Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cuộc Nổi Dậy Ả Rập 1936–1945

❊ ❊ ❊

SỰ KHỦNG BỐ CỦA VỊ MUFTI

Một đêm mát mẻ ở Jerusalem vào đầu năm 1936, ‘những phát súng lác đác vang lên trong bầu trời chiều quang đảng’ và Hazem Nusseibeh nhận biết rằng ‘cuộc nổi dậy vũ trang đã bắt đầu’. Cuộc nổi dậy leo thang dần dần. Đến tháng 4 năm đó, người Ả Rập tàn sát 16 người Do Thái ở Jaffa. Các đảng phái ở Palestine lập thành Ủy ban Ả Rập Cấp Cao dưới sự lãnh đạo của vị mufti và kêu gọi một cuộc đình công toàn quốc nhanh chóng thoát khỏi sự kiểm soát của mọi người. Vị mufti tuyên bố đây là một trận chiến đấu thiêng liêng và gọi lực lượng mình là Quân đội Thánh Chiến khi những người tình nguyện bắt đầu tham gia chống người Anh và Do Thái từ Syria, Iraq và Transjordan.

Vào ngày 14/5, hai người Do Thái bị bắn trong Khu Do Thái, và vị mufti lên giọng, ‘Người Do Thái đang ra sức trục xuất chúng ta ra khỏi đất nước chúng ta, sát hại con cái chúng ta và phóng hỏa nhà cửa chúng ta.’ Hai ngày sau, các tay súng Ả Rập giết chết 3 người Do Thái trong rạp chiếu bóng Edison.

Khu định cư Yishuv bắt đầu hoảng loạn, nhưng Ben-Gurion theo đuổi chính sách tự kềm chế. Trong khi đó các bộ trưởng Anh giờ đây truy vấn lại toàn bộ cơ sở của Quyền Ủy thác và ủy nhiệm cho Earl Peel, một cựu bộ trưởng trong nội các, có nhiệm vụ báo cáo tình hình. Vị mufti kêu gọi hủy bỏ đình công vào tháng 10 1936, mặc dù ông từ khước nhìn nhận Peel. Nhưng Weizmann dỗ ngọt các ủy viên. Trước sự khăng khăng của Abdullah vị mufti xác nhận rằng người Palestine đòi hỏi độc lập, hủy bỏ Tuyên bố Balfour và, một cách đáng ngại, trục xuất người Đó Thái.

Tháng 7 1937, Peel đề xuất giải pháp hai-nhà nước, việc chia Palestine thành hai vùng, một vùng Ả Rập (chiếm 70 phần trăm xứ sở) nhập vào Transjordan của Amir Abdullah và một vùng Do Thái (20 phần trăm diện tích). Thêm vào đó, ông đề nghị chuyển 300,000 dân Ả Rập vào vùng Do Thái. Jerusalem sẽ duy trì là một thực thể đặc biệt dưới quyền kiểm soát của Anh. Người Zionist chấp nhận – họ đã biết rằng mình sẽ không hề được chia phần của Jerusalem. Weizmann cũng không bất mãn với kích cỡ nhỏ bé của thực thể Do Thái, ngẫm nghĩ rằng ‘vương quốc Vua David con nhỏ hơn.’

Peel phàn nàn rằng, trái với người Zionist, ‘kể từ năm 1919 không hề có nhà lãnh đạo Ả Rập nào cho rằng hợp tác với người Do Thái là điều khả thi’. Chỉ có Abdullah xứ Transjordan là hậu thuẫn nhiệt tình kế hoạch của Peel và, khi nghĩ lại, điều này ắt hẳn đã ngăn cản xảy ra sự kiện Israël như tình trạng hiện nay nhưng vào thời điểm đó, mọi người Palestine đều sôi máu trước ý tưởng của nhà ngoại giao Anh tạo ra một nhà nước Do Thái: cả vị mufti lẫn đối thủ Nashashib của ông đều bác bỏ.

Cuộc Nổi dậy bùng phát lần nữa, nhưng lần này, vị mufti chủ trương và tổ chức bạo lực; ông dường như quan tâm đến việc sát hại các đối thủ Palestine của mình hơn là người Anh và Do Thái. Vừa dùng món ưa thích là súp đậu lăng, vị mufti, lúc nào cũng có các vệ sĩ gốc Sudan theo truyền thống kề bên, xử sự như một ông trùm Mafia khi ông ra lệnh những vụ ám sát đến nỗi trong hai năm Huynh đệ tương tàn ông giết sạch nhiều đồng bào tử tế và ôn hòa nhất của mình. Chín ngày sau khi Peel đến, vị mufti đến thăm vị tổng lãnh sự Đức để bày tỏ tình cảm của mình đối với chủ nghĩa Quốc xã và tỏ muốn hợp tác. Ngày hôm sau, người Anh cổ gắng bắt giữ ông nhưng ông trốn trong điện thờ al-Aqsa.

