Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 47
Chương 47

❊ ❊ ❊

WOODROW WILSON Ở VERSAILLES

Gặp nhau ở London một ít tuần đầu, Lloyd George và Thủ tướng Pháp Georges Clemenceau bàn việc chia chác ở Trung Đông. Để lấy Syria, Clemenceau đang dàn xếp:

CLEMENCEAU: ‘Hãy nói tôi biết ý muốn của ngài.’

LLOYD GEORGE: ‘Tôi muốn Mosul.’

CLEMENCEAU: ‘Ngài sẽ có được Mosul. Còn gì nữa không?’

LLOYD GEORGE: ‘Vâng tôi cũng muốn Jerusalem!’

CLEMENCEAU: ‘Ngài sẽ có Jerusalem.’

Vào tháng 1 năm 1919, Woodrow Wilson, vị tổng thống đầu tiên của Mỹ rời khỏi nước Mỹ trong nhiệm kỳ, đến Versailles để dàn xếp nền hòa bình với Lloyd George và Clemenceau. Những vai chính ở Trung Đông đến để lốp bi những kẻ chiến thắng, với Faisal, có Lawrence đồng hành, ra sức ngăn trở quyền kiểm soát của Pháp ở Syria; và Weizmann hy vọng sẽ giữ được người Anh ở Palestine và tranh thủ được sự công nhận của quốc tế cho Tuyên bố Balfour. Ngay sự hiện diện của Lawrence, với vai trò cố vấn của Faisal, mặc quân phục Anh nhưng đội khăn xếp Ả Rập, khiến người Pháp bực bội. Họ cố tìm cách loại ông ra khỏi bàn hội nghị.

Wilson, nguyên giáo sư tại Virginia theo chủ nghĩa lý tưởng đã biến thành chính trị gia Dân chủ và giờ đây là trọng tài quốc tế, tuyên bố rằng ‘mỗi vùng định cư lãnh thổ liên quan đến cuộc chiến này phải được thực thi trong những quan tâm và lợi ích của các dân chúng liên quan’. Ông từ khước hậu thuẫn việc cắt xén kiểu đế quốc vùng Trung Đông. Ba ông lớn chẳng mấy chốc hiềm khích nhau. Wilson coi Lloyd George là ‘trơn tuột’. Ngài Clemenceau 78 tuổi, bị kẹp giữa ngài Wilson biết lẽ phải và ngài Lloyd George muốn chiếm đất, phàn nàn, ‘Tôi thấy mình đứng giữa Jesus Christ và Napoleon Bonaparte.’ Trong một căn phòng ốp gỗ ở Paris, kê đầy sách vở, ba vị thần Olympia này sẽ định hình lại thế giới, một viễn cảnh khiến Balfour vui thích khi ông theo dõi một cách khinh thị ‘ba nhân vật toàn năng, toàn dốt nát đang cắt xẻo các lục địa’.

Những ham hố của Clemenceau cũng sống sượng chẳng kém của Lloyd George. Khi Clemenceau đồng ý gặp Lawrence, ông biện minh cho việc mình đòi Syria bằng lời giải thích rằng người Pháp đã cai trị Palestine trong thời Thập Tự Chinh: ‘Vâng,’ Lawrence đáp lại, ‘nhưng Thập Tự Chinh đã thất bại.’ Ngoài ra, các Thập Tự Chinh chưa hề chiếm được Damascus, đích nhắm chủ yếu của Clemenceau và trung tâm của những khát vọng dân tộc Ả Rập. Người Pháp còn hy vọng chia sẻ Jerusalem bằng kế hoạch Sykes-Picot, nhưng người Anh giờ đây đã bác bỏ hiệp ước đó.

