Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 29
Chương 29

❊ ❊ ❊

BAIBARS: BÁO ĐEN

Baibars là người Thổ, tóc màu sáng và mắt xanh, gốc Trung Phi, khi còn bé đã bị bán làm nô lệ cho một hoàng thân Syria. Nhưng, dù có ngực rộng, thân hình cao lớn, ông lại có một khuyết tật: bị đục thủy tinh thể trên võng mạc ở một mắt, khiến chủ nhân phải bán nó lại cho vị sultan ở Cairo. Salih Ayyub, cháu của Saladin, mua nô lệ Thổ ‘từng đàn như mua chim’ để thành lập trung đoàn mamluk.

Image

 

Ông không tin cậy người thânvà cho rằng ‘một nô lệ thì trung thành hơn 300 con trai’. Baibars, như tất cả thanh niên nô lệ đa thần giáo, được cải sang Hồi giáo và được rèn luyện thành chiến binh-nô lệ, một mamluk. Y là tay bắn nỏ liên châu thiện xảo, một chiến binh cừ khôi đánh bại Thập Tự quân và vang danh là những Sư Tử Thổ và Hiệp sĩ Đền Thánh Hồi.

Khi đã lấy được sự tin cẩn của chủ nhân, y được giải phóng khỏi thân phận nô lệ và được đề bạt. Bọn mamluk trung thành với chủ nhân mình nhưng còn trung thành với nhau hơn nữa – nhưng suy cho cùng mỗi chiến binh mồ côi này không mang nợ ai trừ chính mình và Đấng Allah. Sau khi thanh toán vị sultan, Baibars mất trắng trong cuộc đấu tranh quyền lực và phải đào tẩu đến Syria tại đó y đầu quân cho hoàng thân có triển vọng nhất trong cuộc đấu đá nội bộ đang diễn ra khốc liệt giữa các ông hoàng địa phương. Có lúc, y đánh chiếm và cướp bóc Jerusalem. Nhưng quyền lực đang nằm ở Ai Cập nên Baibars cuối cùng được vị tướng lĩnh mới nhất, Qutuz, gọi về đó để đoạt lấy vương miện.

Khi người Mông Cổ đánh chiếm Syria bằng sức mạnh, Baibars chỉ huy đội tiên phong vội vã tiến về bắc để ngăn chặn chúng. Vào ngày 3/9/1260, Baibars đánh tan đạo quân Mông Cổ tại Suối Goliath (Ain Jalut) gần Nazareth. Bọn Mông Cổ sẽ trở lại và thậm chí đến Jerusalem lẫn nữa, nhưng đây là lần đầu tiên chúng bị chặn đứng. Nhiều vùng lãnh thổ Syria rơi vào quyền cai trị của Ai Cập và Baibars được chào đón như Cha đẻ của Thắng Lợi và Sư Tử Ai Cập. Y mong chờ một phần thưởng – quyền thống đốc Aleppo – nhưng Sultan Qutuz từ chối. Một hôm, trong khi vị sultan đang đi săn, Baibars đâm ông một dao ở lưng. Phe đảo chính gồm các tư lệnh mamluk tung hô y làm vua vì là người đã giết được vua.

Ngay sau khi chiếm quyền, Baibars lên đường đi hủy diệt căn cứ còn sót lại của Thập Tự quân trên bờ biển Palestine. Vào năm 1263, trên đường chinh chiến, ông ghé qua Jerusalem. Người Mamluk tôn kính thành phố và Baibars bắt đầu sứ mạng thánh hóa lại và sửa sang lại Núi Đền và vùng lân cận, ngày nay là Khu Hồi giáo. Ông ra lệnh làm mới lại Vòm Đá và al-Aqsa và để cạnh tranh với lễ Phục Sinh Cơ đốc, ông xúc tiến một lễ hội mới, có thể đã bắt đầu dưới triều Saladin, bằng cách xây dựng một mái vòm che lăng mộ của Nhà Tiên Tri Moses gần Jericho. Trong 8 thế kỷ sau đó, người Jerusalem cử hành lễ Nabi Musa (Tiên Tri Moses) bằng một đám rước đi từ Vòm Đá đến đền thờ Baibars tại đó họ sẽ tập họp để cầu nguyện, picnic và làm tiệc liên hoan.