Người Anh không dám xông vào Điện thờ. Thay vào đó, họ bảo vây Husseini trên Núi Đền, lên án ông là chủ mưu vụ Nổi dậy. Nhưng không phải toàn thể băng đảng Ả Rập đều nằm dưới quyền điều khiển của ông: những người thánh chiến theo phe Qassam cũng hăng say giết bất kỳ người Ả Rập nào bị nghi là hợp tác với chính quyền Anh. Không kém gì một cuộc nội chiến tàn bạo đã xảy ra giữa những người Ả Rập. Giờ có thể nói vị mufti đã làm rơi lệ nhiều gia đình.

Thoạt đầu hậu thuẫn Vụ Nổi dậy, sau đó, Ragheb Nashashibi chống đối vị mufti vì tính cách khủng bố và chiến lược của ông ta. Thế là biệt thự của ông bị hoả lực súng máy cày nát; một người em họ nhỏ bị giết trong lúc đang xem đấu bóng. Khi Fakhri Bey Nashashibi, cháu của ông, lên án vị mufti có máu độc đoán hủy diệt, bản án tử của anh được đăng trên mặt báo: sau đó anh bị ám sát ở Baghdad. Nashashibi vũ trang những người theo mình, được biết dưới danh hiệu ‘đơn vị Nashashibi’ hay ‘đơn vị hòa bình’, và họ đã chiến đấu với phe mufti. Vật đội đầu Ả Rập trở thành biểu tượng các phe cánh trong cuộc Nổi dậy. Phe Husseini đội khăn ca rô; phe Nashashibi đội mũ đỏ thẫm hòa giải. Vị mufti dựng những tòa án đặc biệt để xử những kẻ phản bội và ban hành tem về nổi loạn.

Ở Jerusalem, cuộc Nổi dậy được chỉ huy bởi Abd al-Kadir Husseini, vị tư lệnh 30 tuổi của Quân đội Thánh Chiến. Anh là con trai của Musa Kazem Husseini quá cố (anh sử dụng tên chiến tranh là Abu Musa), và đã nhận được sự giáo dục tốt nhất tại trường Anglican Bishop Gobat trên Núi Zion. Anh đã dùng bài diễn văn tốt nghiệp của mình tại Đại học Cairo để lên án sự lừa bịp của người Anh và âm mưu của người Zionist. Sau khi bị trục xuất khỏi Ai Cập, anh tổ chức Đảng Ả Rập Palestine, biên tập tờ báo của nó và thành lập, dưới vỏ bọc hướng đạo sinh, lực lượng dân quân Bàn Tay Xanh Lá của mình, sau này trở thành cánh quân sự của đảng.

Ở nhà anh là một ông lớn lịch lãm với hàm râu mép viết chì và bộ vét Anh nhưng ở trong môi trường của mình anh rong ruổi, cưỡi ngựa, bắn súng, chiến đấu. Anh thường làm mất mặt các lực lượng thuộc địa chung quanh Jerusalem. Anh bị thương vào năm 1936 trong một trận đánh chống xe tăng Anh gần Hebron nhưng sau khi được chữa lành ở Đức, anh trở lại chiến đấu tiếp tục từ căn cứ của mình ở ngôi làng của John the Baptist, Ein Kerem. Trong thành phố, anh tổ chức vụ ám sát cảnh sát trưởng Anh. Bị thương lần nữa trong một cuộc oanh kích của Không lực Hoàng gia Anh, Husseini được những người ngưỡng mộ xem như một hiệp sĩ Ả Rập xa lánh chốn phồn hoa để chiến đấu với các nông dân Ả Rập chống lại sự xâm nhập của bọn ngoại đạo – nhưng kẻ thù Palestine xem anh như một trong những tư lệnh tệ nhất của vị mufti, vì các bộ hạ của anh khủng bố làng mạc nào không hậu thuẫn cho phe Husseini.