Tổng thống Mỹ. đã ủng hộ Tuyên bố Balfour. Ông chịu ảnh hưởng của văn hóa Do Thái Tin Lành lẫn cố vấn của ông, Louis Brandeis, một người Do Thái ở Kentucky đã được ông bổ nhiệm vào Tối cao Pháp viện. Brandeis, được biết dưới biệt danh ‘Luật sư của Quần chúng’, là một con người mẫu mực chính trực của sự thông thái và tinh thần phục vụ cộng đồng. Trong năm 1914, chỉ có 15,000 trong số 3 triệu người Do Thái Mỹ là thành viên của Liên đoàn Zionist Hoa Kỳ do ông thành lập. Nhưng đến 1917, có đến hàng trăm ngàn người Do Thái Mỹ đã tham gia; các người Cơ đốc phúc âm đang lốp bi cho Zionism; và cựu Tổng thống Teddy Roosevelt, người đã từng đến thăm Thành phố Thánh với cha mẹ khi còn bé, cũng ủng hộ ‘một nhà nước Do Thái chung quanh Jerusalem’.

Dù sao đi nữa thì Wilson phải đương đầu với sự xung đột giữa Zionism và quyền tự quyết của người Ả Rập. Tại một thời điểm người Anh đề xuất Mỹ nhận quyền ủy thác – một từ mới mô tả điều gì đó ở giữa sự bảo hộ và sự cai trị. Wilson thực sự có xét đến khả năng đó. Nhưng, đối mặt với sự tranh giành đất Palestine của Anh-Pháp và Syria, ông phái một ủy ban Mỹ đến điều tra nguyện vọng của người Ả Rập. Ủy ban King-Crane báo cáo rằng phần đông người Ả Rập ở Palestine và Syria muốn sống trong vương quốc Đại Syria của Faisal – dưới sự bảo hộ của Mỹ. Nhưng những kết quả này cho thấy không thích hợp khi Wilson không thể kềm chế những bạn đồng minh đế quốc. Còn phải mất hai năm cho Hội Quốc Liên mới ra đời khẳng định rằng người Anh được Palestine và người Pháp lấy Syria – mà Lawrence gọi là ‘trò lươn lẹo ủy thác’.

Vào ngày 8/3/1920, Faisal được tuyên bố là vua Syria (bao gồm Lebanon và Palestine) và bổ nhiệm Said al-Husseini ở Jerusalem làm ngoại trưởng. Sự phấn khích do một vương quốc mới ra đời khiến người Ả Rập ở Palestine bạo dạn đứng lên chống lại mối đe đọa Zionist. Weizmann cảnh báo là có thể xảy ra lộn xộn. Jabotinsky và Pinkhas Rutenberg, nhà cách mạng Nga trước đây, thành lập lực lượng tự vệ gồm 600 người. Nhưng Storrs phớt lờ hồi chuông báo động.

 

STORRS: CUỘC NỔI LOẠN NABI MUSA – NHỮNG PHÁT SÚNG ĐẦU TIÊN

Vào sáng Chủ nhật 20/4/1920, trong một thành phố căng thẳng với người hành hương Do Thái và Cơ đốc, 60,000 nguòi Ả Rập tụ tập làm lễ Nani Musa, do người nhà Husseini cầm đầu. Người viết nhật ký Wasif cũng ngắm nhìn họ hát những ca khúc chống đối Tuyên bố Balfour. Em trai của vị mufti, Haj Amin al-Husseini, khích động đám đông, giơ cao bức chân dung Faisal: ‘Đây là Vua chúng ta!’ Đám đông hét lên, ‘Palestine là đất chúng ta, bọn Do Thái là con chó của chúng ta!’ và đổ về Thành phố Cổ. Một ông già Do Thái bị gậy đập chết.

Thình lình, Khalil Sakakini nhớ lại, ‘sự náo nhiệt biến thành cơn điên loạn’. Nhiều người rút dao găm và chày vồ, la lên, ‘Tôn giáo của Muhammad được dựng lên bằng gươm giáo!’ Jawhariyyeh nhận xét, ‘Thành phố đã biến thành bãi chiến trường’. Đám đông đồng thanh hô vang ‘Tàn sát họn Do Thái!’ Cả Sakakini lẫn Wasif đều ghét bạo lực nhưng cũng bắt đầu ghê tởm không chỉ người Zionist mà cũng người Anh nữa.

