JOHN THE BAPTIST VÀ CON CÁO XỨ GALILEE
Cha mẹ của John, Zacharias, một giáo sĩ trong Đền Thờ, và Elizabeth sống trong một ngôi làng Ein Kerem, ngay phía ngoài thành phố. Zacharias chắc hẳn là một trong những giáo sĩ cấp thấp thường rút thăm để chia nhau gánh vác công việc trong Đền Thờ, rất khác biệt với những giáo sĩ có chức sắc. Nhưng John có lẽ đến thăm Đền thường khi còn là đứa trẻ. Có nhiều cách để làm một người Do Thái tốt và ông chọn sống kham khổ trong chốn hoang sơ như Isaiah đã kêu gọi: ‘Hãy chuẩn bị con đường của Yahweh (Chúa Trời đạo Do Thái) trong sa mạc.’
Vào những năm cuối thập niên 20 SCN, John bắt đầu tranh thủ người đi theo ông trước tiên trên vùng sa mạc không xa Jerusalem – ‘mọi người đều suy nghĩ trong lòng về John xem ông ta có phải đấng Christ hay không’ – rồi sau đó xa hơn về phía bắc ở xứ Galilee của Antipas, tại đó ông có gia đình. Mary là em họ với mẹ của John. Khi có mang Jesus, bà trú tại nhà cha mẹ John. Jesus đến từ Nazareth để nghe anh họ giảng đạo và John rửa tội ông trên sông Jordan. Anh em họ bắt đầu đi giảng cùng nhau, thực hành lễ rửa tội để tội lỗi được thuyên giảm, nghi thức mới của họ phỏng theo truyền thống tẩy uế Do Thái trong hồ nghi thức. Tuy nhiên, John cũng bắt đầu phản đối Herod Antipas.

Con trai của Herod Vĩ Đại, Herod Antipas, người cai trị Galilee, chế nhạo Jesus nhưng từ chối xét xử ông.
Quan Tetrarch xứ Galilee sống một cách vương giả, thói xa hoa của ông lấy từ tiền sưu cao thuế nặng khiến nhân dân căm ghét. Antipas không ngừng nịnh bợ hoàng đế mới của La Mã, Tiberius, con trai riêng hay ủ ê của Augustus, mong hoàng đế giao cho ông toàn bộ vương quốc của vua cha. Ông đặt tên kinh đô của mình là ‘Livia’ theo tên người vợ góa bụa của Augustus, mẹ của Tiberius, một người bạn của gia đình. Rồi vào năm 18 SCN, ông xây dựng một thành phố mới trên Biển Galilee lấy tên là Tiberius. Jesus, cũng như John, khinh bỉ Antipas vì sự bại hoại và làm tay sai cho La Mã: ‘con cáo đó’, Jesus gọi ông như vậy.
Antipas đã cưới con gái của vua Ả Rập xứ Nabataea Aretas IV, một cuộc hôn nhân để làm đồng minh bảo đảm hòa bình giữa người Do Thái và người Ả Rập lân bang. Sau 30 năm trên chiếc ngôi bé nhỏ, Antipas, đang tuổi trung niên, bỗng đâm ra yêu cháu gái của mình, Herodias. Cô nàng là con gái của Aristobulos, đứa con trai bị bố Herod Vĩ đại tử hình và đã kết hôn với ông anh cùng cha khác mẹ. Giờ cô ta yêu cầu Antipas phải ly dị bà vợ Ả Rập. Antipas điên khùng chấp nhận, nhưng công chúa xứ Nabataea không ra đi một cách bình lặng. Đứng trước đám đông, John the Baptist, chế nhạo cặp đôi ngoại tình này như Ahab và Jezebel ngày trước cho đến khi Antipas ra lệnh bắt giữ ông. Nhà tiên tri bị giam trong Pháo đài Machaerus của Herod Vĩ đại trên bờ sông Jordan, 2,300 bộ phía trên Biển Chết. John không một mình trong nhà ngục này bởi vì còn có một tù nhân tiếng tăm khác: bà vợ Ả Rập của Antipas.