Vào ngày 26/9/1937, ủy viên quận Galilee của Anh, Lewis Andrews, bị ám sát. Vào ngày 12, vị mufti trốn thoát khỏi Jerusalem, ngụy trang giả đàn bà, một lối thoát hèn hạ làm yếu đi quyền lực của ông ở Palestine. Trong chốn lưu vong ở Lebanon, ông lãnh đạo các chiến dịch trong một cuộc chiến vẫn còn đang leo thang. Ông cưỡng chế không thương xót sự tùng phục cá nhân mình và những chính sách triệt để không khoan nhượng

Người Anh chiến đấu để gìn giữ Palestine: Nablus, Hebron, những vùng lãnh thổ Galilee – và thậm chí họ mất Thành phố Cổ trong những khoảng thời gian ngắn. Người Anh tuyển mộ những lực lượng hỗ trợ Do Thái từ Haganah để gia nhập bộ phận gọi là Cảnh sát Định cư Do Thái, nhưng lực lượng này cũng ít khi bảo vệ được những ngôi làng ở xa. Những người dân tộc chủ nghĩa Zionist bất mãn trước chính sách kềm chế của Ben-Gurion. Tổ chức Irgun Zvai Leumi, Tổ chức Quân sự Quốc gia, chỉ huy động được khoảng 1,500 người lúc bắt đầu cuộc Nổi dậy, đáp lại những vụ tấn công Ả Rập bằng những hành động tàn bạo đối với dân thường Ả Rập, ném lựu đạn vào các quán cà phê ở Jerusalem. Vào Chủ nhật Đen tháng 11 1937, họ phát động những vụ đánh bom phối hợp, khiến Ben-Gurion và Weizmann khiếp đảm, nhưng các người xin gia nhập Irgun lũ lượt đổ về. Ngay khi các phần tử ôn hòa Ả Rập bị tiêu diệt bởi bọn vô lại của vị mufti, cuộc Nổi dậy cũng phá hủy niềm tin của bộ phận người Do Thái chủ trương hòa giải như Judah Magnes, hiệu trưởng người Mỹ của Đại học Hebrew, chủ trương một nhà nước hai quốc gia với một quốc hội lưỡng viện gồm Do Thái và Ả Rập và không có thực thể Do Thái nào cả. Sự tự kềm chế của Ben-Gurion chẳng bao lâu đuối sức và giờ người Anh cởi bao tay ra và đè bẹp người Ả Rập bởi tất cả và bất cứ phương tiện nào: họ trừng phạt tập thể làng mạc và có lúc hủy diệt cả một vùng lân cận Jaffa. Vào tháng 6 1937, họ áp dụng án tử hình cho bất kỳ ai mang vũ khí.

Vào tháng 10, Sir Charles Tegart, người đã giữ gìn trật tự một cách nghiêm nhặt ở Calcutta (Ấn Độ) trong 30 năm, đến Jerusalem. Ông xây dựng 50 ‘đồn Tegart’, dựng hàng rào an ninh quanh các đường biên giới và đảm nhiệm việc chống sự nổi dậy và phản gián, lập ra các Trung tâm Điều tra Ả Rập. Tegart điều hành một trường ở tây Jerusalem để huấn luyện những nhân viên tham vấn cách tra tấn nghi can – kế cả kỹ thuật ‘thùng nước’ trong đó tù nhân bị đổ nước vào mũi từ một vòi nước. Một sĩ quan RAF (Không quân Hoàng gia Anh), Arthur Harris – sau này nổi tiếng trong vụ ‘Oanh tạc Dresden’[1] - giám sát các cuộc không kích làng mạc nổi dậy. Nhưng khi cuộc khủng hoảng với Hitler phát triển ở châu Âu, người Anh không thể đem đủ quân số để tiêu diệt phe Nổi dậy, vì thế họ cần sự hỗ trợ của Do Thái nhiều hơn.

Một chuyên gia chống nổi dậy trẻ tuổi có tên Orde Wingate được gửi đến Jerusalem tại đó ông được mời ở cạnh Cao Ủy Wauchope. Wingate nhận xét thấy rằng Wauchope ‘nghe theo lời khuyên của mọi người nên không nắm bắt được tình hình. Ông đề nghị huấn luyện các chiến sĩ Do Thái và mang sự nổi dậy đến cho bọn nổi dậy. Ông sẽ trở thành phiên bản Zionist của Lawrence – Weizmann gọi ông là ‘Lawrence của Judaea’. Thật tình cờ, hai chuyên gia Ả Rập người Anh này lại là anh em họ.