STORRS bước ra khỏi Nhà Thờ Anh sau lượt kinh sáng và bổng thấy thành phố Jerusalem chìm trong cơn hỗn loạn. Ông chạy vội đến bộ chỉ huy đặt trong Nhà An Dưỡng Áo, cảm thấy như có ai đó ‘đã thọc một lưỡi kiếm vào tim mình’. STORRS chỉ có 188 cảnh sát ở Jerusalem. Khi cơn bạo loạn lên cao vào ngày hôm sau, người Do Thái sợ rằng mình sẽ bị quét sạch. Weizmann xông vào văn phòng Storrs xin cứu giúp; còn Jabotinsky và Rutenberg thì chụp lấy súng lục và huy động 200 người tại sở chỉ huy cảnh sát ở Phức hợp Nga. Khi Storrs ngăn cấm việc này, Jabotinsky tuần tra bên ngoài Thành phố Cổ, đấu súng với các tay súng Ả Rập – đây là ngày trận đấu súng thực sự bắt đầu. Trong Thành phố Cổ, một số đường phố ở Khu Do Thái bị bao vây, và bọn Ả Rập lẻn vào hiếp dâm tập thể các thiếu nữ Do Thái. Trong khi người Anh đang ra sức giữ gìn trật tự nghi lễ Lửa Thánh, thì một người Syria dời đi chiếc ghế của người Coptic thế là ‘địa ngục bùng phát’, và các cửa Nhà Thờ bắt lửa trong cuộc xô xát. Khi một viên chức Anh rời Nhà Thờ Mộ Thánh, một bé gái Ả Rập ngã xuống từ một cửa sổ gần đó, bị một viên đạn lạc bắn trúng.

Nehemia Rubitzov, một trong những người được Jabotinsky tuyển mộ, cùng một đồng sự giấu súng lục dưới lớp áo cứu thương trắng, đi vào Thành phố Cổ trên xe cứu thương để tổ chức việc phòng thủ. Rubitzov, quê quán Ukrainia, đã từng được Ben-Gurion tuyển mộ vào Quân đoàn Do Thái, thay tên là Rabin. Hiện giờ, khi ông vỗ yên những người dân Do Thái hoảng sợ, ông gặp được và giải cứu ‘Hoa hồng Đỏ’ Cohen, một cựu đảng viên Bôn-se-vich vừa từ Nga đến: họ yêu nhau và kết hôn. ‘Tôi sinh ra tại Jerusalem’, con trai họ nói. Anh là Yitzhak Rabin, nhiều năm sau với chức vụ tham mưu trưởng Israël anh sẽ đánh chiếm Jerusalem.

 

HERBERT SAMUEL CHỦ NHÂN MỚI CỦA PALESTINE

Khi vụ bạo loạn đã lắng xuống, 5 người Do Thái và 4 người Ả Rập bi giết chết, 216 Do Thái và 23 Ả Rập bị thương. 39 Do Thái và 161 Ả Rập bị đưa ra xét xử vì tội tham gia vào sự kiện được biết duới tên Bạo Loạn Nabi Musa. Storrs ra lệnh bố ráp nhà cửa của Weizmann và Jabotinsky: Jabotinsky bị kết tội sở hữu súng và bị kêu án 15 năm tù. Amin Husseini – ‘người chủ mưu’ cuộc bạo loạn, theo lời Storrs – bị kết án 10 năm. Nhưng y đào thoát khỏi Jerusalem. Storrs cách chức Thị trưởng Musa Kazem Husseini, mặc dù người Anh ngây thơ đổ lỗi cho các thành viên Bôn-se-vich Do Thái từ Nga đến gây ra bạo loạn.

