Những nhân vật tiềm năng của thời đại ưa chuộng Hy Lạp thường tuyên bố mình là hậu duệ của Hercules và những vị thần khác, nhưng Antiochus đi một bước xa hơn. Ông tự phong mình là Epiphanes – hiện thân Chúa Trời – trong khi thần dân của ông đặt cho ông biệt hiệu Epumanes – Gã Điên. Nhưng bằng cái điên dại có mục đích, ông hi vọng buộc chặt đế chế của mình chung quanh việc tôn thờ một ông vua, một tôn giáo. Ông hoàn toàn kỳ vọng các thần dân sẽ tôn thờ các vị thần của họ rồi hòa trộn những vị thần ấy vào hệ thần Hy Lạp và thờ cúng theo kiểu của mình. Nhưng đối với người Do Thái thì lại khác. Họ có mối quan hệ yêu-ghét với văn hóa Hy Lạp. Họ ao ước nền văn minh đó nhưng bất mãn trước sự khống chế của nó. Josephus cho rằng họ xem người Hy Lạp là yếu ớt, phóng đãng, tầm thường, vậy mà nhiều cư dân Jerusalem đang sống theo phong cách thời thượng, đặt tên Hy Lạp và Do Thái để chứng tỏ mình có thể là cả hai. Những kẻ bảo thủ Do Thái không đồng ý; đối với họ, bọn Hy Lạp chỉ đơn giản là kẻ tôn thờ ngẫu tượng, trong đó những bức tượng các vận động viên trần truồng làm họ ghê tởm.
Bản năng đầu tiên của các ông lớn Do Thái là đua nhau đến Antioch để đấu giá cao nhất cho quyền lực ở Jerusalem. Khủng hoảng bắt đầu bằng mối thù dòng họ với tiền bạc và ảnh hưởng. Khi Giáo trưởng Onias III ra giá cho nhà vua, em trai ông Jason đưa ra giá cao hơn 80 ta-lăng và trở về làm giáo trưởng với một chương trình tái thiết Jerusalem như một thành phố Hy Lạp: ông đặt tên lại cho cô nàng là Antioch-Hierosolyma (Antioch-ở-Jerusalem) để vinh danh nhà vua, hạ bớt tầm quan trọng của kinh Torah (Kinh Ngũ Thư) và xây dựng một vận động trường Hy Lạp có lẽ trên ngọn đồi phía tây đối diện với Đền Thờ. Những cải cách của Jason được dân chúng đón nhận. Giới trẻ Do Thái hào hứng xuất hiện đúng phong cách tại vận động trường, tại đó họ luyện tập hoàn toàn khỏa thân chỉ đội mũ Hy Lạp. Họ phần nào xoay sở để đảo ngược tình trạng cắt bao da qui đầu, vốn là dấu hiệu được giao ước với Chúa Trời, khiến nom có vẻ như lớp da bao đã được phục hồi, chắc chắn là thắng lợi về mặt phong cách nhưng thua sút về mặt thoải mái. Nhưng chính Jason cũng bị tước đoạt Jerusalem khỏi tay mình: ông phái thuộc hạ tin cậy Menelaos mang tiền triều cống đến Antioch. Nhưng tên Menelaos lừa đảo trộm cắp ngân khoản của Đền, gộp với tiền triều cống, y ra giá cao hơn Jason và mua được quyền giáo trưởng, cho dù y thiếu điều kiện về dòng dõi Zadok như yêu cầu. Menelaos chiếm lấy Jerusalem. Khi người Jerusalem phái đại biểu đến nhà vua để khiếu nại, nhà vua liền hành hình họ, và thậm chí còn cho phép Menelaos sắp xếp một vụ mưu sát cựu Giáo Trưởng Onias.
Antiochus chỉ quan tâm đến việc gây quỹ cho công cuộc tái chinh phục đế chế – và ông chuẩn bị mở màn một cú gây kinh ngạc: thống nhất các đế chế Ptolemy và Seleucid. Vào năm 170 TCN Antiochus chinh phục Ai Cập, nhưng người Jerusalem phá hỏng thắng lợi của ông, nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Jason đã bị phế truất. Gã Điên hành quân trở lại băng qua Sinai, và tràn vào Jerusalem cho đi đày 10,000 dân Do Thái. [1]
Đồng hành cùng với thuộc hạ của mình, Menelaos bước vào Nơi Chí Thánh, một sự phạm thánh không thể tha thứ được, và lấy cắp những bảo vật vô giá – áng thờ bằng vàng, giá nến và bàn cúng bánh thánh. Tệ hơn nữa, Antiochus ra lệnh cho người Do Thái hiến tế đến ông với tư cách hiện thân Chúa Trời, để thử lòng trung thành của nhiều người Do Thái ắt hẳn say mê văn hóa Hy Lạp – và rồi, với những rương đầy vàng của Đền Thờ, ông vội vã trở lại Ai Cập để đập tan một vụ phản kháng nào đó.
