BERENICE HOÀNG HẬU CHÂN TRẦN: CÁCH MẠNG
Berenice đích thân đi chân trần đến Toà án binh (Praetorium) – cũng trên con đường mà Jesus hẳn đã đi qua từ dinh Herod Antipas đến Pilate 30 năm trước. Berenice xinh đẹp – con gái và em gái của các vì vua, và hai lần làm hoàng hậu – đang trên chuyến hành hương đến Jerusalem, để cảm tạ Chúa Trời giúp bà vượt qua cơn bạo bệnh, nhịn ăn 30 ngày và cạo đầu (một sự kiện khá ngạc nhiên đối với một người dòng Herod đã La Mã hóa). Giờ thì bà quỳ mọp xuống trước Florus để khẩn khoản xin y dừng tay, nhưng y còn muốn trả thù và cướp bóc. Khi đoàn quân tiếp viện của y đến gần Jerusalem, người Do Thái chia rẽ giữa một bên tha thiết giảng hòa với quân La Mã và bên quá khích sẵn sàng đánh nhau, có lẽ với hi vọng tranh thủ được nền độc lập có giới hạn dưới sự thống trị của người La Mã.
Các giáo sĩ trong Đền Thờ đem ra những bình thánh, rắc tro tang lên tóc mình, mong kềm chế hành động hung hăng của bọn trẻ nổi dậy. Người Do Thái bước ra ngoài một cách hòa bình tiếp đón sư đoàn La Mã, nhưng theo chỉ thị của Florus kỵ binh xông tới đạp lên người họ. Đám đông giẫm đạp chạy vào cổng thành khiến nhiều người ngạt thở. Florus liền cho binh lính tấn công về hướng Núi Đền, hi vọng chiếm được Pháo đài Antonia chiến lược. Để đáp trả người Do Thái oanh kích người La Mã bằng giáo từ trên mái nhà, chiếm đóng Antonia và chặt đứt những chiếc cầu dẫn vào Đền Thờ, biến nó thành một pháo đài riêng biệt.
Ngay lúc Florus bỏ đi, Herod Agrippa cũng vừa từ Alexandria trở về. Nhà vua triệu tập một hội đồng người Jerusalem trong Thành Thượng bên dưới Cung điện của mình. Khi Berenice lắng nghe từ trên mái cung điện an toàn, Agrippa cầu xin người Do Thái hãy dừng ngay cuộc nổi dậy: ‘Đừng liều lĩnh chống đối đế chế La Mã. Chiến tranh, một khi đã nổi lên rồi, khó mà dẹp xuống.’ Quyền lực La Mã là vô địch khắp trên mọi miền đất có người ở trên mặt đất này. Hãy thương xót, nếu không vì vợ con các ngươi, thì hãy thương xót kinh thành này – hãy bảo tồn Đền Thờ!’ Agrippa và em gái mình khóc òa giữa hội đồng. Người Jerusalem hô to họ chỉ muốn đánh Florus. Agrippa bảo họ hãy nộp triều cống. Dân chúng đồng ý và Agrippa dẫn họ đến Đền Thờ để sắp xếp những động thái hòa bình. Nhưng khi ở Núi Đền, nghe Agrippa khăng khăng đòi người Do Thái phải vâng lời Florus cho đến khi một quan đại diện khác đến thay thế, đám đông liền phẫn nộ trở lại.
Các giáo sĩ, trong đó có Josephus, gặp nhau trong Đền để thảo luận về việc có nên ngưng hiến tế mỗi ngày cho hoàng đế La Mã, một hành động biểu thị lòng trung thành với La Mã. Hành động cương quyết này của cuộc nổi dậy được tán thành – ‘nền móng của chiến tranh với La Mã’, Josephus viết, chính ông cũng tham gia phe nổi dậy. Khi phe nổi dậy chiếm Đền Thờ và nhóm chức sắc ôn hòa chiếm Thành Thượng, các phe phái Do Thái oanh kích nhau bằng ná và giáo.
