nói hơi quá về mức lộng lẫy của nó. Đền Thờ Solomon là một điện thờ cổ điển của thời đại nó. Các đền thờ của người Phoenicia, mà Solomon dựa vào phần nào, là những tổ chức nở rộ do hàng trăm viên chức điều hành, những gái mãi dâm đền thờ mà tiền thù lao của họ đóng góp cho lợi tức đoàn thể, và thậm chí những thợ cắt tóc nội bộ cho những ai dâng cúng tóc mình cho các vị thần của họ. Cách bố trí các đền thờ Syria, được phát hiện khắp vùng, cùng với những đồ tế nhuyễn của chúng như chậu rửa tội, rất giống với những mô tả trong kinh thánh tại Đền Thờ Solomon.

Việc số lượng lớn lao vàng và ngà voi cũng hoàn toàn tin được. Một thế kỷ sau, các vì vua Israël trị vì tại những cung điện xa hoa ở Samaria gần đó nơi ngà voi của họ được phát hiện bởi các nhà khảo cổ. Kinh thánh viết rằng Solomon cúng 500 khiên vàng cho Đền Thờ trong một thời kỳ mà theo những nguồn tư liệu khác cho biết vàng rất nhiều – nhập từ Ophir, dân Ai Cập cũng khai thác vàng ở các mỏ ở Nubia. Ngay sau khi Solomon qua đời, Pharaoh Sheshonq được triều cống bằng kho vàng của Đền Thờ khi ông ta đe đọa đánh Jerusalem. Các mỏ của Solomon từ lâu được coi là huyền thoại, nhưng các mỏ đồng đã được phát hiện ở Jordan hoạt động trong thời ông trị vì. Qui mô của quân đội cũng có thể tin được khi ta biết rằng chỉ sau một thế kỷ một ông vua Israël đưa ra mặt trận đến 2,000 chiến mã xa.

Mức độ nguy nga của Solomon có thể bị phóng đại, nhưng sự suy thoái của ông thì lại quá thật: nhà vua của sự minh triết trở thành nhà độc tài không được dân chúng yêu quý. Ông chi tiêu xa xỉ cho những đền đài bằng tiền đóng thuế cao và ‘hình phạt roi’. Hai thế kỷ sau đó, các tác giả kinh thálllllnh độc thần cảm thấy ghê tởm khi kể lại việc Solomon cầu nguyện đến Yahweh và những vị thần địa phương khác, và hơn nữa ông ‘yêu thích nhiều phụ nữ lạ’.

Solomon đương đầu với những vụ nổi loạn từ Edom ở phía nam và Damascus ở phía bắc, trong khi vị tướng của ông, Jeroboam, bắt đầu vạch kế hoạch nổi loạn trong các bộ tộc phương bắc. Solomon ra lệnh ám sát Jeroboam nhưng vị tướng chuồn đến Ai Cập phò tá Sheshonq, vị Pharaoh xứ Lybia của một đế chế mới nổi lên. Vương quốc Israël đang lung lay.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.