Antipas và triều thần mở yến tiệc mừng lễ sinh nhật của ông với Herodias và con gái bà, Salome, kết hôn với quan tetrarch Philip. (Các sàn nhà cẩn đá khảm của sảnh yến tiệc Machaerus có một phần còn nguyên vẹn, cũng như một số xà lim bên dưới.) Salome ‘bước vào và bắt đầu nhảy múa, khiến Herod hài lòng’, có lẽ thậm chí trình diễn màn thoát y bảy lớp áo choàng mỏng, quá duyên dáng đến nỗi ông nói: ‘Cứ yêu cầu điều gì con ao ước, ta sẽ chìu theo ý ngày.’
Salome nhảy múa biểu tượng cho tính thất thường vô cảm và sự sa đọa của người nữ, nhưng cả hai Phúc âm Mark và Matthew không hề nêu tên cô. Josephus cho ta cái tên con gái của Herodias trong một ngữ cảnh khác nhưng chỉ đơn giản kể là Antipas ra lệnh hành hình John mà không có sự cổ vũ của trò nhảy nhót. Trò thoát y vũ bảy lớp áo là thêm thắt về sau này. Có nhiều tên Salome dòng họ Herod (chính em gái của Jesus cũng tên Salome). Nhưng chắc chắn nhất cô gái nhảy là vợ của Herod Philip, quan Tetarch xứ Trachonitis. Sau khi ông này chết, cô cưới một người anh họ khác sau này được bổ nhiệm làm vua Tiểu quốc Armenia. Thế là người nhảy múa đã trở thành một hoàng hậu. Rốt cục chiếc đầu của John sẽ trở thành một trong những thánh tích vô giá của Cơ đốc giáo. Có ít nhất 5 điện thờ nhìn nhận mình có bản gốc: điện thờ chiếc đầu của John ở Thánh đường Hồi giáo Umayyad ở Damascus được người Hồi giáo tôn kính.
Được mẹ nhắc, Salome trả lời, ‘Cái đầu của John the Baptist.’ Một lúc sau, thủ cấp từ ngục thất được mang lên, đưa vào phòng tiệc trên một chiếc đĩa lớn và đưa cho ‘tiểu thư và tiểu thư đưa cho mẹ mình’.
Jesus, biết rằng mình gặp nguy hiểm, liền bỏ trốn vào sa mạc, nhưng ông thường lui tới Jerusalem. Ông là giáo chủ duy nhất trong số giáo chủ của ba tôn giáo có nguồn gốc tổ phụ Abraham đã từng bước đi trên những con phố của nó. Thành phố và Đền Thờ là trung tâm của sự tự thấu thị của Jesus. Cuộc sống của Jesus dựa vào việc nghiên cứu các tiên tri, hành lễ Luật và hành hương đến Jerusalem, mà Jesus gọi là ‘Thành phố của Vị Vua Vĩ Đại’. Mặc dù ba thập niên đầu trong cuộc đời Jesus chúng ta không được biết tới, nhưng rõ ràng là ông tinh thông Kinh thánh Do Thái và mọi điều ông làm là sự hoàn tất tỉ mỉ lời tiên tri của nó. Vì ông là người Do Thái, Đền Thờ là một phần thân thiết của cuộc sống Jesus và ông bị ám ảnh bởi số phận của Jerusalem. Khi ông 12 tuổi cha mẹ dắt ông đến thăm Đền nhân ngày lễ Vượt Qua. Khi họ ra về, Luke nói ông vụt khỏi tay họ và sau ba ngày lo lắng ‘họ tìm thấy ông đang ngồi trong đền thờ giữa các thầy giảng, lắng nghe và đặt câu hỏi cho họ’. Khi ông bị cám dỗ, quỷ dữ ‘mang ông lên tận chóp đền thờ’. Khi ông tiết lộ sứ mạng của mình cho các đệ tử, ông nhấn mạnh là diễn tiến của định mệnh ông sẽ xảy ra ở Jerusalem: ‘Từ lúc đó trở đi Jesus bắt đầu chứng tỏ với các đệ tử của mình ông phải đến Jerusalem ra sao và chịu nhiều khổ ải... và bị giết và sống lại vào ngày thứ ba.’ Nhưng Jerusalem phải trả giá cho điều này:‘Và sẽ tới những ngày quân thù đắp lũy chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào... ’