Agrippa và Berenice rời Jerusalem, phái 3,000 kỵ binh đến ủng hộ phe ôn hòa, nhưng chính phe quá khích đã chiến thắng. Zealot, một đảng được dân chúng ủng hộ, đặt căn cứ quanh Đền Thờ, và phe Sicarii, băng đảng dao găm, tràn vào Thành Thượng và đánh đuổi binh lính của Agrippa. Chúng phóng hỏa lâu đài của các giáo trưởng và người Maccabee cũng như những văn thư ghi nợ. Trong một thời gian ngắn, tên cầm đầu của họ, một chỉ huy ‘man rợ, tàn ác’ cai trị Jerusalem cho đến khi các giáo sĩ ám sát y và bọn Sicarii tẩu thoát đến Pháo đài Masada gần Biển Chết và không còn đóng vai trò gì nữa cho đến khi Jerusalem thất thủ.
Các giáo sĩ trở lại nắm quyền kiểm soát trên danh nghĩa từ giờ trở đi, các phe đảng ở Jerusalem và các chỉ huy của họ, thường là những tên cơ hội ở tỉnh lỵ và bọn phiêu lưu địa phương cũng như những người cuồng tín, lao vào nội chiến hỗn loạn và dã man. Ngày cả Josephus, nguồn tư liệu duy nhất của chúng ta, cũng không thể xác định rõ ràng ai cầm đầu những phe phái này và vì mục đích gì. Nhưng ông lần theo dấu vết cuồng tín chống La Mã vì lý do tôn giáo ngược thời gian đến tận những vụ nổi loạn của người Galilee sau cái chết của Herod Vĩ đại: ‘họ yêu tự do một cách nồng nàn, không thể khuất phục được vì họ tin rằng chỉ có Chúa Trời là người lãnh đạo họ’. Họ ‘gieo mầm từ đó nhảy ra cây đời’. Trong những năm tiếp theo, ông nói, người Do Thái ‘đang trong tình trạng nồi da xáo thịt’.
Đạo quân đồn trú La Mã 600 người, vẫn đang cố thủ Thành lũy Herod Vĩ đại, đồng ý nộp vũ khí để đổi lấy việc rút quân an toàn ra ngoài nhưng những tên lính gốc Syria và Hy Lạp này có nợ máu với nhân dân, nên bị ‘làm thịt một cách man rợ’. Vua Agrippa đành bỏ rơi dự định làm trung gian và tiếp tay cho người La Mã. Vào tháng 11 66, Thống đốc Syria người La Mã, được Agrippa và các vua đồng minh hậu thuẫn, hành quân từ Antioch và tiến đánh vào Jerusalem. Nhưng rồi đột nhiên y rút lui, có lẽ đã nhận hối lộ, và việc rút quân của y dưới sức tấn công dữ dội của quân Do Thái cướp đi sinh mạng của hơn 5000 lính La Mã, và con đại bàng của quân đoàn.
Hột xúc xắc đã ném xuống. Lòng tự hào của người La Mã phải được báo thù. Quân nổi loạn chọn người cựu giáo trưởng Ananus làm lãnh đạo Israël độc lập. Ông củng cố tường thành, trong khi thành phố vang dội tiếng búa đập và đúc rèn áo giáp và vũ khí. Ông cũng cử ra các vị tướng, trong số đó có Josephus, sử gia tương lai. Ông rời thành phố để đến chỉ huy mặt trận Galilee, tại đó ông thấy mình phải chiến đấu với một chỉ huy khác, John xứ Gischala, một cách hiểm ác hơn khi họ chiến đấu với người La Mã.
Đồng tiền Do Thái mới tôn vinh ‘Tự Do cho Zion’ và ‘Jerusalem Thần Thánh’ – nhưng dường như đây là cuộc giải phóng không nhiều người ao ước và thành phố như là ‘một nơi đã bị lời nguyền hủy diệt’. Nero đang ở Hy Lạp để biểu diễn những bài hát của mình và dự tranh cuộc đua ngựa tại Vận hội Olympic (ông thắng cuộc dù bị ngã ra khỏi chiến mã xa) thì nghe tin Israël nổi loạn.
