Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 50
Chương 50

❊ ❊ ❊

MENACHEM BEGIN: NGÀY SABBATH ĐEN

‘Tôi chiến đấu; do đó tôi tồn tại,’ Menachem Begin, nhại theo câu nói của Descartes, ‘Tôi suy nghĩ; do đó tôi tồn tại.’ Sinh tại Brest-Litovsk, đứa trẻ của Shtetl (thị trấn Do Thái nhỏ ở Đông Âu) này đã gia nhập phong trào Betar của Jabotinsky ở Ba Lan, nhưng ông đã đụng chạm với người hùng của mình, ném bỏ tất cả những phẩm chất tinh tế, để đúc rèn ý thức hệ sắt đá hơn về mặt quân sự của Zionism theo ý mình – ‘một cuộc chiến tranh giải phóng chống lại những kẻ dám bám giữ đất đai của tổ tiên chúng ta’, kết hợp chính sách cực đoan với cảm xúc tôn giáo. Sau khi Quốc xã và Xô-viết đã cắt xén Ba Lan lúc bắt đầu Thế Chiến II, Begin bị NKVD bắt giữ và kết án tù ở Gulag vì tội gián điệp cho Anh: ”Tên đặc vụ Anh này đã ra sao?’ ông nói đùa. ‘Y sớm có trong đầu phần thưởng lớn nhất mà cảnh sát Anh trao cho.’

Được phóng thích sau hiệp ước 1941 của Stalin với lãnh đạo Ba Lan Tướng Sikorski, Begin gia nhập Quân đội Ba Lan mang ông qua Ba Tư đến Palestine. Được tạo ra trong lục địa đen của máy nghiền thịt Stalin và lò sát sinh Hitler – ở đó cha mẹ và anh ông đều qua đời – ông xuất thân từ một môi trường hà khắc hơn Weizmann và Ben-Gurion. Jabotinsky đã mất vào năm 1940 và giờ đây năm 1944, Begin được chỉ định làm chỉ huy Irgun với 600 chiến binh. Những người Zionist lão thành xem Begin là ‘bình dân hoặc tỉnh lẻ’. Begin trông giống một thầy giáo Ba Lan tỉnh lẻ hơn là một bộ óc thiết kế cách mạng. Vậy mà ông có tính kiên nhẫn của một tay thợ săn đang rình mồi.

Mặc dù Irgun đã tham gia cuộc chiến Đồng minh chống lại Quốc xã, một số thành viên cực đoan, do Abraham Stern cầm đầu, đã tách ra riêng. Stern bị quân Anh giết vào năm 1942. Nhưng dư đảng của ông, Lehi, Chiến binh vì Tự Do của Israël, biệt danh Bọn Stern, giờ phát động cuộc nổi dậy chống người Anh. Khi thắng lợi của Đồng minh gần như chắc chắn, Begin bắt đầu trắc nghiệm quyết tâm của người Anh ở Jerusalem: thổi tù và sừng dê vào Ngày Đền Tội, sự kiện đã bị người Anh cấm thực hiện tại Bức Tường từ năm 1929. Mỗi năm Jabotinsky đều thách thức luật lệ này. Vào tháng 10 1943, Begin ra lệnh thổi tù và: cảnh sát Anh lập tức trấn áp người cầu nguyện Do Thái, nhưng vào năm 1944, người Anh không phản ứng gì. Begin xem điều này là dấu hiệu cho thấy Anh đã yếu đuối.

Ông bầu của bạo lực này tuyên chiến với người Anh và vào tháng 9 năm 1944, Irgun tấn công các đồn cảnh sát Anh ở Jerusalem và sau đó ám sát một sĩ quan CID khi y đi qua thành phố. Begin, biệt danh Lão gia (giống như Ben–Gurion), cho dù ông chỉ khoảng 30 tuổi, bắt đầu hoạt động bí mật, liên tục thay đổi địa chỉ và hóa trang thành một học giả kinh thánh Do Thái râu ria. Người Anh treo giải thưởng 10,000 bảng cho cái đầu của ông, sống hay chết.

Cục Do Thái bị kết tội khủng bố, nhưng khi Đồng mình tiến hành cuộc đổ bộ ngày D vào vùng châu Âu bị Đức chiếm đóng, Lehi hai lần nỗ lực ám sát Cao Ủy Harold MacMichael trên đường phố Jerusalem. Ở Cairo tháng 11 đó, họ sát hại Walter Guinness, Lord Minister ở Ai Cập. Ben Gurion lên án bọn sát nhân và, trong 1944-45 giúp người Anh săn lùng những dân quân Do Thái ‘bất đồng chính kiến’ – 300 người nổi loạn bị bắt giữ.

Vào ngày 8/5/1945, Ngày Thắng Lợi Âu châu, Cao Ủy mới, Thống chế Viscount Gort, làm lễ chào bên ngoài Khách sạn King David và ban hành lệnh ân xá cho các tù chính trị Do Thái và Ả Rập trong khi người dân Jerusalem ăn mừng. Tuy nhiên, ngay ngày hôm sau thực tế của chính tình thế tục lại nổi lên lần nữa: cả người Do Thái lẫn Ả Rập đều biểu tình – và cả hai đều đã tẩy chai hiệu quả chức thị trưởng của thành phố.