 

ORDE WINGATE VÀ MOSHE DAYAN: SỰ THẤT THỦ CỦA THÀNH PHỐ CỔ

Là con trai của một đại tá thuộc địa giàu có với sứ mạng phúc âm là cải đạo người Do Thái, được nuôi dưỡng trên Kinh thánh và đế chế, Wingate nói trôi chảy tiếng Ả Rập, và, như Lawrence, anh được nổi tiếng nhờ chỉ huy những lính trừ bị Ả Rập – một đơn vị trong Lữ đoàn Đông Ả Rập ở Sudan. Nhưng khi đến Jerusalem ông như lột xác vì ấn tượng trước năng lực của những Zionist, và ghê tởm trước những chiến thuật hù dọa của vị mufti và thái độ bài Do Thái của các sĩ quan Anh: ‘Mọi người đều chống Do Thái,’ ông tuyên bố, ‘vậy thì tôi sẽ ủng hộ họ!’

Wingate thanh tra các binh lính Anh và các nông trại bị bao vây. Ngay giữa đêm khuya khoắt, họ thường được một nhân vật phi thường đột xuất thăm viếng. Lúc nào cũng trang bị đến tận răng, Đại úy Wingate 31 tuổi, với cặp mắt xanh thẫm xuyên thấu, mũi khoằm và trông khắc khổ, xa xăm của một học giả, đến bằng chiếc Studebaker kín mít chứa đầy vũ khí, bản đồ, súng trường Lee Enfield, lựu đạn Mills – và một cuốn Thánh kinh. Wingate xác định rằng ‘người Do Thái sẽ cho ta những quân nhân thiện chiến hơn chúng ta.’ Vào tháng ba 1938, tư lệnh Anh Sir Archibald Wavell, ấn tượng trước cá tính mạnh mẽ này, ra lệnh cho Wingate huấn luyện các lực lượng đặc biệt Do Thái và bố trí những lực lượng này được gọi là Đội Biệt kích Đêm chống bọn nổi dậy.

Đặt trụ sở trong Khách sạn Fast, gần Cổng Jaffa, Wingate học nói tiếng Do Thái trôi chảy và sớm được biết là ‘Người Bạn Lớn’ của Zionist – nhưng người Ả Rập xem như kẻ thù, còn các sĩ quan đồng nghiệp Anh thì xem ông như tên lập dị luôn tất bật. Dời ra ngoài Trụ sở Chính quyền, ông cất nhà ở Talpiot sống với cô vợ Lorna, ‘trẻ và xinh xắn như búp bê bằng sứ. Người ta khó rời mắt khỏi nhìn cô’, Ruth Dayan nhớ lại. Ruth Dayan là vợ của Moshe Dayan, con trai 22 tuổi của những người nhập cư Nga, sinh ra tại khu định cư Do Thái đầu tiên ở thuộc địa, đã bí mật gìa nhập Haganah và đang phục vụ trong Lực lượng Cảnh sát Định cư Do Thái.

Wingate là một người mảnh khảnh, luôn kè kè một khẩu súng lục to nặng bên hông, mang theo một cuốn Kinh thánh nhỏ. Trước khi bước vào hành động, ông thường đọc một đoạn trong Kinh thánh có liên quan đến nơi họ chuẩn bị tác chiến. Ông cầm đầu Đội Biệt kích Đêm chống lại các tay súng Ả Rập. Chúng buộc phải nhận thức được rằng chúng không còn có thể tìm được con đường an toàn cho mình: chúng chắc chắn bị đánh chụp trong một cuộc đột kích bất ngờ ở bất cứ nơi đâu. Trong cuộc Nổi dậy và sau đó trong Thế Chiến II, người Anh huấn luyện 25,000 quân trừ bị Do Thái, kể cả các đơn vị biệt kích khác do Yitzhak Sadeh, một cựu sĩ quan Hồng quân Nga đã trở thành tham mưu trưởng của Haganah, cầm đầu. Wingate thường động viên họ, ‘Các anh là những người con của Maccabee. Các anh là những chiến sĩ đầu tiên của quân lực Do Thái!’ Sự tinh nhuệ và tinh thần của họ sau đó tạo thành Lực lượng Phòng vệ Israël.

Vào tháng 9 1938, Hiệp ước Munich của Thủ tướng Neville Chamberlain, làm hạ nhiệt mức gây hấn và cho phép ông ta chia cắt Czechoslovakia, giải phóng được binh sĩ Anh: 25,000 quân chi viện đến Palestine. Vậy mà ở Jerusalem, phe nổi dậy đột kích thành công một trận táo vào ngày 17/10, họ đánh chiếm toàn bộ Thành phố Cổ, phong tỏa các cổng, đánh đuổi binh sĩ Anh và thậm chí phát hành tem bưu chính có đóng dấu al-Quds (tức Jerusalem theo cách gọi của người Ả Rập). Wasif Jawhariyyeh, người chơi đàn oud sống gần Cổng Jaffa, tự hào trông thấy một lá cờ Ả Rập bay phấp phới từ Tháp David. Nhưng vào ngày 19/10, quân Anh tấn công ào ạt các cổng và chiếm lại thành phố, giết chết 16 tay súng.