Weizmann cấp tiến và Ben-Gurion xã hội chủ nghĩa tiếp tục hy vọng về một tổ quốc sẽ tiến hóa dần dần và một phương cách sống chung với người Ả Rập. Ben-Gurion không chịu công nhận chủ nghĩa dân tộc Ả Rập: ông muốn các công nhân Ả Rập và Do Thái chia sẻ ‘một cuộc sống hài hòa và thân hữu’, nhưng đôi khi ông phải thốt lên, ‘Không thể có giải pháp! Chúng ta muốn xứ sở là của chúng ta. Người Ả Rập muốn xứ sở là của họ!’ Người Zionist giờ bắt đầu tái tổ chức bộ phận Hashomer – Người Canh Gác – cũ của họ thành một tổ chức dân quân hiệu quả hơn, Haganah – Phòng Ngự.

Còn Jabotinsky thì quyết liệt chủ trương khối thịnh vượng chung Do Thái của ông sẽ được thành lập với ‘sự bình đẳng tuyệt đối’ giữa hai dân tộc và không có chuyện người Ả Rập phải dời đi. Khi Benito Mussolini lên nắm quyền lực vào năm 1922, Jabotinsky chế giễu sự tôn sùng Il Duce (Danh hiệu của Mussolini, có nghĩa là ‘Nhà Lãnh Đạo’ – ‘Cái từ vô lý nhất trong tiếng Anh – nhà lãnh đạo (người dẫn đường). Mấy con bò đi theo một con dẫn đường. Nhưng người văn minh không cần có “người dẫn đường”.’

Vua Faisal, niềm hy vọng của các nhà dân tộc chủ nghĩa Ả Rập – bị đọa đày vì người Pháp quyết tâm sở hữu Syria. Người Pháp cưỡng chế đánh đuổi nhà vua và đập tan quân đội còm cõi của ông, hoàn toàn làm kế hoạch của Lawrence sụp đổ. Việc chấm dứt Đại Syria và những cuộc nổi loạn giúp hình thành nhân dạng quốc gia Palestine.

Vào ngày 24/4/1920, tại Hội nghị San Remo, Lloyd George chấp nhận Quyền Ủy thác để cai trị Jerusalem, dựa vào Tuyên bố Balfour, và bổ nhiệm Sir Herbert Samuel làm cao ủy thứ nhất. Ông đến ga tàu hỏa Jerusalem vào ngày 30/6, long trọng trong lễ phục trắng, mũ cao gắn lông và một thanh kiếm trong 17 tiếng đại bác chào mừng. Sau đó ngài thống đốc quân sự trao lại ông quyền kiểm soát Palestine.

Lúc đầu sự tinh tế điềm đạm của Samuel vỗ yên Palestine sau cú sốc Nabi Musa. Đặt văn phòng Chính quyền tại Augusta Victoria trên Núi Olives, ông thả Jabotinsky, tha tội Amin Husseini, tạm thời hạn chế người Do Thái nhập cư và trấn an người Ả Rập. Các mối quan tâm của người Anh không còn như hồi năm 1917. Curzon, giờ là ngoại trưởng, chống đối sự hậu thuẫn quá mức đối với Zionism và cho những hứa hẹn của Balfour như nước chảy qua cầu. Sẽ có quê nhà cho người Do Thái nhưng nhà nước thì bây giờ và sau này thì chưa. Weizmann cảm thấy bị phản bội nhưng người Ả Rập thậm chí coi điều này là thảm họa. Năm 1921, tổng số 18,500 người Do Thái đã đến Palestine. Trong tám năm sau, Samuel cho phép thêm 70,000 người nữa vào.

Vào mùa xuân 1921, xếp của Samuel là Winston Churchill, ngoại trưởng về vấn đề thuộc địa, đến Jerusalem, tháp tùng có cố vấn của ông là Lawrence xứ Arabia.

 

CHURCHILL LẬP RA TRUNG ĐÔNG HIỆN ĐẠI: GIẢI PHÁP SHERIF CỦA LAWRENCE

Churchill đã tận hưởng một sự nghiệp với những chuyến phiêu lưu giang hồ, sự thăng tiến đầy tự mãn và thành tựu khó cưỡng. Giờ trong tuổi tứ tuần, viên bộ trưởng thuộc địa đối mặt với tổn thất cao về xương máu và chi phí nuôi đạo quân đồn trú trong một đế chế mới: Iraq đang tiến hành nổi dậy đẫm máu chống ách cai trị của Anh. Vì vậy Churchill triệu tập một hội nghị ở Cairo để giao bớt quyền lực cho các nhà cai trị Ả Rập dưới ảnh hưởng của Anh. Lawrence đề xuất một vương quốc Iraq mới cho Faisal.