Ở Anh, Churchill bị đánh bại trong kỳ tổng tuyển cử. Tân thủ tướng, Clement Attlee, hứa với nhân dân mình một ‘Tân Jerusalem’ – mặc dù ông đã chứng tỏ là mình hoàn toàn bất lực trong việc điều hành Jerusalem cũ.

Người Anh lo lắng gồng mình chờ đợi cuộc đấu tranh sắp đến. Liệu thành phố với 100,000 người Do Thái, 34,000 người Hồi và 30,000 người Cơ đốc có nên là Nhà nước Jerusalem do Anh điều hành như đề xuất của MacMichael, hoặc chia phần, với những thánh địa do người Anh điều hành, như đề nghị của Gort? Cách nào thì người Anh cũng quyết tâm ngăn chặn việc nhập cư Do Thái vào Palestine – cho dù nhiều người nhập cư đã sống sót từ những trại tử thần của Hitler. Giờ bị quản thúc trong những trại trung chuyển khốn khổ trên khắp châu Âu, những chuyến tàu chở người tị nạn Do Thái tuyệt vọng này bị quấy nhiễu và đuổi đi bởi các lực lượng Anh. Các chuyến Xuất Hành bị người Anh tràn vào, đánh đập các dân tị nạn, nhiều người trong số đó sống sót từ trại tử thần, và rồi, với sự vô cảm khó tin, chở họ trở lại các trại ở Đức.

Ben-Gurion, Begin và Lehi đồng lòng thành lập một Bộ Chỉ huy Kháng chiến Thống nhất để chở lén lút người nhập cư Do Thái từ châu Âu và phối hợp cuộc đấu tranh chống người Anh, tấn công tàu hỏa, phi trường, căn cứ quân sự và đồn cảnh sát trên khắp xứ. Nhưng hai phe nhỏ chỉ góp tiếng còn chủ yếu là Irgun hành động. Phức hợp Nga giờ đã biến thành một căn cứ cảnh sát, là một mục tiêu được Irgun nhắm tới. Vào ngày 27/12, họ phá hủy trụ sở cảnh sát CID, trước đây là nhà trọ Nikolai cho người hành hương. Begin đi xe buýt từ Tel Aviv đến Jerusalem để chứng kiến tác phẩm của mình. Vào tháng 1 1946, Irgun tấn công nhà giam bên trong Phức hợp Nga trước đây là khu nhà trọ tập thể Marianskaya cho khách hành hương nữ.

Người Anh, tơi tả vì những vụ đột kích này, kéo nước Mỹ vào giải quyết vấn nạn. Cộng đồng người Do Thái ở Mỹ đang không ngừng ủng hộ Zionist nhưng Tổng thống Franklin D. Roosevelt chưa từng công khai ủng hộ một nhà nước Do Thái.

FDR mất vào tháng 4 1945. Người kế nhiệm ông, Harry S. Truman, muốn định cư người Do Thái sống sót sau vụ Holocaust ở Palestine và yêu cầu người Anh để họ vào. Truman, lớn lên như một người theo giáo phái Baptist, nguyên là trại chủ, thư ký ngân hàng, buôn bán quần áo, thượng nghị sĩ Missouri bình thường, dành tình cảm cho người Do Thái và có nhận thức về lịch sử. Truman yêu cầu Bộ Ngoại giao tìm hiểu tình hình và một ủy ban điều tra Anh-Mỹ được thành lập.

Ủy ban dừng chân tại Khách sạn King David. Styles đã hy vọng Truman sẽ hậu thuẫn chính sách của mình chống lại việc Do Thái nhập cư, nhưng Ủy ban Anh-Mỹ đề nghị trái ngược rằng Anh nên nhận ngay 100,000 nguời tị nạn. Truman công khai ủng hộ đề xuất của họ nhưng Attlee thì giận dữ bác bỏ sự can thiệp của Mỹ. Cục Do Thái gìa tăng việc nhập lậu người tị nạn từ vụ Holocaust, chở được 70,000 người trong ba năm trong khi tổ chức Palmach của họ quấy rối người Anh, đỉnh cao là một thành tích nổ bom ngoạn mục – Đêm của những Cây Cầu.

Người Anh đã đè bẹp người Ả Rập; giờ đây họ sẽ đè bẹp người Do Thái. Tháng 6 1946, Viscount Montgomery xứ Alamein, giờ là thống chế và Tổng Tham mưu Trưởng Hoàng gia, trở lại Jerusalem, phàn nàn rằng ‘Anh chỉ cai trị trên danh nghĩa; người cai trị thực sự đối với tôi dường như là người Do Thái, mà khẩu hiệu không nói ra của họ là – “Các anh không dám động đến chúng tôi”.’ Nhưng Montgomery dám, gửi thêm quân tiếp viện.