Mặc dù ông là một người hùng đối với người Do Thái, các cuộc hành quân của Wingate bị các sĩ quan Anh coi là không có lợi ích thiết thực.

Tư lệnh sư đoàn của Wingate, Thiếu tướng Bernard Montgomery, không thích sự bừa bãi quân sự và tính bè phái đối với Zionist của ông. Montgomery nói với Dayan rằng ‘Wingate có tâm trí không ổn định’. Wingate bị gọi về bộ chỉ huy Anh ở Jerusalem. Giờ người Anh đã có đủ lực lượng, họ không còn cần biệt kích Do Thái.

‘Tôi không cần biết các bạn là Do Thái hay không,’ Montgomery bảo với đại diện của cả hai bên. ‘Trách nhiệm của tôi là duy trì luật pháp và trật tự. Và tôi dự tính sẽ làm thế.’ Montgomery tuyên bố cuộc Nổi dậy ‘cuối cùng đã bị đập tan’. 500 người Do Thái và 150 người Anh đã bị giết, nhưng cuộc Nổi dậy đã lấy đi sự tổn thất khủng khiếp nhất cho xã hội Palestine : một phần mười nam thanh niên trong độ tuổi 20-60 đã bị thiệt mạng, bị thương hoặc bị lưu vong. 146 người bị kết án tù, 50,000 người bị bắt và 5,000 ngôi nhà bị phá hủy. Khoảng 4,000 người bị giết chết, nhiều người trong số đó bởi các đồng bào Ả Rập của mình. Cũng vừa đúng lúc, vì các lực lượng Anh chắc chắn chẳng bao lâu sẽ cần có mặt ở châu Âu.

Neville Chamberlain, mà cha ông đã đề xuất giải pháp lãnh thổ Uganda cho người Do Thái, quyết định đảo ngược Tuyên bố Balfour. Nếu xảy ra chiến tranh, người Do Thái không có lựa chọn nào khác trừ hậu thuẫn người Anh đánh Quốc xã. Nhưng người Ả Rập có được sự chọn lựa thực sự. ‘Nếu chúng ta phải xúc phạm một bên,’ Chamberlain nói, ‘chúng ta thà xúc phạm người Do Thái hơn là Ả Rập.’ Vì vậy ông mời cả hai bên phát biểu trước một hội nghị ở London. Người Ả Rập cử vị mufti làm trưởng đoàn, nhưng vì người Anh không đồng ý sự hiện diện của ông, nên em họ của ông là Jamal al-Husseini thay thế vị trí ông; Nashashibi cầm đầu phe ôn hòa. Nhóm Husseini cư ngụ tại Dorchester, nhóm Nashashibis tại Carlton. Weizmann và Ben-Gurion đại diện những người Zionist. Vào ngày 7/2/1939, Chamberlain phải khai mạc hội nghị tại Cung điện St James hai lần vì người Ả Rập và Zionist không chịu thương lượng trực tiếp.

Chamberlain hy vọng thuyết phục được người Zionist đồng ý ngưng nhập cư, nhưng không đạt kết quả. Vào ngày 15/3 sự trống rỗng trong lời hứa xuống thang của Hitler được phơi bày khi vị Führer xâm chiếm phần còn lại của Czechoslovakia. Hai ngày sau, Malcolm MacDonald, bộ trưởng thuộc địa, ban hành Bạch Thư đề xuất việc hạn chế người Do Thái mua đất đai và hạn chế số người nhập cư chỉ còn 15,000 mỗi năm trong 5 năm, mà người Ả Rập sau đó sẽ phủ quyết, Palestine sẽ được độc lập trong vòng 10 năm và không có vấn đề nhà nước Do Thái. Đây là đề nghị tốt nhất mà người Palestine nhận được từ người Anh hoặc bất kỳ nước nào khác trong suốt thế kỷ 20, nhưng vị mufti, thể hiện sự bất tài chính trị và sự ương ngạnh ta đây, bác bỏ nó từ chốn lưu vong của mình ở Lebanon.

