MOSES MONTEFIORE ĐẾN JERUSALEM
Vào ngày 18/7/1855, Montefiore xé rách quần áo theo đúng nghi thức khi ông nhìn thấy Đền Thờ đã mất và sau đó hạ trại bên ngoài Cổng Jaffa tại đó ông được hàng ngàn cư dân Jerusalem vây quanh bắn súng lên trời và hoan hô. Thậm chí thống đốc gởi đến một đội lính danh dự bồng súng chào.
Khi Montefiore trở thành người Do Thái đầu tiên được phép thăm Núi Đền, thống đốc cử 100 lính hộ tống – và ông được mang trên một ghế kiệu để ông không phá vỡ luật cấm người Do Thái lên Núi Đền e rằng họ sẽ đứng tại Nơi Chí Thánh. Sứ mạng giúp người Do Thái ở Jerusalem của đời ông không hề dễ dàng: nhiều người sống nhờ vào của từ thiện nên nổi giận khi Montefiore cố cắt đứt sự phát chẩn đến nỗi họ nổi loạn trong nông trại của ông. Cháu gái ông Jemima Sebag, một thành viên trong đoàn, viết, ‘Nếu việc này tiếp tục, chúng tôi khó được an toàn trong lều mình!’
Đối với người Do Thái ở Jerusalem và khắp các nơi định cư Do Thái, Montefiore đã là một huyền thoại kết hợp uy thế lãnh sự của một tòng nam tước thời Victoria giàu có tại đỉnh cao của đế chế Anh với phẩm chất của một người Do Thái luôn vội vã chạy đến giúp đỡ đồng đạo của mình và không hề thỏa hiệp chủ nghĩa Do Thái của mình. Chính vị trí độc nhất của ông ở nước Anh đã tạo cho ông quyền lực: ông giạng chân trên xã hội cũ và mới, thoải mái khi ở bên các công tước hoàng tộc, thủ tướng và giám mục cũng như khi với các giáo sĩ Do Thái và nhà tài chính. Ông ra đời tại Livorno, Ý, nhưng tạo ra của cải như một trong những ‘nhà môi giới Do Thái’ trên Thị Trường Chứng khoán London, một sự trỗi dậy nhờ vào cuộc hôn nhân hạnh phúc với Judith Cohen, em vợ của chủ ngân hàng Nathaniel Rothschild. Sự vươn lên trong xã hội và sự giàu có chỉ là một phương tiện để giúp đỡ kẻ khác. Khi ông nhận được tước vị hiệp sĩ từ Nữ Hoàng Victoria vào năm 1837, bà mô tả ông trong nhật ký là ‘một người Do Thái, một người xuất sắc’ trong khi trong nhật ký mình, ông mong cầu rằng vinh dự này ‘có thể chứng tỏ người báo hiệu cho tương lai làm điều tốt đẹp với người Do Thái nói chung.
Người đối tác với ông trong mọi hoạt động là Judith tóc quăn, sống động luôn gọi ông là ‘Monty’. Dù họ đã từng cầu tự tại Lăng mộ Rachel thường được những cặp vợ chồng hiếm muộn lui tới, nhưng họ không hề có con. Nhưng đằng sau mặt tiền, ông cũng có nhân tình và những đứa con ngoại hôn. Thật ra nhà viết tiểu sử hiện đại của ông tiết lộ ở tuổi bát tuần, ông vẫn có một đứa con với một cô hầu vị thành niên, vậy là thêm một dấu hiệu khác về năng lực đáng kinh ngạc của ông.

Nhà tài phiệt và mạnh thường quân Do Thái Sir Moses Montefiore đến thăm Jerusalem 7 lần và là một trong những người đầu tiên xây dựng bên ngoài Thành phố Cổ.

Năm 1860, ông khởi công nhà máy xay gió và các nhà tranh..
Giờ ông được những Đại gia mà ông chơi thân ở Jerusalem giúp đỡ việc mua đất tại Jerusalem: Ahmed Duzhdar Aga, người bạn quen biết 20 năm, bán cho ông một lô đất bên ngoài tường thành giữa cổng Zion và cổng Jaffa với giá 1,000 tiền vàng Anh. Montefiore ngay lập tức dời lều trại của mình đến khu đất mới. Tại đó ông dự định xây một bệnh viện và nhà máy xay gió để người Do Thái có thể tự tay làm bánh mì. Trước khi ông dời đi ông hỏi xin vị pasha một ân huệ đặc biệt: mùi hôi thúi của Khu Do Thái, được thuật lại trong mọi cuốn du ký Tây phương, xuất phát từ một lò sát sinh Hồi giáo kế bên. Ngay sự hiện diện của nó cũng là dấu hiệu cho thấy vị thế thấp kém của người Do Thái. Montefiore yêu cầu nó được dời đi và vị pasha đồng ý.
Vào tháng 6 1857, Montefiore trở lại lần thứ năm với vật liệu làm nhà máy xay gió và vào năm 1859, việc xây dựng bắt đầu. Thay vì một bệnh viện, ông xây dựng nhà từ thiện cho những gia đình nghèo Do Thái. Ngôi nhà được biết dưới tên Nhà Tranh Montefiore. Trong tiếng Hebrew chúng được gọi là Mishkenot Shaanim – Nơi Cư trú của Niềm Vui.
Những nhà phúc âm Cơ đốc và giáo sĩ Do Thái đều mơ về sự trở lại của người Do Thái – và đây là sự đóng góp của Montefiore. Sự giàu có kếch xù của những nhà tài phiệt Do Thái mới, nhất là dòng họ Rothschilds, cổ vũ cho ý tưởng là, theo lời DIsraëli, ‘các nhà tư bản Do Thái nên mua lại Palestine.’ Năm 1859, sau một đề nghị từ đại sứ Ottoman ở London, Montefiore bàn luận ý kiến mua lại Palestine nhưng ông tỏ ra hoài nghi, hiểu rằng giới ưu tú Anh-Do Thái đang lên còn bận bịu mua những điền sản ở thôn quê để sống theo giấc mơ Anh nên chắc không quan tâm đến một kế hoạch như thế. Rút cuộc Montefiore tin rằng sự phục hồi quốc gia của người Israël vượt quá chính sách và tốt nhất nên để cho cơ trời định đoạt.