Vào thứ bảy 20/6, tư lệnh của ông, Tướng Evelynn ‘Bubbles’ Barker, tiến hành Chiến dịch Agatha, tấn công vào các tổ chức Zionist. Ông bắt giữ 3,000 người Do Thái – cho dù không tóm được Ben-Gurion vì lúc ấy ông tình cờ có mặt ở Paris. Barker củng cố ba ‘vùng an ninh’ ở Jerusalem, biến Phức hợp Nga thành một pháo đài mà người Do Thái đặt biệt danh là Bevingrad, theo tên của ngoại trưởng Anh Ernest Bevin. Đối với người Do Thái chiến dịch được biết dưới tên Ngày Sabbath Đen, và Barker ngay lập tức trở thành biểu tượng thù địch của sự áp bức Anh. Lehi tìm cách ám sát Barker, sử dụng bom ngụy trang như một em bé trong một xe đẩy trẻ con. Menachem Begin của Irgun, được sự hỗ trợ của Lehi, lên kế hoạch giáng trả Sabbath Đen của Barber để gióng lên tiếng vang trên khắp thế giới. Tổ chức Haganah tán thành, cho dù Ben-Gurion và Cục Do Thái thì không.

Khách sạn Kinh David là đền thờ thế tục của Quyền Ủy thác Jerusalem, và một cánh của nó được trưng dụng bởi ban điều hành và các cục tình báo Anh. Vào ngày 22/7/1946, đặc vụ Irgun, ngụy trang thành người Ả Rập và nhân viên khách sạn trong trang phục Nubia, xếp gọn ghẻ các bình sữa chứa đầy 500 cân thuốc nổ vào dưới hầm.

 

MONTGOMERY TRỪNG TRỊ: VỤ ÁN THIẾU TÁ FARRAN

Irgun gọi điện nặc danh cho khách sạn, cho Palestine Post và cho Lãnh sự Pháp, để cảnh báo về cuộc công kích sắp xảy ra để di tản người ra khỏi King David. Nhưng người ta phớt lờ lời cảnh báo – và chúng cũng đến quá muộn. Người ta không biết việc xử lý kém những cảnh báo này là do vô tình hay cố ý. Begin đứng đợi gần đó: ‘mỗi phút dài như một ngày. 12:31, 32. Giờ zero đến gần. Đã gần hết nửa giờ. 12:37. Thình lình cả thành phố dường như rung chuyển!’ Các quả bom phá hủy toàn bộ một cánh của khách sạn King David, sát hại 91 người, trong đó có người Anh, Do Thái và Ả Rập. Năm đặc vụ M15 có mặt trong số người thiệt mạng, nhưng các ‘Cô nương London’ trong Mật Vụ còn sống, loạng choạng bước ra từ đống đổ nát, tóc tai họ trắng xóa vì vôi bụi tường. Ben-Gurion lên án vụ đánh bom; ông coi Begin như một mối đe doạ của cộng đồng Do Thái, và Cục Dọ Thái rút khỏi Bộ Chỉ huy Kháng chiến Thống nhất.

Việc đánh bom King David làm gia tăng cường độ phản kích của người Anh – nhưng nó thành công trong việc làm tăng tốc việc Anh rút khỏi Quyền Ủy Thác. Ở Jerusalem, người Do Thái và Ả Rập ngừng sinh hoạt lẫn lộn nhau. Mọi người đều biết là sẽ có chiến tranh. Một bức màn đã bắt đầu chia cắt Jerusalem. Người Do Thái hoảng sợ về tin đồn cuộc tàn sát trả đũa đang đến gần. Dân thường Anh được di tản ra khỏi Jerusalem.

Vào tháng 10, Irgun thổi tung Đại sứ quán Anh ở La Mã. Tháng 11, Montgomery bay trở lại Jerusalem. Vị thống chế hoạch định sự trả đũa phũ phàng trước sự láo xược của Irgun. Một cảnh sát trưởng mới, Đại tá Nicol Gray, tuyển mộ người lì lợm, cựu cảnh sát hoặc cựu thành viên các lực lượng đặc biệt trước đây, để tham gia Biệt Đội chống bạo loạn. Thiếu tá Roy Farrah là một người được tuyển mộ điện hình, một sĩ quan biệt kích SAS Ireland mà lý lịch cho thấy một lịch sử những kỳ tích ngoạn mục.

Khi đến Jerusalem, Farran được chở đến Phức hợp Nga để nghe báo cáo ngắn rồi đến Khách sạn King David ăn tối. Farran và Biệt Đội bắt đầu lái xe chung quanh Jerusalem, truy lùng nghi can để thẩm vấn, hoặc bắn ngay tại chỗ. Những thành viên Biệt Đội này không có kinh nghiệm hoạt động bí mật, không biết tiếng địa phương, vì thế không có gì ngạc nhiên, Farran thất bại một cách gần như khôi hài cho đến khi, lái xe qua phố Rehavia vào ngày 6/5/1947, đội ông nhác thấy một học sinh không vũ trang, Alexander Rubowitz, đang dán các áp phích Lehi trên tường. Farran bắt cóc thằng bé nhưng, trong lúc giằng co, làm rơi chiếc mũ ni mềm của ông, có ghi tên sai vần ‘FARAN’. Ông hy vọng cậu thiếu niên hoảng sợ sẽ khai ra con cá lớn Lehi. Ông chở Rubowitz ra khỏi Jerusalem, xuống Đường Jericho vào vùng đồi, treo cậu lên một cành cây, đánh đấm cậu một giờ bắt khai ra, rồi ông đi quá xa khi đập đầu cậu bằng một hòn đá. Thi thể bị đâm dao và lột truồng và chắc chắn bị lũ chó rừng ăn thịt.