Antiochus thích chơi trò La Mã, chưng diện áo choàng toga và tổ chức bầu cử giả hiệu ở Antioch, trong khi bí mật gầy dựng lại hạm thuyền và đoàn tượng quân. Nhưng La Mã, quyết tâm thống trị vùng phía đông Địa Trung Hải, sẽ không để yên cho đế chế mới của Antiochus. Khi phái đoàn La Mã do Popillius Laenas cầm đầu gặp nhà vua ở Alexandria, ông ngạo nghễ vạch một đường tròn trên cát bao quanh Antiochus, yêu sách ông ta rút quân khỏi Ai Cập trước khi bước ra khỏi đường tròn – từ đó xuất xứ thành ngữ ‘vạch một đường trên cát’ (có nghĩa ‘ra một điều kiện tới hạn không được vượt qua). Antiochus, ‘rên rỉ và với vẻ cay đắng’, đành phải cúi đầu khuất phục trước quyền lực La Mã.
Trong khi đó người Do Thái không chịu làm lễ hiến tế cho Antiochus hiện thân Chúa Trời. Để bảo đảm Jerusalem không nổi dậy lần thứ ba, Gã Điên quyết tâm xóa sổ đạo Do Thái.
ANTIOCHUS EPIPHANES (CHÚA HIỆN THÂN): MỘT NỖI GỚM GHIẾC KHÁC CỦA SỰ TÀN PHÁ
Năm 167, Antiochus đánh chiếm Jerusalem bằng một mưu mẹo vào ngày Sabbath, tàn sát hàng ngàn người, phá hủy tường thành và xây lên một thành lũy mới, Acra. Ông giao thành phố cho một thống đốc Hy Lạp và tên hợp tác Menelaos.
Sau đó Antiochus ngăn cấm việc hiến tế hoặc hành lễ trong Đền Thờ, bãi bỏ ngày Sabbath, Luật Do Thái và tục cắt bao da qui đầu, ai vi phạm phải chịu tội chết, và ra lệnh đem thịt heo để làm ô uế Đền Thờ. Vào ngày 6/12, Đền Thờ được phong làm điện thờ cho vị thần nhà nước, thần Zeus trên núi Olympus – đúng là nỗi gớm ghiếc của sự tàn phá. Một lễ hiến tế được cử hành dâng lên Antiochus vị Vua-Chúa Trời, ắt hẳn dưới sự hiện diện của ông, tại áng thờ bên ngoài Nơi Chí Thánh. ‘Đền Thờ đầy hỗn tạp, bọn Gentile uyên náo giỡn hớt với gái gú, thông dâm tại chốn linh thiêng. Menelaos ngầm tán thành việc này, dân chúng vào ra Đền Thờ đầu đội vương miện bện dây nho, và, sau khi cầu nguyện, thậm chí nhiều giáo sĩ còn xuống dưới để xem những trò thi đấu khoả thân tại vận động trường.
Những ai hành lễ Sabbath sẽ bị thiêu sống hoặc chịu một hình tội ghê rợn nhập từ Hy Lạp: đóng đinh trên thập giá. Một ông lão thà chịu chết còn hơn là ăn thịt heo; các bà mẹ cắt bao qui đầu cho con mình sẽ bị ném cùng với con mình qua tường thành Jerusalem. Kinh Torah bị xé nát và thiêu đốt nơi công cộng: ai bắt gặp còn giữ một bản sẽ bị hành hình. Vậy mà kinh Torah, như Đền Thờ, còn quí hơn mạng sống. Những cái chết này tạo thành một giáo phái mới tử vì đạo và cổ vũ cho sự mong ngóng ngày Apocalypse. ‘Nhiều người họ đang ngủ vùi trong cát bụi trần thế sẽ thức dậy và bước vào cuộc sống vĩnh hằng’ ở Jerusalem, điều xấu ác sẽ thảm bại, và cái tốt sẽ chiến thắng với sự xuất hiện của một đấng Cứu Thế – và Con trai của Người, được trao vầng vinh hiển vĩnh hằng.