TIÊN TRI CỦA JOSEPHUS: NGƯỜI CỞI LỪA LÀ HOÀNG ĐỂ
Nero rất sợ các vị tướng chiến thắng lẫy lừng, vì thế y chọn tư lệnh Trận đánh Do Thái là một cựu binh gan góc trong đám quần thần của mình. Titus Flavius Vespasianus đang trong tuổi cuối ngũ tuần và thường làm hoàng đế bực mình vì hay ngủ gục khi xem y diễn kịch. Nhưng ông có được tên tuổi trong trận chinh phục nước Anh và biệt danh của ông – Người Cởi Lừa – biểu lộ tính cách đáng tin cậy trần trụi của ông và của cải ông tạo dựng bằng việc bán lừa cho quân đội.
Phái con trai Titus đến Alexandria để tuyển quân tiếp viện, Vespasian gom góp được một đạo quân gồm 60,000 người, bốn quân đoàn thêm đội bắn ná người Syria, cung thủ người Ả Rập và kỵ binh của Vua Herod Agrippa. Sau đó ông tiến quân xuống bờ biển đến Ptolemais (Acre). Vào đầu năm 67, ông bắt đầu chinh phục lại Galilee một cách có phương pháp, trước sức kháng cự điên cuồng của Josephus và dân chúng Galilee. Cuối cùng, Vespasian vây hãm Josephus trong pháo đài Jotapata của mình. Vào ngày 29/7 năm đó, Titus trườn qua những tường thành đổ nát và chiếm lấy thành phố. Người Do Thái chiến đấu đến chết, nhiều người tự sát.
Josephus và một số người sống sót trốn trong một hang động. Khi quân La Mã giăng bẫy họ, họ quyết định tự sát và rút thăm xem ai sẽ giết ai. ‘Do ý Chúa’ (hoặc do gian lận), Josephus được rút lá thăm cuối cùng và ra khỏi hang còn sống. Vespasian quyết định giải ông về La Mã như một món quà dâng lên hoàng đế, và chắc chắn kéo theo một cái chết thảm khốc. Josephus xin được nói với tướng quân. Khi ông đứng trước Vespasian và Titus, ông nói: ‘Này Vepasian! Tôi đến với ngài như một người mang thông điệp về một tin tức trọng đại hơn. Ngài tính giải tôi cho Nero phải không? Tại sao? Chính là ngài, Vepasian, là và sẽ là Caesar và Hoàng đế, ngài và con trai ngài.’ Ngài Vepasian cứng cỏi cũng phải mềm lòng, giữ Josephus trong ngục nhưng đối đãi tử tế. Titus, gần như cùng tuổi với Josephus, làm bạn với ông.
Khi Vespasian và Titus tiến đánh Judaea, đối thủ của Josephus, John xứ Gischala, trốn thoát về Jerusalem – ‘một thành phố không có thống đốc’ tham gia vào một trận giết chóc tự hủy diệt điên cuồng.
JERUSALEM NHÀ THỔ: NHỮNG TÊN ĐỘC TÀI JOHN VÀ SIMON
Cánh cổng Jerusalem vẫn mở cho khách hành hương, vì thế bọn cuồng tín, bọn giết người máu lạnh và hàng ngàn dân tị nạn tràn vào thành phố, nơi bọn nổi loạn thỏa sức đánh giết, tham gia hành lạc tập thể và săn lùng vô tội vạ những kẻ phản bội.
Những băng đảng du côn trẻ tuổi giờ thách thức luật lệ của giáo sĩ. Chúng chiếm đóng Đền Thờ, lật đổ chính giáo trưởng, cử ra một tên thô lỗ trong bọn làm thay. Ananus tập họp những cư dân Jerusalem và tấn công Đền, nhưng ông ngần ngại không dám tràn vào khu vực bên trong và Nơi Chí Thánh. John xứ Gischala và đồng bọn Galilee thấy đây là cơ hội để chiếm toàn thành phố. John gọi người Idumea vào tiếp tay. Đó là dân man rợ và không gớm máu nhất ở phía nam Jerusalem. Bọn Idumea xông vào thành phố, tràn vào Đền Thờ, máu loang khắp nơi, rồi sau đó lùng sục khắp đường phố, tàn sát 12,000 người. Chúng giết cả Ananus và các giáo sĩ, lột quần áo họ và giẫm đạp lên thi thể trần truồng của họ, trước khi ném qua tường thành cho chó ăn xác. ‘Cái chết của Ananus’, Josephus nói, ‘là khởi đầu sự hủy diệt của thành phố.’ Cuối cùng, trĩu nặng của cướp được và đã no nê vấy máu, bọn Idumea bỏ Jerusalem đi để lại cho John xứ Gischala hoàn toàn thống trị.