Trong khi người Do Thái Jerusalem điên cuồng đi tìm kiếm cậu bé mất tích, Thiếu tá Farran khai với cấp trên tại phòng ăn cảnh sát ở Katamon, rồi thình lình biến mất, chuồn khỏi Jerusalem. Thoạt đầu là bưng bít, rồi kêu gào phản đối khắp thế giới. Lehi bắt đầu giết bừa bãi binh lính Anh, cho đến khi Farran trở lại Jerusalem và trình diện tại Doanh trại Allenby. Vào ngày 1/10/1947, ông ra tòa án binh tại Talbieh, nhưng được xử trắng án vì thiếu bằng chứng thuyết phục. Thi thể của Rubowitz không hề được tìm thấy. Farran được kè đi giữa hai sĩ quan đến một xe bọc thép và biến mất vào bóng đêm về hướng Gaza. Lehi quyết tâm ám sát ông. Năm 1948, một bưu phẩm, gởi đến ‘R. FARRAN’ nhưng người em mở ra vì có cùng họ, nổ tung: người em mất mạng. [1]

Vụ án khẳng định mọi thứ mà Yishuv căm phẫn về người Anh là đúng. Khi nhà cầm quyền kết án tử một thành viên Irgun vì tội khủng bố, Begin đánh bom Câu lạc bộ Sĩ quan Anh ở Goldsmith House, Jerusalem, giết chết 14 người, và phá vỡ một lối thoát cho Trại giam Arcre. Khi người của ông bị phạt roi, ông phạt roi binh lính Anh, và khi người của ông bị treo cổ ở Trại giam Acre vì tội khủng bố, ông treo cổ hai binh sĩ Anh ngẫu nhiên vì những ‘hoạt động chống Do Thái’.

Churchill, giờ là lãnh tụ phe đối lập, lên án Attlee đã tiến hành ‘cuộc chiến bẩn thỉu và vô nghĩa’ này với người Do Thái để giao Palestine cho người Ả Rập hoặc cho ai có Trời mới biết’. Giờ kết hợp sự căm phẫn trước hành động bạo lực của Irgun và Lehi, cùng với tình cảm truyền thống dành cho người Ả Rập và chủ nghĩa bài Do Thái đã biến người Anh chống đối mạnh mẽ người Do Thái. Những quân nhân đào ngũ và đôi khi binh lính đang tại ngũ Anh quay ra hỗ trợ các lực lượng Ả Rập.

Vào ngày 14/2/1947, Attlee, mệt mỏi vì hoạt động đổ máu, đồng ý ở Nội các rút khỏi Palestine. Vào ngày 2/4, ông yêu cầu Liên Hiệp Quốc vừa mới được thành lập cử ra một Ủy ban Đặc biệt về Palestine (UNSCOP) để quyết định về tương lai của nó. Bốn tháng sau UNSCOP đề nghị phân chia Palestine thành hai nhà nước với Jerusalem là một khu vực được ủy thác quốc tế dưới quyền một thống đốc Liên Hiệp Quốc. Ben-Gurion chấp nhận giải pháp, mặc dù chưa có đường biên cụ thể. Ông cảm thấy rằng Jerusalem là ‘trái tìm của nhân dân Do Thái’ nhưng mất nó là ‘cái giá phải trả để có nhà nước’. Ủy ban Cao cấp Ả Rập, được Iraq, Saudi Arabia và Syria hậu thuẫn, bác bỏ sự phân chia, đòi hỏi ‘một Palestine độc lập thống nhất’. Vào ngày 29/11 LHQ bỏ phiếu cho đề xuất này. Sau nửa đêm, người Jerusalem tụ tập quanh những chiếc đài lắng nghe trong sự lặng im căng thẳng đến rợn người.

 

ABD AL-KADIR HUSSEINI: MẶT TRẬN JERUSALEM

33 quốc gia bầu thuận cho Nghị quyết 181, dẫn đầu là Mỹ và Liên Xô, 13 phiếu chống, và 10, kể cả Anh, phiếu trắng. Amos Oz nhớ lại: ‘Sau một vài phút bị sốc, miệng há hốc như đang khát và mắt trao tráo, đường phố xa xôi trên bờ bắc Jerusalem của chúng tôi bỗng vỡ òa ngay lập tức, không phải kêu to vì vui sướng, giống một tiếng thét kinh hoàng hơn, một tiếng hét đại hồng thủy có thể dời chuyển đá núi.’ Rồi ‘những tiếng gào thét vì sung sướng’ và ‘mọi người đều ca hát’. Người Do Thái thậm chí ôm lấy cảnh sát Anh mà hôn khiến họ giật nảy người.

Người Ả Rập không công nhận LHQ có thẩm quyền cắt xén xử sở mình. Có 1.2 triệu người Palestine còn sở hữu 94 phần trăm đất đai; có 600,000 người Do Thái. Cả hai bên đều sẵn sàng đánh nhau, trong khi những phần tử quá khích Do Thái và Ả Rập thi đua thi thố những trò dã man nhức nhối đối với nhau. Jerusalem đang lâm chiến với chính mình.