Ben-Gurion chuẩn bị lực lượng dân quân Hagamah để chống lại người Anh. Người Do Thái nổi dậy ở Jerusalem. Vào ngày 2/6, Irgun đánh bom ngôi chợ bên ngoài Cổng Jaffa, giết 9 người Ả Rập. Vào ngày 8, ngày cuối cùng ở lại Jerusalem trong chuyến thăm vào dịp Phục Sinh, một du khách Mỹ trẻ, John F. Kennedy, con của vị đại sứ Mỹ ở London, nghe 14 vụ nổ do Irgun thực hiện, phá sập hệ thống điện trên khắp Thành phố Thánh. Nhiều người giờ đây chia sẻ với quan điểm của Montgomery cho rằng ‘Do Thái sát hại Ả Rập và Ả Rập sát hại Do Thái và tình trạng đó chắc chắn sẽ tiếp tục 50 năm tới.

 

VỊ MUFTI VÀ HITLER: THẾ CHIẾN Ở JERUSALEM

Khi Adolf Hitler thắng lợi như chẻ tre, vị mufti của Jerusalem thấy đây là cơ hội để giáng trả những kẻ thù chung của họ, người Anh và Do Thái. Pháp đã sụp đổ, Wehrmacht (quân lực Đức) đang ồ ạt tiến về Moscow, và Hitler bắt đầu kế hoạch tàn sát 6 triệu người Do Thái trong Giải pháp Cuối cùng của ông ta. Vị mufti đã chuyển về Iraq để chỉ đạo những mưu mô chống Anh nhưng, sau khi tổ chức thêm những thất bại, y phải tháo chạy đến Iran và rồi, bị đặc vụ Anh truy lùng, y lao vào một chuyến phiêu lưu cuối cùng mang y đến Ý. Ngày 27/10/1941, Benito Mussolini tiếp y tại Palazzo Venetia ở La Mã, hậu thuẫn việc thành lập nhà nước Palestine: nếu bọn Do Thái muốn có xứ sở riêng, ‘chúng nên thành lập Tel Aviv ở Mỹ’, Il Duce nói. ‘Chúng tôi có ở đây nước Ý 45,000 người Do Thái và sẽ không có chỗ nào cho chúng ở châu Âu.’ Vị mufti – ‘rất hài lòng về cuộc tiếp kiến’ – bay đến Berlin.

Lúc 4:30 chiều ngày 28/11, vị mufti được Adolf Hitler tiếp kiến: y đang căng thẳng vì người Xô-viết đã chặn đứng đà tiến của người Đức ở ngoại vi Moscow. Người thông ngôn của vị mufti đề nghị với Führer rằng, theo truyền thống Ả Rập, cà phê nên được phục vụ. Hitler bực dọc trả lời ông không uống cà phê. Vị mufti cật vấn có vấn đề gì thế. Viên thông ngôn trấn an vị mufti, nhưng giải thích với Führer rằng khách còn chờ đợi cà phê. Hitler trả lời rằng ngay cả Tư lệnh Cao cấp còn không được phép uống cà phê khi có sự hiện diện của ông: sau đó ông rời phòng, trở lại với một cận vệ SS mang đến một chai limonade.

Husseini nhờ Hitler hậu thuẫn ‘sự độc lập và thống nhất của Palestine, Syria và Iraq’ và việc thành lập một Quân đoàn Ả Rập để sát cánh cùng với Wehrmacht. Vị mufti nói với vị chủ nhân của thế giới rằng mình đang mặc cả không chỉ vì Palestine mà còn cho đế chế Ả Rập dưới sự cai trị của ông ta.

Hitler vui sướng khi ông ta và vị mufti có chung kẻ thù: ‘Đức đang lao vào một cuộc chiến sống chết với hai thành lũy của quyền lực Do Thái – Anh và Liên bang Xô-viết’ – và tất nhiên sẽ không có nhà nước Do Thái ở Palestine. Đúng ra Hitler ám chỉ đến Giải pháp Cuối cùng cho vấn đề Do Thái của ông ta: ‘Đức quyết tâm, từng bước một, sẽ yêu cầu hết quốc gia Âu châu này đến quốc gia Âu châu khác giải quyết vấn đề Do Thái của nước mình.’ Ngay sau khi ‘quân Đức tiến đến cửa ngõ phía nam Caucasus’, Hitler nói, ‘mục tiêu sau đó của Đức sẽ là hủy diệt yếu tố Do Thái còn tồn tại ở khu vực Ả Rập.’