Cho dù quân La Mã không còn xa, John vẫn buông lỏng cho bộ hạ Galilee của mình và phe Zealot mặc tình hưởng thụ chiến lợi phẩm cướp được. Ngôi Nhà Thánh trở thành nơi trác táng; nhưng một số người hậu thuẫn John chẳng bao lâu mất lòng tin nơi tên độc tài này và bỏ đi đầu quân cho lực lượng bên ngoài thành phố mới nổi lên, một chỉ huy trẻ có tên Simon ben Giora, ‘không mưu mô như John nhưng cường tráng hơn và gan lì hơn’. Simon ‘là mối khiếp đảm đối với dân chúng còn hơn chính bọn La Mã’. Người Jerusalem, hi vọng tự cứu mình khỏi một tên độc tài lại đi mời một tên độc tài khác
– Simon ben Giora – người chẳng mấy chốc đã chiếm gần hết thành phố. Nhưng John còn giữ vững Đền Thờ. Giờ thì bọn Zealot quay sang chống lại y, chiếm đóng Đền Thờ bên trong thành ra, theo lời của Tacitus, ‘có ba vị tướng, ba quân đội’ đánh nhau để chiếm một thành phố – cho dù quân La Mã đang tiến sát. Khi Jericho gần đó rơi vào tay Vepasian, ba phe đảng Do Thái mới ngừng đánh nhau và hợp tác để phòng thủ Jerusalem, đào hào và củng cố Tường thành Thứ Ba của Herod Agrippa I ở phía bắc. Vespasian chuẩn bị vây hãm Jerusalem. Nhưng rồi đột nhiên ông dừng lại.

Sau bốn năm độc lập, Titus, con trai của Hoàng đế La Mã mới Vespasian, đến vây hãm Jerusalem. Thành phố và Đền Thờ của nó bị hủy diệt trong cuộc chiến đấu tàn khốc: các nhà khảo cổ đã phát hiện xương cánh tay của một bé gái bị kẹt trong một ngôi nhà bốc cháy và đống đá thời Herod đã bị lính La Mã đẩy khỏi Núi Đền khi họ đập nát Cổng Hoàng gia của Herod.
Phù điêu trên Vòm cổng Titus ở La Mã là đài tưởng niệm cuộc Khải Hoàn của ông, và đồng tiền này có khắc chữ ‘Judaea Capta’ (chiếm được Judaea) chào mừng chiến thắng.
La Mã đã mất người cầm đầu. Vào ngày 9/6/68, Nero, bị hành hạ bởi những vụ nổi loạn, bèn tự sát với lời trăn trối: ‘Thế giới đã mất một nghệ sĩ như tôi!’ Trong loạt kế vị liên tiếp, La Mã tôn vinh rồi hủy diệt ba hoàng đế. Cuối cùng, các quân đoàn Judaea và Ai Cập tung hô Vepasian làm hoàng đế của mình. Người Cởi Lừa nhớ lại lời tiên tri của Josephus nên liền phóng thích ông, ban ông qui chế công dân La Mã, bổ nhiệm ông làm cố vấn, gần như là linh vật của ông, khi ông chinh phục đầu tiên là Judaea – và sau đó là thế giới. Hoàng đế mới hướng đến Alexandria để về La Mã và con trai ông Titus, chỉ huy 60,000 quân, tiến vào Thành phố Thánh, biết rằng triều đại của ông sẽ thành hay bại là tùy vào số phận của Jerusalem.