Các đám đông Ả Rập ùa ra trung tâm thành phố, xử giảo người Do Thái, phóng hỏa nhà ở ngoại ô, cướp bóc các cửa hiệu, họ hét ‘Làm thịt bọn Do Thái!’ Anwar Nusseibeh, một luật sư tốt nghiệp Cambridge, buồn bã nhìn tình hình đã biến tướng thành ‘bụi bặm, ồn ào và hỗn loạn’ khi ‘các giáo viên, bác sĩ và chủ cửa hiệu ở cả hai phía trao đổi hoả lực với những người mà, nếu thường ngày, có thể là khách quý của mình’.

Vào ngày 2/12, 3 người Do Thái bị bắn ở Thành phố Cổ; vào ngày thứ ba, các tay súng Ả Rập tấn công Khu Montefiore, rồi một tuần sau Khu Do Thái, tại đó 1,500 người Do Thái đang chờ đợi căng thẳng 22,000 người Ả Rập bên trong tường thành. Người Do Thái và Ả Rập chuyển ra ngoài những khu vực trước đây họ sống lẫn lộn với nhau. Vào ngày 13/12, Irgun ném bom vào trạm xe buýt bên ngoài Cổng Damascus, giết chết 5 người Ả Rập và làm bị thương nhiều người khắc. Trong hai tuần, 74 người Do Thái, 71 người Ả Rập và 9 người Anh bị giết.

Khi Ben-Gurion đi từ Tel Aviv xuống để gặp vị cao ủy vào ngày 7/12, đoàn xe của ông bị phục kích trên đường. Haganah kêu gọi quân trừ bị gồm những thanh niên từ 17 đến 25 tuổi. Người Ả Rập chuẩn bị chiến tranh. Những người tình nguyện chiến đấu đến từ lực lượng dân quân các vùng miền khác nhau: Iraq, Lebanon, Syria, Bosnia, một số là những cựu binh có tính thần dân tộc chủ nghĩa; số khác là những người cơ yếu chủ nghĩa muốn thánh chiến. Lực lượng dân quân lớn nhất, Quân Giải phóng Ả Rập, tự hào là mình có 5,000 chiến binh. Trên giấy tờ, các lực lượng Ả Rập, được hậu thuẫn bởi các quân đội chính quy của 7 nhà nước Ả Rập, có quân số áp đảo. Thật ra, Liên đoàn Ả Rập, tổ chức của những nhà nước Ả Rập độc lập mới thành lập vào năm 1945, bị chia rẽ giữa các tham vọng lãnh thổ và sự tranh giành triều đại của các thành viên. Abdullah, nhà vua Hashemite xứ Jordan, còn muốn xáp nhập Palestine vào vương quốc mình; Damascus thèm muốn một Đại Syria; Vua Farouk Ai Cập coi mình là lãnh tụ hợp lý nhất của thế giới Ả Rập và căm ghét dòng Hashemite của cả Jordan và Iraq, rồi đến phiên họ ghê tởm Vua Ibn Saud, người đã đuổi họ khỏi Arabia. Mọi lãnh đạo Ả Rập đều nghi ngờ vị mufti, người vừa mới trở lại Ai Cập và quyết tâm tự đặt mình vào vị trí đứng đầu nhà nước Palestine.

Giữa quá nhiều bại hoại, phản trắc và bất tài, Jerusalem cũng cung cấp những người hùng Ả Rập thời chiến. Anwar Nusseibeh, thành lập Ủy ban Cổng Herod với các đại gia khác, Khalidi và Dajani, để mua vũ khí. Anh họ ông Abd al-Kadir Husseini, người đã chiến đấu chống người Anh ở Iraq vào năm 1941, rồi sau đó ẩn mình trong chiến tranh ở Cairo, nắm quyền chỉ huy bộ tư lệnh Ả Rập có tên Mặt Trận Jerusalem.

Husseini nổi lên như một người hùng Ả Rập được hiện thân, luôn đội khăn xếp, mặc áo khoác kaki, và đeo băng chéo, dòng dõi cách mạng của giới quý tộc Jerusalem, con trai và cháu nội của các thị trưởng, hậu duệ của Đấng Tiên Tri, một người tốt nghiệp ngành hóa học, chủ biên tập và một chiến binh mà lòng quả cảm đã được chứng tỏ. Ông được mọi người kính trọng dù sang hay hèn. Một sinh viên từ Gaza có tên Yasser Arafat, tự hào mẹ mình có bà con với nhà Husseini, phục vụ trong bộ tham mưu của Abd al-Kadir.

Các tay súng Zìonist trong Khu Do Thái bắn qua Núi Đền; người Ả Rập khai hỏa vào dân chúng Do Thái từ Katamon. Vào ngày 5/1, Haganah tấn công Katamon và phá hủy Khách sạn Semiramis, giết chết 11 người Ả Rập Cơ đốc vô tội. Ben-Gurion cách chức viên sĩ quan chỉ huy. Hai ngày sau, Irgun đánh bom một tiền đồn Ả Rập ở Cổng Jaffa không cho phép chở đồ cung cấp đến Khu Do Thái. Vào ngày 10/2, 150 dân quân Husseini tấn công Khu Montefiore, Haganah đánh lại nhưng hứng hoả lực từ những tay bắn tỉa Anh trong Khách sạn King David gần đó. Chỉ còn bốn tháng nữa là hết thời hạn cai trị của người Anh mà Jerusalem đã sa lầy trong một cuộc chiến quy mô nhưng bất tương xứng. Trong sáu tuần vừa qua, 1060 người Ả Rập, 769 Do Thái và 123 Anh đã bị giết. Mỗi hành động tàn bạo được đáp trả gấp đôi.