Antiochus trở lại Antioch, tại đó ông làm lễ mừng những thắng lợi đầy khiếm khuyết. Những kỵ binh người Scythia mặc giáp vàng, những thớt voi Ấn Độ, các võ sĩ giác đấu và những chiến mã Nisaea với dây cương vàng diễu hành qua kinh thành, theo sau là những vận động viên trẻ đội vương miện mạ vàng, một ngàn con bò được hiến tế, những xe diễu hành chở các bức tượng, các phụ nữ phun nước hoa vào đám đông. Các võ sĩ giác đấu đánh nhau trong các gánh xiếc và vòi phun ra rượu vang đỏ trong khi nhà vua chiêu đãi một ngàn quan khách tại cung điện của mình. Gã Điên giám sát mọi việc, đi lên xuống đám rước, hướng dẫn khách, nói đùa với các diễn viên hài. Vào cuối bữa tiệc, các diễn viên hài mang ra một hình nhân được quấn chặt trong lớp vải. Họ đặt hình nhân xuống đất rồi, sau một tiếng nhạc cắt lên từ dàn nhạc, hình nhân thình lình bung lớp vải quấn quanh ra và ô kìa chính là nhà vua trần truồng đang nhảy múa.
Rất xa về phía nam của cảnh đồi trụy say sưa này, các vị tướng của Antiochus đang cưỡng chế thi hành những lệnh bức hại của ông. Trong ngôi làng Modin, gần Jerusalem, một giáo sĩ già tên là Mattathias, một người cha của năm đứa con trai, bị ra lệnh làm vật hiến tế cho Antiochus để chứng minh mình không còn là người Do Thái, nhưng ông đáp lại: ‘Nếu mọi quốc gia của đế chế nhà vua lắng nghe ông ta, thì tôi và con tôi sẽ bước vào phòng Giao ước của ông cha chúng tôi.’ Khi một người Do Thái khác tới trước để làm vật hiến tế, ‘Mattathias bừng bừng nhiệt huyết, mạch máu mấp máy’, và, rút ra thanh gươm của mình, ông giết chết trước tiên tên phản bội, và sau đó vị tướng của Antiochus, rồi lật đổ áng thờ. ‘Ai muốn giữ Giao ước,’ ông nói, ‘hãy bước tới theo tôi.’ Ông và năm con trai trốn thoát vào núi, được những tín đồ Do Thái cực kỳ mộ đạo nhập bọn được biết dưới tên những Người Công chính – Hasidim. Thoạt đầu họ quá sùng đạo đến nỗi họ vẫn hành lễ Sabbath thậm chí trong khi đánh nhau: quân Hy Lạp lợi dụng nên cứ chọn ngày Sabbath mà đánh nhau với họ.
Mattathias mất không lâu sau đó, nhưng con trai thứ ba của ông Judah, nắm quyền chỉ huy trong vùng đồi quanh Jerusalem, đánh bại quân Syria ba trận liên tiếp. Thoạt đầu Antiochus không coi vụ khởi nghĩa của người Do Thái là quan trọng vì ông đang tiến quân về đông để chinh phục Iraq và Ba Tư, ra lệnh cho phó vương của ông Lysias đè bẹp phe khởi nghĩa. Nhưng Judah vẫn đánh bại y.
Dù đang hành quân rất xa ở Ba Tư, Antiochus biết rằng các thắng lợi của Judah sẽ đe doạ cho đế chế của mình, nên bèn hủy bỏ chủ trương khủng bố. Người Do Thái, ông viết cho các thành viên thân Hy Lạp của Hội đồng Sanhedrin, có thể ‘sử dụng loại thịt thích hợp theo ý họ và hành lễ theo giáo luật mình’. Nhưng đã quá muộn, và chẳng bao lâu sau đó Antiochus Epiphanes trải qua một con động kinh và rơi từ chiến mã xa xuống bỏ mạng. Judah đã giành được cái tên anh hùng làm nên đế hiệu của một triều đại: Búa Tạ.
❀ ❀ ❀
[1] Jason lại trốn thoát lần nữa, tìm nơi trú ẩn với người hậu thuẫn mình, ông hoàng Hyrcanus nhà Tobiad. Hyrcanus đã cai trị lãnh thổ Jordan trong 40 năm, vẫn còn là đồng minh của các vua dòng Ptolemy cho dù họ để mất Jerusalem. Ông mở những chiến dịch đánh người Ả Rập và xây dựng một pháo đài nguy nga tại Araq e-Emir với hình điêu khắc xinh đẹp và những khu vườn trang trí. Khi Antiochus chinh phục Ai Cập và chiếm lại Jerusalem, Hyrcanus không còn lựa chọn nào: người cuối cùng của nhà Tobiad phải tự sát. Phế tích của cung điện ông ngày nay là một điểm du lịch ở Jordan.