Được sự hỗ trợ của 12 Tông đồ (trong đó có người em trai
James), Jesus xuất hiện lần nữa tại quê nhà ở Galilee, di chuyển về nam, vừa đi vừa giảng đạo điều mà ông gọi là ‘tin lành’, theo phong cách tinh tế và mộc mạc của riêng mình, hay sử dụng dụ ngôn. Nhưng thông điệp thì trực tiếp và đầy xúc cảm: ‘Hãy ăn năn: vì nước Chúa đang đến gần.’ Jesus không để lại bút tích nào và những lời dạy của ông đã được phân tích không ngừng, nhưng bốn sách Phúc âm tiết lộ rằng tinh túy trong lời giảng của ông là lời cảnh báo ngày Khải Huyền – Ngày Phán Xét và Nước Chúa – đang đến gần
Đây là một khải thị căn cơ và khủng khiếp trong đó Jesus đóng một vai trò trung tâm như Con Chúa Trời bán-tiên tri thần bí, một cụm từ được rút ra từ Sách Isaiah và Daniel:‘Con Chúa Trời sẽ phái đến các thiên sứ, và họ sẽ gom ra khỏi vương quốc của người mọi thứ xúc phạm, mọi người vi phạm đạo lý; và ném chúng vào hoả ngục: ở đó sẽ có tiếng kêu gào và nghiến răng. Rồi những người công chính sẽ chiếu rực rỡ như mặt trời trong vương quốc của Cha họ.’ Ông nhìn thấy trước sự hủy diệt của mối thâm tình:‘Và anh sẽ đem đến cái chết cho em mình, cha đêm cái chết cho con cái mình: và những đứa con sẽ đứng lên chống lại cha mẹ chúng, và đưa họ đến chỗ chết... Đừng nghĩ ta đến để mang lại hòa bình trên mặt đất: Ta đến không phải để mang lại hòa bình, mà mang đao kiếm.’
Đây không phải là một cuộc cách mạng dân tộc hay xã hội: Jesus quan tâm nhiều nhất với thế giới sau Ngày Tận Thế; òng giảng về công bằng xã hội trong thế giới này không nhiều như trong thế giới sau: ‘Phước cho kẻ bần hàn: vì nước Trời là của họ.’ Những người thu thuế và gái điếm sẽ bước vào nước Chúa trước bọn uy quyền và các giáo sĩ. Jesus gợi lên Ngày Khải Huyền một cách gây sốc khi ông chỉ ra rằng các luật cũ không còn dùng được nữa: ‘Hay để kẻ chết chôn người chết của họ.’ Khi thế giới tận diệt, ‘Con Chúa Trời sẽ ngồi trên chiếc ngai đầy huy hoàng’ và tất cả quốc gia sẽ tập họp trước mặt người chờ phán xét. Sẽ có ‘cuộc trừng phạt vĩnh hằng’ cho kẻ ác và ‘cuộc sống vĩnh hằng’ cho người công chính.
Tuy nhiên, Jesus thận trọng, trong đa số trường hợp, giữ đúng giáo luật Do Thái và đúng ra toàn bộ rao giảng của ông đều nhấn mạnh rằng mình đang hoàn thành những tiên tri của kinh thánh: ‘Đừng nghĩ rằng ta đến để hủy hoại giáo luật, hoặc các đấng tiên tri: ta không đến hủy hoại, mà để làm viên mãn.’ Nghiêm nhặt tuân thủ giáo luật Do Thái mặc dù như thế cũng chưa đủ: ‘trừ ra sự công chính của ngươi phải vượt qua sự công chính của bọn thư lại và người Pharisee, nếu không ngươi không thể nào vào được nước Chúa’. Nhưng ông không phạm sai lầm dám thách thức trực tiếp hoàng đế La Mã, hoặc ngay cả Herod. Nếu Ngày Khải Huyền lấn át lời giảng của ông, ông đưa ra một chứng cứ thuyết phục hơn cho quyền lực thần thánh của mình: ông là người chữa bệnh, ông chữa lành người què và làm người chết sống dậy và ‘đám đông người tụ tập chung quanh ông’.