Người Zionist dễ bị tổn thương ở Jerusalem: đường từ Tel Aviv đến đi qua 30 dặm trên lãnh thổ Ả Rập và Abd al-Kadir Husseini, người chỉ huy lữ đoàn Jerusalem gồm 1,000 tay súng trong Đạo Quân Thánh Chiến của vị mufti, đột kích nó liên tục. Yitzhak Rabin, một sĩ quan Palmach sinh ra ở Thành phố Thánh, nhớ lại: ‘Kế hoạch của người Ả Rập là bóp nghẹt 90,000 cư dân Do Thái Jerusalem đến khi họ khuất phục’ – và kế hoạch đó bắt đầu có tác dụng.

Vào ngày ½, dân quân của Husseini, với sự hỗ trợ của hai đào binh Anh, cho nổ tung văn phòng của Palestine Post; ngày thứ 10, ông tấn công Khu Montefiore một lần nữa nhưng bị Haganah đẩy lùi sau sáu giờ giao tranh. Người Anh dựng lên một trạm chỉ huy bên dưới Cổng Jaffa để phòng thủ Montefiore. Ngày 13/2, người Anh bắt giữ 4 chiến binh Haganah và rồi trả họ sau khi tước vũ khí cho một đám đông Ả Rập để bị sát hại. Vào ngày 22, Husseinni phái những đào binh Anh đánh bom Phố Ben Yehuda, một hành động dã man giết chết 51 thường dân Do Thái. Irgun bắn chết 10 lính Anh.

Cố gắng bảo vệ những khu Ả Rập ở Jerusalem, Nusseibeh nhớ lại, ‘giống như sửa một ống nước đã hư mòn, vá chỗ này lại phụt ra hai chỗ khác.’ Haganah cho nổ tung lâu đài Nusseibeh cũ. Cựu thị trưởng Ả Rập Hussein Khalidi phàn nàn, ‘Mọi người đang bỏ đi. Tôi không thể trụ lại lâu hơn nữa. Jerusalem đã mất. Không ai còn ở lại Katamon. Sheikh Jarrah đã trống trơn. Ai có ngân phiếu hoặc chút ít tiền của đều bỏ đi đến Ai Cập, đến Lebanon, đến Damascus.’ Chẳng bao lâu người tị nạn bỏ ra khỏi vùng ngoại ô Ả Rập. Dù sao thì Abd al-Kadir Husseini đã thành công trong việc cắt đứt tây Jerusalem của Do Thái khỏi bờ biển.

‘Jerusalem thế nào rồi?’ Ben-Gurion hỏi các vị tướng của ông vào ngày 28/3 tại bộ chỉ huy ở Tel Aviv. ‘Đó là trận đánh quyết định. Sự thất thủ của Jerusalem có thể là cú đấm chết người cho khu định cư Do Thái.’ Các vị tướng chỉ còn 500 quân. Người Do Thái đã trong tình trạng phòng thủ từ khi có việc bầu nghị quyết của LHQ, nhưng giờ đây Ben-Gurion ra lệnh Chiến dịch Nachshon để dọn đường đến Jerusalem, bắt đầu một thế tiến công mở rộng, Kế Hoạch D, được thiết kế chiếm được những vùng lãnh thổ Do Thái do LHQ ấn định nhưng thêm tây Jerusalem. Sử gia Benny Morris viết, ‘Kế hoạch rõ ràng là phải tiêu diệt những làng mạc Ả Rập chống đối và trục xuất dân cư ở đấy’ nhưng ‘không thấy văn kiện nào nói về một biện pháp hoặc ý muốn trục xuất “dân cư Ả Rập” ra khỏi Palestine.’ Tại một số nơi dân cư vẫn ở lại, nơi khác họ bị trục xuất.

Làng Kastel kiểm soát con đường từ bờ biển đến Jerusalem. Vào đêm 2/4, Haganah đánh chiếm căn cứ, nhưng Husseini tập trung dân quân chiếm lại. Ông và Anwar Nusseibeh đều nhận ra là họ cần quân tiếp ứng. Hai người vội vã đến Damascus để yêu cầu pháo binh nhưng chỉ để thêm tức giận trước sự bất tài và mưu mô của các vị tướng trong Liên đoàn Ả Rập. ‘Kastel đã thất thủ,’ tổng tư lệnh quân Iraq nói. ‘Nhiệm vụ của ngài là chiếm lại nó, Abd al-Kadir.’

’Cho chúng tôi vũ khí tôi yêu cầu và chúng tôi sẽ chiếm lại ngay,’ Husseinni giận dữ trả lời

‘Thế là thế nào, Abd al-Kadir? Không có đại bác à?’ vị tướng nói, nhưng không cho gì.