Ngay góc tây-bắc của tường thành, vị Sultan xây dựng một nhà nghỉ cho dòng Sufi ưa chuộng của ông. Như nhiều người Mamluk, ông bảo trợ cho chủ nghĩa thần bí của dòng Sufi, vốn tín rằng sự thành khẩn, tụng niệm, cúng bái, nhảy múa và tự hành xác có thể đem người Hồi đến gần Thượng Đế hơn là lối cầu nguyện truyền thống cứng ngắt. Cố vấn thân cận nhất của Baibars là một tộc trưởng dòng Sufi, hai người thường xướng đọc và nhảy múa theo kinh. Baibars ngầm tin cậy tộc trưởng và làm gì cũng phải có sự tán thành của ông ta trong khi cho phép ông tổ chức cướp bóc nhà thờ và giáo đường Do Thái và treo cổ người Do Thái và Cơ đốc [1]. Đây là một thời kỳ mới: Baibars và những người kế vị ông, những người sẽ cai trị Jerusalem trong 300 năm sau, là những nhà độc tài hoặc phe phái quân phiệt khắc nghiệt và nhẫn tâm. Thời đại cũ gồm những tính cách cao thượng mà Saladin là hiện thân đã qua rồi. Người Mamluk là một tầng lớp chủ nhân ông cưỡng buộc người Do Thái phải đội khăn xếp vàng, còn người Cơ đốc phải khăn xanh. Đối với cả hai, nhưng đặc biệt người Do Thái, những ngày tháng được sống dưới luật bảo hộ đã là quá khứ. Người Mamluk nói tiếng Thổ cũng khinh thị người Ả Rập nữa và chỉ có người Mamluk là được quyền mặc áo lông thú hoặc áo giáp hoặc cưỡi ngựa trong thị trấn.

Biểu tượng của Baibars là một con báo đen đang rình mồi mà ông sử dụng để đánh dấu những thắng lợi của mình – 80 con đã được tìm thấy trên những bảng khắc chữ giữa Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ và ở Jerusalem, và chúng còn rình ngoài Cổng Sư Tử. Không biểu tượng nào thích hợp hơn cho gã cướp bóc gieo khiếp đảm này với con mắt trắng dã giờ đang lao vào một cuộc chinh phục thần tốc.

Khi ông đã thanh sát Jerusalem, ông tấn công Acre nhưng họ phòng thủ vững chắc, sau này ông sẽ quay lại đó thường. Trong khi đó, từng thành phố Thập Tự này đến thành phố Thập Tự khác, ông càn quét, giết chóc với một sự khoái trá điên cuồng đầy tính bạo dâm. Ông tiếp các đại sứ Frank tại nơi mà chung quanh là các thủ cấp người Cơ đốc, ông đóng đinh, phân thây kẻ thù, và xây những thủ cấp vào vách tường của những thị trấn thất thủ. Ông thích đánh liều đi do thám không để lộ tung tích vào đất địch, thương thảo với kẻ thù khi ngụy trang, và thậm chí khi ở Cairo ông thanh sát các cơ quan hành chính ngay giữa đêm khuya, quá lo lắng và hoang tưởng đến nỗi mắc bệnh mất ngủ và loét dạ dày.

Chỉ có Acre là thách thức được ông nhưng ông hành quân lên bắc để chinh phục Antioch, từ đó ông viết cho ông hoàng của Acre một cách lạnh lùng ‘để báo với ngài những gì chúng tôi vừa làm. Người chết được chất đống, phải chi ngài nhìn thấy kẻ thù Hồi giáo của ngài giẫm đạp lên nơi tôn nghiêm đang làm lễ Mét, cắt cổ các thầy tu tại áng thờ, lửa chạy khắp cung điện. Nếu ngài có mặt ở đây để ngắm nhìn, ngài sẽ ước gì mình chưa hề sống!’ Ông tiến vào Anatolia và tự xưng là Sultan xứ Rum. Nhưng quân Mông Cổ đã trở lại và Baibars vội vã trở về để bảo vệ Syria.

Vào ngày 1/6/1277, ông trở thành nạn nhân của chính tài khéo rùng rợn của mình, khi ông đánh thuốc độc vào thức uống qumiz – sữa ngựa lên men được người Thổ và Mông Cổ yêu chuộng – cho một vị khách. Nhưng rồi ông quên bẵng và uống nó. Thế là những người kế vị ông hoàn tất công việc của ông.

Vào ngày 18/5/1291, người Mamluk tràn vào kinh đô Frank là Acre và tàn sát gần hết quân phòng thủ, bắt làm nô lệ những người còn lại (con gái được bán với giá chỉ một drachma mỗi người). Tước hiệu Vua Jerusalem với Vua Cyprus giờ nhập lại một. Nhưng nó sống sót chỉ như một vật trang trí – và nó duy trì cho đến ngày nay. Và Vương quốc Jerusalem đã kết thúc như thế. Còn Jerusalem bằng xương bằng thịt sống dở chết dở – không còn là một thành phố đúng nghĩa, mà giống một ngôi làng già cỗi hơn, không tường bao và nửa hoang vắng, bị bọn kỵ mã Mông Cổ mặc tình cướp bóc.