Tuy nhiên, chỉ khi nào Nga và Anh bị đánh bại, bước đi đầy tham vọng của vị mufti đối với toàn Trung Đông còn phải đợi. Hitler nói ông ‘phải suy nghĩ và ôn tồn cân nhắc như một người biết lý lẽ’, cẩn thận không làm mất lòng chính phủ Vichy Pháp bạn đồng minh của mình. ‘Chúng tôi lo lắng cho ngài,’ Hitler bảo với Husseini. ‘Tôi biết chuyện đời của ngài. Tôi theo dõi với mối quan tâm chuyến đi nguy hiểm của ngài. Giờ tôi sung sướng có ngài bên chúng tôi.’ Sau đó, Hitler khen tặng cặp mắt xanh và mái tóc hung đỏ của Husseini, xác quyết rằng y có dòng máu Aryan.

Vậy là vị mufti chia sẻ với Hitler không chỉ mối thâm thù có tính chiến lược với người Anh mà còn chủ nghĩa bài Do Thái mang tính chủng tộc đến mức độ chết người nhất – và thậm chí trong hồi ký viết khá lâu sau đó, y còn nhớ rằng Reichführer-SS Heinrich Himmler, mà y rất thích, thổ lộ với y trong mùa hè 1943 là Đức Quốc xã đã ‘hủy diệt hơn 3 triệu người Do Thái.’ Vị mufti lạnh lùng huênh hoang rằng mình hậu thuẫn bọn Quốc xã ‘vì tôi từng tin và vẫn còn tin rằng nếu Đức thành công, sẽ không còn bóng dáng tên Zìonist nào ở lại Palestine’.

Người Do Thái ắt hẳn thối chí khi biết tin y có mặt ở Berlin. Quan điểm của vị mufti là không thể bào chữa được – nhưng thật sai lầm khi sử dụng nó để cho rằng các người dân tộc chủ nghĩa Ả Rập đều theo Hitler bài Do Thái. Wasif Jawhariyyeh, người như chúng ta đã biết rất thông cảm với nỗi khốn khổ của người Do Thái, là trường hợp điển hình. Ông viết trong nhật ký của mình rằng người Jerusalem Ả Rập, ghê tởm người Anh vì ‘tính bất công, bất lương và Tuyên bố Balfour, hy vọng Đức sẽ đánh thắng cuộc chiến. Họ quen ngồi đó, lắng nghe tin chiến sự, chờ đợi những tin thắng lợi phía Đức, buồn rầu khi nghe tin tốt lành của Anh.’

‘Nghe có vẻ kỳ lạ’, Hazem Nusseibeh nhớ lại, nhưng vào thời chiến ‘Jerusalem lại tận hưởng không khí hòa bình và thịnh vượng chưa từng có’. Người Anh kềm kẹp lực lượng dân quân Do Thái: Moshe Dayan và các đồng chí Haganah của ông bị bắt giữ và cầm tù ở Pháo đài Acre. Nhưng vào tháng 5 1941, khi Palestine thuộc Anh có tiềm năng bị kẹp gọng kềm giữa các lực lượng phe Trục ở Bắc Phi và Syria thuộc chính phủ Vichy Pháp, người Anh lập ra Palmach, một lực lượng biệt kích Do Thái nhỏ, từ các chiến binh của Wingate và Sadeh, sẵn sàng chiến đấu với bọn Quốc xã.

Dayan, được phóng thích từ nhà tù, được gửi tham gia những cuộc đột kích để chuẩn bị cho cuộc xâm chiếm Syria và Lebanon của Vichy. Trong một cuộc giao tranh ở nam Lebanon, Dayan đang theo dõi những vị trí của Pháp qua ống nhắm ‘thì một viên đạn súng trường bắn nát kính và một mảnh ghim vào tròng mắt ông’. Ông ghét phải đeo chiếc đệm lót che con mắt bị hư, cảm thấy như một người tàn tật. ‘Ước gì tôi có thể bỏ đi chiếc đệm che mắt màu đen. Nó lôi kéo sự chú ý của người lạ thật không chịu đựng được. Tôi thích ru rú ở nhà, hơn là đối đầu trước những phản ứng của người lạ bất cứ tại đâu tôi đến.’ Dayan và cô vợ trẻ chuyển đến Jerusalem để chữa trị vết thương. Ông ‘yêu thích lang thang quanh Thành phố Cổ, nhất là. đi trên lối đi nhỏ hẹp phía trên tường thành bao quanh. Thành phố Mới có phần nào xa lạ đối với tôi, nhưng Thành phố Cổ quả là điều mê hoặc.’ Tổ chức Haganah, với sự hỗ trợ của người Anh, đang chuẩn bị hoạt động ngầm nếu quân Đức chiếm Palestine.