Husseini hục hặc bỏ ra ngoài: ‘Đồ phản trắc! Lịch sử sẽ ghi lại là ngài đã để mất Palestine. Tôi sẽ chiếm Kastel hoặc chết trong chiến đấu với các mujahidin của tôi!’ Đêm đó ông viết một bài thơ cho đứa con trai 7 tuổi Faisal, mà các thập niên sau, sẽ trở thành ‘bộ trưởng’ Jerusalem của Palestine của Yasser Arafat:

Vùng đất này của người quả cảm là vùng đất của cha ông chúng ta

Người Do Thái không có quyền chiếm lấy

Làm sao ta yên giấc khi kẻ thù còn cai trị?

Tim ta nóng buốt. Tổ quốc đang vẫy gọi.

Vị chỉ huy đến Jerusalem vào sáng hôm sau và tập họp chiến sĩ.

 

SÚNG DÀN CHÀO TRÊN HARAM: ABD AL-KADIR HUSSEINI

Vào ngày 7/4, Abd al-Kadir cầm đầu 300 chiến binh và 3 đào binh Anh lên Kastel. Lúc 11 giờ đêm đó, họ tấn còn ngôi làng nhưng bị đẩy lui. Đến bình minh ngày hôm sau, Husseini tiến ra phía trước để thay thế một sĩ quan bị thương, nhưng khi ông tiến đến gần trong sương mù, không chắc ai đang trấn giữ ngôi làng thực sự, một lính canh Haganah, nghĩ rằng người mới đến là quân tiếp viện Do Thái, gọi to bằng tiếng lóng Ả Rập: ‘Ở đây này, bạn ơi!’

‘Chào, anh bạn,’ Husseini đáp lại bằng tiếng Anh. Người Do Thái thường sử dụng tiếng Ả Rập – nhưng không bao giờ xài tiếng Anh. Anh lính canh Haganah cảm thấy có nguy liền xổ một loạt đạn trúng ngay Husseini. Các đồng chí ông bỏ chạy, để mặc ông trên mặt đất, rên rỉ, ‘Nước, nước.’ Mặc dù được một y sĩ Do Thái theo dõi, ông qua đời. Chiếc đồng hồ vàng và khẩu súng lục cán ngà tiết lộ ông là chỉ huy, nhưng ông là ai?

Qua điện đài, những người Haganah phòng thủ đã kiệt sức nghe lén những trao đổi đầy lo lắng làm sao lấy lại thi thể của vị chỉ huy đã mất dấu. Em trai ông lên nắm quyền chỉ huy. Khi tin tức lan truyền, dân quân Ả Rập lũ lượt đến nơi bằng xe buýt, lừa và xe tải và chiếm lại ngôi làng, các binh sĩ Palmach hy sinh tại vị trí tử thủ. Người Ả Rập giết 50 tù binh Do Thái và phân thây họ. Người Ả Rập đã lấy lại chìa khóa đến Jerusalem – cùng với thi hài của Husseini.

‘Thật là một ngày buồn! Cái chết tử vì đạo của ông khiến mọi người sầu não,’ Wasif Jawhariyyeh ghi lại. ‘Một chiến binh của lòng ái quốc và phẩm chất cao quý Ả Rập!’ Vào ngày thứ sáu 9/4, ‘không ai ở nhà. Mọi người đều có mặt trong đám tang. Tôi cũng có mặt ở đó,’ Wasif ghi. 30,000 người đưa tang – chiến binh Ả Rập vẫy cao khẩu súng, các Quân đoàn Ả Rập từ Jordan, nông dân, Đại gia – đều tham dự khi chiến binh Husseini ngã xuống được chôn cất trên Núi Đền cạnh cha mình và gần Vua Hussein trong điện thờ danh nhân Ả Rập ở Jerusalem. Mười một phát đại bác đưa tiễn ông; các tay súng bắn chỉ thiên. Chuông nhà thờ ngân vang, mọi người kêu gào đòi trả thù. Những chiến binh Ả Rập quá nặng lòng tham dự tang lễ Husseini đến nỗi họ không để lại quân đồn trú nào ở Kastel. Lực lượng Palmach phá hủy căn cứ.

Khi tang lễ đang tiến hành, 120 chiến binh Irgun và Lehi liên kết tấn công một ngôi làng Ả Rập ngay phía tây Jerusalem có tên Deir Yassin, tại đó họ phạm một tội ác man rợ đáng hổ thẹn nhất trong chiến tranh. Họ nhận lệnh đặc biệt không được hại phụ nữ, trẻ em hoặc tù binh. Khi họ tiến vào làng, họ gặp hoả lực. Bốn chiến binh Do Thái bị giết chết và vài chục người bị thương. Khi họ đã vào được trong làng Deir Yassin, các chiến sĩ Do Thái điên tiết ném lựu đạn vào nhà dân, sát hại đàn ông, đàn bà và trẻ em. Số nạn nhân vẫn còn đang tranh cãi, nhưng trong khoảng 100 đến 254 người bị giết. Những người sống sót được chở đi xe tải qua Jerusalem cho đến khi được Haganah phóng thích. Irgun và Lehi không nghĩ ngờ gì tin chắc vụ tàn sát man rợ sẽ gieo khiếp sợ cho người dân Ả Rập để họ bỏ đi. Chỉ huy Irgun, Begin, cứ một mực chối hành động dã man trong khi huênh hoang tính thiết thực của nó: ‘Huyền thoại (về Deir Yassin) có giá trị ngang với nửa chục tiểu đoàn quân Israël. Kinh hoàng xâm chiếm người Ả Rập.’ Nhưng Ben-Gurion xin lỗi Vua Abdullah, nhưng ông không chấp nhận.