Năm 1267, một khách hành hương, một giáo sĩ Do Thái ở Tây Ban Nha được biết dưới tên Ramban, than khóc cho sự suy tàn của nó:

Tôi so sánh người, bà mẹ của tôi, như người đàn bà có con trai chết trong lòng trong khi sữa vẫn căng trong ngực, phải cho đàn chó con bú mớm. Và còn hơn thế, các người yêu của bà đã bỏ rơi bà và kẻ thù cũng bỏ mặc bà, nhưng ở rất xa kia họ còn nhớ và tôn vinh Thành phố Thánh.

 

RAMBAN

Giáo sĩ Moses ben Nachman, được biết dưới từ viết tắt Hebrew là RAMBAN hoặc chỉ là Nahmanides, sửng sốt khi biết được rằng chỉ có 2,000 cư dân còn lại ở Jerusalem, chỉ có 300 người Cơ đốc và 2 người Do Thái, hai anh em, cũng là thợ nhuộm như những người Do Thái dưới thời Thập Tự Chinh. Dường như đối với người Do Thái, Jerusalem càng buồn thảm thì càng linh thiêng, càng thi vị: ‘Bất cứ thứ gì thần thánh hơn đều hoang phế hơn,’ Ramban nghĩ.

Ngài Ramban là một trong nhà trí thức tạo cảm hứng nhất của thời đại mình, một thầy thuốc, triết gia, nhà thần bí và học giả Kinh Torah. Năm 1223, ông đã bảo vệ những người Do Thái ở Barcelona chống lại lời cáo buộc tội báng bổ của dòng tu Đô-mi-ních quá khéo léo đến nỗi Vua James xứ Aragon nhận xét, ‘Tôi chưa hề thấy ai biện hộ cho một nguyên nhân sai lầm quá giỏi như thế,’ và thưởng cho Ramban 300 đồng vàng. Nhưng các thầy tu Đô-mi-ních vẫn cố gây sức ép để Ramban bị hành hình. Cuối cùng là một thỏa hiệp, ông lão thất tuần phải bị trục xuất – và lên đường đi hành hương.

Ông tin rằng người Do Thái không chỉ nên than khóc Jerusalem mà còn phải tính chuyện trở về, định cư và xây dựng lại trước khi Đấng Cứu Thế đến – điều chúng ta có thể gọi là Chủ nghĩa Lập quốc Do Thái (Zionism) về mặt tôn giáo. Chỉ Jerusalem mới có thể an ủi nỗi nhớ nhà của ông:

Ta bỏ lại gia đình, nhà cửa, con trai và con gái. Ta để lại tâm hồn ta bên con cháu thân yêu và ngọt ngào mà ta từng đặt chúng lên đầu gối. Nhưng sự mất mát của mọi cái khác đều có thể đền bù bằng niềm hoan lạc của một ngày ngồi trong khu vườn của ngươi, Ôi Jerusalem! Ta khóc đắng cay nhưng trong nước mắt là niềm hoan lạc.

Ngài Ramban chiếm hữu ‘một ngôi nhà sụp đổ được xây bằng cột đá và một mái vòm xinh xắn. Chúng tôi dùng nó làm nhà cầu nguyện vì thành phố trong cảnh hoang tàn và bất kỳ ai muốn chiếm hữu nhà cửa đổ nát đều làm thế.’ Ông cũng lấy về những cuộn Kinh Torah đã được cất giấu khi quân Mông đến, nhưng ngay sau khi ông mất, bọn kẻ cướp lại trở lại.

Nhưng lần này có một khác biệt: một số chúng là người Cơ đốc. Vào tháng 10 1299, Vua Cơ đốc xứ Armenia, Hethoum II, phi ngựa vào Jerusalem với 10,000 quân Mông. Thành phố rên siết dưới một trận cướp bóc man rợ khác và một ít người Cơ đốc trốn trong những hang động vì quá sợ hãi. Tướng Mông Il-Khan gần đây đã cải sang đạo Hồi nhưng người Mông không mấy quan tâm đến Jerusalem vì họ để nó cho Hethoum. Ông cứu vớt những người Cơ đốc, tổ chức lễ lạc trong Mộ Thánh và ra lệnh tu sửa nhà thờ St James và Nhà Mộ Nữ Đồng Trinh – và rồi, kỳ lạ thay, sau đúng hai tuần, ông quay về với ông chủ Mông Cổ của mình ở Damascus.