Vào ngày 12/3/1920, Churchill hội họp với các chuyên gia Ả Rập của minh tại Khách sạn Semiramis trong khi một cặp sư tử con đang quấn quýt dưới chân họ. ‘Chúng tôi cư ngụ trong một khách sạn đồng đá,’ Lawrence viết. ‘Rất sang trọng, và xa hoa. Mọi người ở Trung Đông đều có mặt ở đây. Ngay mốt chúng tôi sẽ đến Jerusalem. Chúng tôi như một gia đình hạnh phúc: nhất trí về những vấn đề trọng yếu’ – nói cách khác, Churchill đã chấp nhận ‘giải pháp Sherif’: Lawrence cuối cùng cũng đã lấy lại được danh dự sau những hứa hẹn mà người Anh đã bội ước đối với vị Sherif và các con trai ông.

Vị Sherif già, Vua Hussein xứ Hejaz, không thể địch nổi những chiến binh Wahabi do thủ lĩnh Saudi Ibn Saud cầm đầu.

Vua Hussein đã già lúc nào cũng bị ám ảnh bởi sự bất hiếu của các con và sự dối trá của người Anh. Trong sứ mạng cuối cùng của mình, Lawrence được phái đi thuyết phục vị vua cay cú hãy thỏa hiệp với sự bá quyền của Anh và Pháp, nếu không sẽ mất sự tài trợ của Anh. Ông khóc, nổi giận và khước từ. Không lâu sau đó, ông bị Ibn Saud đánh bại và phải thoái vị cho con trưởng lên kế vị, trở thành vua Ali. Nhưng quân Saudi đánh chiếm Mecca, Ali bị tống khứ và Ibn Saudi tự xưng là vua xứ Hejaz, rồi xứ Saudi Arabia. Hai vương quốc này vẫn còn được cai trị bởi gia đình họ – Saudi Arabia và Hashemite Jordan.

 

Khi con trai ông Abdullah ra sức đẩy lùi quân Saudi với 1,350 chiến sĩ, họ bị đánh tan tác: Abdullah phải thoát chạy qua phía sau lều, mặc nguyên quần lót, sống sót như một phép lạ. Họ đã dự trù Faisal sẽ cai trị Syria-Palestine và Abdullah sẽ là vua Iraq. Giờ thì Faisal đang chiếm được Iraq, còn Abdullah thì không có gì.

Trong khi hội nghị Churchill đang tiến hành ở Cairo, Abdullah dẫn 30 sĩ quan và 200 người Bedouin vào nơi ngày nay là Jordan – về kỹ thuật là bộ phận thuộc Quyền Ủy thác của Anh – để chiếm lấy lãnh địa khiêm nhượng cho mình. Tin tức về hành động ngang ngược này đưa ra cho Churchill như một sự kiện đã rồi. Lawrence khuyên ông nên hậu thuẫn Abdullah. Churchill phái Lawrence đến mời ông hoàng đến Jerusalem gặp ông.

Vào nửa đêm ngày 23/3, Churchill và bà vợ Clementine khởi hành đi Jerusalem bằng tàu hỏa, và được một đám đông nhiệt tình chào đón tại Gaza, hô vang ‘Hoan hô bộ trưởng’ và ‘Đả đảo Do Thái! Cắt cổ Do Thái!’ Churchill, không hiểu gì, vẫy chào một cách thân thiện.