Jesus thăm viếng Jerusalem ít nhất ba lần trong lễ Vượt Qua và những lễ khác trước chuyến đi cuối cùng, theo John, và có hai lần may mắn trốn thoát
thành công. Khi ông giảng đạo trong Đền Thờ dịp lễ Tabernacles, ông được một số người ca ngợi là đấng tiên tri và những người khác xem là đấng Christ – cho dù có người Jerusalem hợm hĩnh mỉa mai, ‘Đấng Christ mà xuất thân từ Galilee à?’ Khi ông tranh luận với những người có thẩm quyền, đám đông thách thức ông: ‘Rồi họ nhặt đá ném ông nhưng Jesus tránh khỏi và bước ra đền thờ, chen qua giữa họ.’ Ông trở lại vào dịp Hanukkah (Lễ Dâng Hiến), nhưng khi ông tuyên bố ‘Ta và Cha ta là một, người Do Thái lần nữa nhặt đá ném vào ông, nhưng ông thoát được’. Ông hiểu chuyến đến thăm Jerusalem có ý nghĩa như thế nào.
Trong khi đó ở Galilee, cô vợ Ả Rập bị bỏ rơi của Antipas thoát ra được ngục thất Machaerus và về đến triều đình cha mình, Aretas IV, vị vua giàu nhất xứ Nabataea, người xây dựng Điện thờ Khazneh và lăng mộ hoàng gia nổi tiếng ở vùng Petra ‘đỏ như hoa hồng’. Thịnh nộ vì bị sỉ nhục, Aretas xâm lược lãnh thổ Antipas. Herodias trước đã gây ra cái chết cho một nhà tiên tri giờ làm phát khởi cuộc chiến Ả Rập-Do Thái và Antipas thảm bại. Các đồng minh của La Mã không được phép tự ý đánh nhau: Hoàng đế Tiberius, người đang đắm chìm trong cảnh trụy lạc lúc tuổi già ở Capri, bực tức vì hành động điên rồ của Antipas nhưng ủng hộ y.
Herod Antipas giờ mới nghe nói về Jesus. Dân chúng thắc mắc không rõ ông là ai. Một số cho ông là ‘John the Baptist nhưng số khác nói ông là Elias hoặc một trong số các tiên tri’, trong khi đệ tử Peter của ông tin thầy mình là đấng Cứu Thế. Jesus đặc biệt được phụ nữ quí kính, trong số đó có những người dòng họ Herod – vợ của quản gia của Herod cũng là người theo ông. Antipas biết về mối liên hệ của Jesus với the Baptist: ‘Chính là John, người mà ta đã trảm thủ: gã đã từ chết sống lại.’ Y đe doạ bắt giữ Jesus, nhưng một cách có ý nghĩa một số người Pharisee, tất nhiên thân thiết với ông, báo cho ông: ‘Hãy trốn đi ngay vì Herod đang tìm giết ông.’
Thay vào đó Jesus thách thức Antipas. ‘Hãy đi và bảo với con cáo đó’ là ông sẽ tiếp tục chữa bệnh và giảng đạo hai ngày nữa và đến ngày thứ ba ông sẽ đến thăm nơi duy nhất mà Con Chúa Trời Do Thái có thể hoàn tất định mệnh của mình: ‘Một nhà tiên tri không thể chết ở bên ngoài Jerusalem.’ Thông điệp đầy tính thi ca siêu việt gởi đến con trai của vị vua đã xây dựng Đền Thờ thấm đẫm tình yêu của Jesus dành cho thành phố tận số của mình:Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các tiên tri, và quăng đá các đấng chịu sai đến cùng ngươi, ghe phen ta muốn nhóm họp con cái ngươi, như gà mái túc và ấp con mình dưới cánh, mà các ngươi chẳng muốn!