Jerusalem là nơi trú ẩn ưa chuộng cho những ông vua lưu vong – George II của Greece, Peter của Nam Tự và Hoàng đế Ethiopia Haile Selassie tất cả b đều lưu trú tại Vua David. Hoàng đế đi chân trần qua đường phố và đặt vương miện dưới chân áng thờ trong Mộ Thánh. Đúng là những lời cầu nguyện của ông được đáp lại: ông được phục hồi trở lại ngai vàng.

Ngày và đêm, những hành lang và quán ba của Khách sạn Vua David đông nghẹt các hoàng thân, các đại quý tộc, quan triều, tài phiệt, ma cô, gái điếm hạng sang, ngôi sao điện ảnh, bọn làm tiền, bọn ăn không ngồi rồi Ai Cập, Lebanon, Syria, Serbia, Hy Lạp và Ethiopia và các gián điệp Đồng minh, phe Trục, phe Zionist, và Ả Rập, cũng như các sĩ quan và nhà chính khách trong các sắc phục Pháp, Anh, Úc và Mỹ.

Năm 1942, người Đức thọc sâu vào vùng Caucasus, trong khi Lữ đoàn Ai Cập của Tướng Erwin Rommel tiến vào Ai Cập. Ngay cả sự tồn tại của khu định cư Do Thái ở Palestine cũng lâm vào cảnh hiểm nghèo. Khắp Địa Trung Hải, ở Hy Lạp, lực lượng SS Einsatzkommando Afrika dưới sự chỉ huy của SS Walter Rauf, được giao nhiệm vụ hủy diệt người Do Thái Phi châu và Palestine. ‘Người Do Thái nào cũng đều lộ vẻ sợ hãi nhất là khi quân Đức đến Tobruk,’ Wasif ghi trong nhật ký.

Vào tháng 10 1942, Tướng Montgomery đập tan quân Đức tại El Alamein, một phép lạ mà Weizmann so sánh với cuộc rút lui bí mật của Sennacherib từ Jerusalem. Nhưng vào tháng 11 những tin tức đầu tiên về vụ Holocaust đến Jerusalem. ”Thảm sát Tập thể người Do Thái Ba Lan!’ tờ Palestine Post đăng tít. Người Do Thái Jerusalem than khóc trong ba ngày, và kết thúc bằng buổi cầu nguyện ở Bức Tường.

Việc người Anh siết chặt người Do Thái nhập cư được thông báo trên Bạch Thư năm 1939, không thể nào ở vào một thời điểm tệ hơn: trong khi người Do Thái Âu châu đang bị tàn sát ở châu Âu thuộc Quốc xã, thì binh lính Anh đang đuổi trở lại những chuyến tàu chở người tị nạn tuyệt vọng. Vụ Nổi dậy Ả Rập, Giải pháp Cuối cùng của Hitler và Bạch Thư thuyết phục nhiều người Zionist rằng chỉ có bạo lực là con đường duy nhất để buộc người Anh chấp nhận vùng đất quê hương Do Thái.

Cục Do Thái điều khiển lực lượng dân quân lớn nhất, tổ chức Haganah, với lực lượng đặc biệt 2,000 người, nhóm Palmach, và 25,000 dân quân của nó được người Anh huấn luyện. Ben-Gurion hiện giờ là lãnh tụ Zionist không tranh cãi. Nhưng chính tổ chức Irgun hiếu chiến hơn, dưới sự lãnh đạo của một nhân vật mới rất kiên định, giờ đây phát động cuộc chiến chống người Anh.

12

Nghi thức Lửa Thánh trong dịp Lễ Phục Sinh hàng năm (nhìn từ mái vòm của Nhà Thờ Mộ Thánh) chen chúc người, đam mê và thường gây chết người.

13

Cầu nguyện tại Bức Tường 6 năm 1944 để tưởng nhớ những nạn nhân vụ Holocaust cho thấy khu vực nhỏ hẹp được cấp phép cho người Do Thái.

Image

❀ ❀ ❀

[1] Vụ Oanh tạc Dresden là vụ Anh Mỹ bỏ bom vào thành phố công nghiệp Dresden của Đức trong thế chiến II. 722 oanh tạc cơ hạng nặng của Anh và 527 của Mỹ bỏ hơn 3,900 tấn bom, giết hơn 20,000 dân thường vô tội, được coi là tội ác chiến tranh, gây tai tiếng cho Đồng Minh.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.