Ở Jerusalem ông dừng chân với Samuel tại Augusta Victoria. Tại đó ông gặp gỡ bốn lần với ông hoàng Abdullah ‘ôn hòa và thân thiện’, người sở hữu đầy hy vọng vùng TransJordan, được Lawrence hộ tống. Abdullah, người hy vọng có được một đế chế Hashemite, cho rằng cách tốt nhất cho người Do Thái và Ả Rập sống chung hòa bình sẽ là một vương quốc dưới quyền ông ta và bổ sung Syria về sau. Churchill giao ông Transjordan miễn là ông công nhận Syria thuộc Pháp và Palestine thuộc Anh. Abdullah miễn cưỡng chấp thuận, do đó Churchill lập một xứ mới: ‘Amir Abdullah ở trong Transjordania,’ ông nhớ, ‘nơi tôi đặt ông ở đó vào một buổi chiều Chủ nhật tại Jerusalem.’ Sứ mạng của Lawrence, người cuối cùng đã dẫn dắt Faisal và Abdullah lên hai ngôi vua, đã hoàn tất. [1]

Những người Ả Rập Palestine phàn nàn với Churchill rằng ‘Người Do Thái từng là những nguời chủ trương tích cực nhất cho sự huỷ diệt và người Zionist muốn điều khiển thế giới’. Churchill tiếp các cư dân Jerusalem do cựu thị trưởng Musa Kazim al-Husseini cầm đầu, nhưng nhấn mạnh rằng ‘rõ ràng việc người Do Thái nên có được một lãnh thổ lập quốc là đúng, đó là một sự kiện vĩ đại trong vận mệnh thế giới’.

Cha của Churchill đã dạy ông thấm nhuần lòng ngưỡng mộ đối với người Do Thái và ông thấy Zionism như là một kết cục chính đáng sau hai ngàn năm khổ nhục. Trong thời kỳ khủng bố Đỏ sau khi Lênin thành lập nước Nga Xô-viết, ông tin rằng người Do Thái Zionist là ‘thuốc giải độc’ cho ‘tính cách hiểm độc, càn quấy của chủ nghĩa Bôn-se-vich ‘vốn là một phong trào Do Thái’ do một tên quỷ quái cầm đầu gọi là ‘Do Thái Quốc tế’. [2]

Trong dịp khánh thành Nghĩa trang Quân đội Anh trên Núi Scopus, Churchill tuyên bố, Jerusalem là nơi ‘đã an nghỉ tro cốt của những vị Kha-lip và các Thập Tự quân và nhà Maccabee!’ Ông thường lui tới Núi Đền bất cứ khi nào có thể. Trước khi quay về Anh, ông còn họp trên Núi Olives khi vị mufti của Jerusalem bất ngờ qua đời. Storrs đã cách chức thị trưởng Husseini vì thế có vẻ phũ phàng nếu cũng lấy đi chức vụ mufti của gia đình. Ngoài ra, người Anh để ý đến uy lực của các Đại gia giống như của tầng lớp quý tộc của họ. Vì vậy Samuel và Storrs sắp xếp chức thị trưởng và chức mufti sẽ được hai gia đình lừng lẫy nhất nắm giữ: những hiềm khích của họ sẽ làm họ trở thành như hai nhà Montagues và Capulets của Jerusalem (đây là hai dòng họ có mối thù truyền kiếp trong tác phẩm Romeo and Juliet của Shakespeare: ND)

 

service-pnp-cph-3b10000-3b12000-3b12900-3b12983r

Lawrence xứ Arabia và Amir Abdullah đi theo Winston Churchill qua khu vườn trong Augusta Victoria vào năm 1921: Bộ trưởng Thuộc địa Anh tạo ra một lãnh địa mới Transjordan cho Hashemite Abdullah.

❀ ❀ ❀

[1] Sau đó ông lui về viết hồi ký. Ông nói đùa, ‘Tôi thích nói dối hơn nói thật, nhất là về những chuyện liên quan đến tôi.’ Sau đó, ông thay đổi tên, gia nhập không lực và về hưu trong sự quên lãng, và mất trong một tai nạn mô tô vào năm 1935.

[2] Ý chỉ Trotsky, người Cộng sản gốc Do Thái chỉ đứng sau Lênin, chủ trương phong trào Quốc tế Cộng sản. (ND).

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.