Sự trả thù của người Ả Rập thật nhanh chóng. Vào ngày 14/4, một đoàn xe cứu thương và thực phẩm khởi hành đến Bệnh viện Hadassah trên Núi Scopus. Bertha Spafford chứng kiến ‘150 người nổi dậy, trang bị vũ khí đủ loại từ súng nòng ngắn và súng cổ lỗ đến khẩu Sten và Bren hiện đại, nấp sau những rặng xương rồng trên đất Thuộc địa Mỹ. Mặt mày họ méo mó vì hận thù và khao khát trả thù,’ bà viết. ‘Tôi ra ngoài và đối mặt với họ. Tôi bảo họ, “Bắn giết từ một nơi trú ẩn của Thuộc địa Mỹ cũng giống như bắn giết từ một thánh đường Hồi giáo,”‘ nhưng họ phớt lờ sự nghiệp 60 năm làm việc thiện của bà và hăm doạ sẽ giết bà nếu bà không lui ra. 77 người Do Thái, phần lớn là bác sĩ và y tá, đều bị sát hại và 20 bị thương trước khi người Anh đến can thiệp. Các tay súng phanh thây người chết và chụp ảnh cùng với các xác chết được sắp xếp theo những tư thế ghê rợn. Các tấm ảnh được in ra hàng loạt và bán như những tấm bưu thiếp Jerusalem.

Deir Yassin là một trong những sự kiện xoay chuyển cục diện của cuộc chiến: nó trở thành tâm điểm của chiến dịch truyền thông Ả Rập phóng đại mức tàn bạo của Do Thái. Mục đích là nhằm củng cố sự đối kháng, nhưng thay vào đó nó cổ vũ một tâm lý về điềm gở trong một xứ sở đã có chiến tranh. Vào tháng Ba, trước vụDeir Yassin, 75,000 người Ả Rập đã rời bỏ nhà cửa. Hai tháng sau 390,000 người đã ra đi. Một số bị trục xuất bằng vũ lực, một số ra đi để tránh chiến cuộc, hy vọng có ngày quay về – và xấp xỉ phân nửa ở lại bình yên trong ngôi nhà mình để trở thành người Ả Rập ở Israël, những công dân không Do Thái trong một nước dân chủ Zìonist. Nhưng tổng cộng 600,000 -750,000 người Palestine đã rời đi và bỏ nhà cửa của họ.

Ben-Gurion triệu tập trưởng Ủy ban Khẩn cấp Jerusalem, Bernard Joseph, đến Tel Aviv để quyết định cách thức tiếp tế cho Jerusalem giờ đang chết đói. Vào ngày 15/4 đoàn xe xông qua được, và lương thực nhỏ giọt vào thành phố. Vào ngày 20, Ben-Gurion khăng khăng đòi đến thăm Jerusalem nhân ngày lễ Vượt Qua với bình sĩ: Rabin, chỉ huy Lữ đoàn Harel của Palmach, phản đối màn trình diễn của Ben-Gurion. Ngay sau khi đoàn xe vừa khởi hành với Ben-Gurion ngồi trong xe bọc thép, người Ả Rập tấn công. 20 người bị giết – nhưng lương thực và Ben-Gurion đến được khu vực Jerusalem của người Do Thái.

Nền cai trị của Anh giờ đang trong những ngày cuối cùng. Vào ngày 28/4, Rabin đánh chiếm Sheikh Jarrah ở khu ngoại ô Ả Rập, địa điểm của các Đại gia, nhưng người Anh buộc ông phải buông bỏ nó. Khi người Anh chào cờ lần cuối cùng, người Do Thái đang giữ phần phía tây của thành phố, người Ả Rập giữ Thành Cổ và phần phía đông. Lúc 8 giờ sáng thứ sáu ngày 14/5,

Cunningham, vị cao ủy cuối cùng bước ra khỏi Trụ sở Chính quyền trong quân phục chỉnh tề, duyệt đội quân danh dự, rồi lên chiếc Daimler bọc thép và lái đến Khách sạn King David để thanh sát binh sĩ.

 

13

Tháng 8 - 1946: khi Ả Rập và Do Thái tàn sát dân thường của nhau. Irgun của Menachem Begin đánh bom bộ chỉ huy Anh ở Khách sạn King David. Tướng Bubbles Barker lên mặt báo (hình dưới bên phải)

14

Trận đánh Jerusalem năm 1948; binh lính Ả Rập hộ tống một tù binh Do Thái trong trận đánh Khu Do Thái; một bé gái chạy khỏi nơi gìao tranh; Quân đoàn Ả Rập đứng sau các chướng ngại vật bao cát.

❀ ❀ ❀

[1] Farran vẫn được coi là người hùng thời chiến đối với lực lượng an ninh Anh. Ông chuyển đến sống ở Canada, làm nghề nông, rồi được bầu vào lập pháp thành phố Alberta, rồi giáo sư khoa học chính trị. Ông mất năm 2006, thọ 86 tuổi. Một đường phố ở Đông Talpiot, Jerusalem, gần đây được đặt tên Rubowitz.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.