Tuy nhiên sự giao đấu tay đôi dài một thế kỷ giữa Mamluk và Mông Cổ đã qua và một lần nữa sức thu hút của Jerusalem thần thánh lại kéo thế giới trở lại. Ở Cairo, một vị sultan mới lên ngôi, Nasir Muhammad, rất tôn kính Jerusalem – trong số những điều khác, ông còn tự xưng mình là ‘Sultan al-Quds’ (tức Sultan Jerusalem). Và theo lời của sử gia hàng đầu của thời kỳ này, ‘ông có lẽ là vị sultan Mamluk vĩ đại nhất mà cũng bẩn thỉu nhất.’

 

NASIR MUHAMMAD: CHIM ƯNG SẮC SẢO

Ngay từ lúc 8 tuổi, ông đã bị ném qua lại giữa các tư lệnh trong phe quân sự cầm đầu Mamluk một cách không thương tiếc như một con búp bê hoàng gia. Hai lần ông được đưa lên ngôi và hai lần bị hạ bệ. Ông là con trai thứ của một nô lệ đã vươn lên trở thành vị sultan lớn và người anh của ông, người chinh phục Acre, đã bị ám sát, vì thế khi

Nasir Muhammad chiếm được ngôi vua lần thứ ba ở tuổi 26, ông quyết tâm sẽ nắm giữ nó. Biểu tượng chim ưng của ông thích hợp với phong cách ông – sự lẫm liệt thẩm mỹ, sự hoang tưởng như chim ưng và cú sà xuống của tử thần bất ngờ. Các đồng chí của ông được thăng chức và trọng thưởng – nhưng rồi bị xiết cổ, phân thây, đầu độc mà không được cảnh báo và dường như ông thích ngựa hơn người: vị sultan khập khiễng được cho là có thể kể ra huyết thống của tất cả 7,800 ngựa đua và thường trả tiền mua một con ngựa còn cao hơn mua một thanh niên nô lệ cường tráng nhất. Vậy mà mọi thứ ông làm – cuộc hôn nhân của ông với hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, 25 đứa con của ông, 1,200 thê thiếp – ông làm với sự hoành tráng chi li mà ông mang theo đến Jerusalem.

Năm 1317, chính ông hành hương đến đó và tiến hành chứng tỏ cho các tướng lĩnh của ông thấy rằng nhiệm vụ thiêng liêng của họ là làm đẹp Núi Đền và những đường phố quanh đó. Được sự trợ giúp của người bạn thân nhất đồng thời cũng là tể tướng Syria, Tankiz, vị sultan củng cố lại Tháp David, bổ sung một thánh đường Ngày Thứ Sáu cho quân đồn trú, và dựng lên những dãy cột đồ sộ và nhữngmadrasa (trường dạy giáo lý Hồi giáo) trên Núi Đền, lợp lại Vòm Đá và al-Aqsa, bổ sung các tháp canh tại Cổng Dây Xích, và Cổng Người Bán Bông Vải và Chợ Bán Bông Vải – tất cả những kiến trúc này đến nay vẫn còn đó.

Nasir ưu ái cách thức dòng tu Sufi tiếp cận Thượng Đế nên xây dựng 5 tu viện cho các dòng tu thần bí này. Trong những nơi cư trú mới sáng loáng, họ phục hồi một số ma thuật linh thiêng tại Jerusalem bằng những điệu nhảy, hát ca, xuất thần và đôi khi tự cắt xẻo da thịt, tất cả đều để hoàn thành cảm xúc cao ngất cần có trên đường tiếp cận Thượng Đế.

Các bộ hạ của Sultan hiểu được thông điệp ông muốn truyền đạt cho mình: ông và những người kế vị ông lưu đày cácamir thấtsủng đến Jerusalem để tiêu pha của cải họ kiếm được một cách bất chính vào những phức hợp nguy nga các lâu đài, trường dạy giáo lý và lăng mộ. Càng ở gần Núi Đền, họ càng sớm sống dậy vào Ngày Phán Xét. Họ kiến tạo nên các tiểu cấu trúc có cung vòm bề thế rồi xây dựng phía trên đó những tòa nhà chen chúc một cách khéo léo lên mái của những tòa nhà có trước chung quanh các cổng của Điện Thờ Tôn Quí.

Nasir đến Jerusalem – hoặc ít nhất Khu Hồi giáo – trong bụi bặm và mạng nhện và rời nó trong đá hoa, vì thế khi Ibn Battutah viếng thăm, ông thấy thành phố ‘to lớn và bề thế’. Những khách hành hương Hồi giáo ùa về al-Quds (tức Jerusalem), khám phá từ địa ngục Gehenna đến thiên đường Vòm Đá và đọc sáchfadail (Đời các Tiên Tri)dạy họ rằng ‘phạm một tội ở Jerusalem bằng phạm 1,000 tội ở nơi khác và làm một điều thiện ở đó bằng làm 1,000 điều thiện ở nơi khác’. Ai được sống ở đó ‘giống như một chiến binh củajihad,’trong khi chết ở đó ‘như chết ở thiên đường’. Tính thần bí của Jerusalem nở rộ đến mức độ người Hồi giáo hành lễ trở lại việc đi chung quanh, hôn hít và xức dầu Tảng Đá mà họ đã ngưng làm từ thế kỷ thứ 7. Học giả theo chủ nghĩa cơ yếu Ibn Taymiyya xỉ vả Nasir và những trò mê tín Sufi, cảnh báo rằng Jerusalem chỉ được xếp hạng là một điểm tham quan tôn giáo, không thể so sánh được với chuyến hành hương đến Mecca. Vị sultan liền tống người bất đồng chính kiến thuần khiết này vào ngục thất 6 lần nhưng vô ích và Ibn Taymiyya tạo ra cảm hứng cho chủ nghĩa Wahabiism (phong trào Hồi giáo siêu cực đoan) khắt khe của Ả Rập Saudi và bọn Thánh chiến Hồi giáo ngày nay.

Vị sultan sắc sảo không còn tin cậy những Mamluk Thổ giờ đã là những ông lớn có thể lực vì thế ông bắt đầu mua những thanh niên nô lệ Georgia hoặc Circassia từ vùng Caucasus để làm đội cận vệ và họ gây ảnh hưởng đến các quyết định của ông về Jerusalem: ông giao Nhà Thờ Mộ Thánh cho người Georgia. Nhưng người Latinh cũng không quên nó: vào năm 1333, ông cho phép Vua Robert xứ Naples sửa sang các bộ phận của Nhà Thờ và sở hữu Cenacle trên Núi Zion tại đó ông ta khởi công xây một tu viện dòng Francis.

Con hổ đang bệnh thì nguy hiểm nhất. Vị sultan lâm bệnh. Vì ông đã nâng đỡ người bạn Tankiz khiến y trở nên quá quyền lực đến nỗi ông phát sợ. Vì thế vào năm 1340, Tankiz bị bắt và bị đầu độc. Còn Nasir cũng mất một năm sau đó, nhiều con trai ông lên kế vị. Nhưng cuối cùng, những chiến binh nô lệ mới vùng Caucasus lật đổ vương triều, lập ra một triều đại mới các sultan dành ưu ái cho người Georgia ở Jerusalem. Ngược lại, những người Latinh Thiên chúa – những hậu duệ của Thập Tự quân bị thù ghét – phải chịu ách áp bức của người Mamluk mà những cơn bùng phát bạo lực của họ gieo khiếp đảm cho người Cơ đốc và Do Thái. Khi vua xứ Cyprus tấn công Alexandria vào năm 1365, Nhà Thờ bị đóng cửa và các thầy tu dòng Francis bị lôi đi hành hình công khai ở Damascus. Dòng Francis được phép trở lại nhưng người Mamluk xây những tháp cao để che khuất Nhà Thờ và Giáo đường Ramban nhằm khẳng định tính ưu việt của đạo Hồi.

Năm 1399, nhà chinh phục Trung Á đáng sợ Tamurlane đánh chiếm Baghdad và tràn vào Syria đúng lúc vị sultan trẻ Mamluk cùng ông thầy lên đường đi hành hương Jerusalem.

❀ ❀ ❀

[1] Thầy dòng Sufi của Baibars, Tộc trưởng Khadir, trở nên có nhiều quyền lực đến nỗi y có thể quyến rũ các bà vợ, con trai và con gái của các vị tướng Mamluk trong một thời trị vì khủng bố. Nó chỉ kết thúc khi họ đưa ra đủ chứng cứ đến nỗi ông buộc phải ra lệnh bắt giữ Khadir vì tội ngoại tình và kê gian. Y khỏi tội chết chỉ vì y tiên đoán là cái chết của Baibars sẽ đi liền sau cái chết của y.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.