Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trường Phái Tân Lãng Mạn Chateaubriand Và Disraëli (1806–1830)

❊ ❊ ❊

TỬ TƯỚC VỚI HUY CHƯƠNG MỘ THÁNH

‘Jerusalem khiến tôi quá đỗi kính sợ’ François-René, Vicomte de Chateaubriand phát biểu, cho dù ‘thành phố giết chúa’ này là ‘một đống rác’ với ‘những đền kỷ niệm rối rắm của một nghĩa địa ở giữa một sa mạc’. Gã quí tộc tóc bồng theo đạo Thiên chúa này ôm lấy quan điểm lãng mạn của một Jerusalem Gô-tich xập xệ đang đợi một ‘bậc kỳ tài của đạo Cơ đốc giải cứu. Đối với ông, Jerusalem càng khốn khổ, nó càng trở nên linh thiêng và thi vị hơn – và thành phố giờ đây đang tuyệt vọng.

Các thống đốc làm loạn cùng bè lũ nông dân Palestine cứ thay phiên nổi dậy và chiếm lấy Jerusalem bị Chúa ruồng bỏ. Tử tước đến để tìm thấy thống đốc Damascus hạ trại bên ngoài Cổng Jaffa trong khi 3,000 binh lính của y đe đọa dân chúng. Khi Chateaubriand cư ngụ tại Tu viện St Saviour, nó bị chiếm đóng bởi những tên vô lại moi tiền các thầy dòng. Ông đi khệnh khạng trên đường phố, vũ trang vài khẩu súng lục nhưng ở tu viện, một tên trong bọn thừa lúc ông không cảnh giác ra tay giết ông: ông chỉ sống được nhờ chẹn họng tên Thổ. Trong đường phố, ‘chúng tôi không gặp bóng người nào! Thật thê lương vì hầu hết dân cư đã chuồn ra vùng núi. Các cửa hiệu đóng cửa, dân chúng rút vào hầm hoặc ra vùng núi.’ Khi thống đốc bỏ đi, lực lượng đồn trú ở Tháp David chỉ chừng một tá và thành phố trông càng ma quái hơn: ‘Âm thanh duy nhất là tiếng vó ngựa trên sa mạc – đó là một lính bộ binh Ottoman mang về thủ cấp của một gã Bedouin hoặc trở về sau khi đã cướp bóc đám nông dân nghèo khổ.

Giờ nhân vật Pháp có thể thích thú tìm hiểu những bí ẩn linh thiêng bẩn thỉu của các điện thờ. Con người sành ăn này, mà tên của ông được đặt cho một loại bít tết chế biến theo gu của ông (Chateaubriand là tên một món bít tết rất phổ biến trong thực đơn Pháp:;ND), thưởng thức các bữa tiệc mà ông chia sẻ với các gia chủ Francis có tiếng là phúng phính của mình, thỏa thuê chén các thực đơn gồm ‘súp đậu lăng, thịt bê hầm với dưa chuột và củ hành, dê tơ nướng với gạo, chim bồ câu, gà gô, thịt săn, rượu vang tuyệt hảo.’ Trang bị vài khẩu súng lục, ông đi lại con đường khổ não của Jesus trong khi chế giễu những đài tưởng niệm Ottoman (‘không đáng chú ý’) và người Do Thái ‘ăn mặc rách rưới, nêm cứng trong bụi bặm của Zion, với sâu mọt gậm nhấm họ’. Chateaubriand kinh ngạc ‘khi thấy những ông chủ thực sự của Judaea này lại sống như nô lệ và kẻ xa lạ ngay trên xứ sở của mình’.

Trong Mộ Thánh ông quì gối cầu nguyện nửa giờ, cặp mắt của ông ‘xoáy vào tảng đá’ của nhà mộ Jesus, chóng mặt vì khói hương, tiếng đập chập chả của người Ethiopia và tiếng đọc kinh của người Hy Lạp, trước khi quì tại lăng mộ của Godfrey và Baldwin, những chiến sĩ Pháp đấu tranh đã đánh bại đạo Hồi, ‘một tôn giáo thù địch với văn minh và hậu thuẫn một cách có hệ thống cho sự dốt nát, độc tài và nô dịch’.

Dòng Francis ban thưởng cho Chateaubriand Huân chương Mộ Thánh trong một buổi lễ trang trọng. Khi họ bao quanh tử tước đang quì gối, gắn đinh thúc ngựa vào gót giày của ông và phong chức hiệp sĩ cho ông bằng thanh gươm Thập Tự quân, ông trải nghiệm một niềm vui sướng gần như là xuất thần:

Nếu xét việc tôi ở Jerusalem, trong Nhà Thờ Calvary, chỉ cách nhà mộ Jesus chục bước chân và cách mộGodfrey de Bouillon ba mươi bước chân, rằng tôi được trang bị đinh thúc ngựa của Người Giải phóng Mộ Thánh; và đã chạm vào thanh gươm đó, vừa dài vừa to bản, quá cao quí và quả cảm thay cánh tay đã từng một lần giữ chặt nó, đến nỗi tôi không sao cầm được xúc động.

Vào ngày 12/10/1808, người Armenia giữ đồ thánh trong nhà thờ ngủ quên bên bếp lò trong phòng Armenia trên tầng hai của Nhà Thờ Mộ Thánh. Lò bếp bắt lửa, thiêu cháy y và sau đó lan ra. Nhà mộ Jesus bị phá hủy. Trong cơn hoảng loạn xảy ra sau đó, người Cơ đốc mời Hassan al-Husseini, vịmufti(thủ lĩnh Hồi giáo) hạ trại trong sân Nhà Thờ để đề phòng trộm vặt. Người Hy Lạp lên án người Armenia đã phóng hỏa. Anh và Áo đang chiến đấu để chống lại Hoàng đế Napoleon bất bại vì thế người Hy Lạp, được người Nga hậu thuẫn, có thể củng cố quyền kiểm soát Nhà Thờ của họ. Họ xây dựng một điện thờ nhỏ quanh vị trí Nhà Mộ đã bị phá hủy, đến nay vẫn còn. Họ chào mừng bằng cách đập nát những ngôi mộ của các nhà vua Thập Tự Chinh: Chateaubriand, giờ đã trở lại Pháp, là người ngoài cuộc nhìn thấy chúng lần cuối cùng. Một đám đông người Hồi tấn công thợ xây dựng đang phục hồi Nhà Thờ; quân đồn trú nổi loạn, và người kế vị Đồ Tể cũng là con rể y, Suleiman Pasha – được biết với danh hiệu Người Công Chính (mặc dù không ai bỏ qua cho người tiền nhiệm của ông) – đánh chiếm thành phố; 46 tên phản loạn bị hành hình, thủ cấp của chúng trang trí cho cổng vào.

Khi Jerusalem bằng xương bằng thịt phân hủy, Jerusalem trong tưởng tượng đốt cháy những giấc mơ Tây phương, được cuộc chiến Trung Đông nhỏ bẩn thỉu của Napoleon và sự suy thoái của triều đại Ottoman cổ vũ – và có cả quyển sách mà Chateaubriand viết sau khi về nhà. Nhật ký hành trình của ông từ Paris đến Jerusalem tạo giọng điệu cho thái độ của người Âu đối với phương Đông dưới ách cai trị tàn bạo nhưng yếu kém của người Thổ, người Do Thái kêu khóc, và người Ả Rập sơ khai nhưng dữ tợn. Cuốn sách bán chạy nhất đến nỗi nó khởi động một thể loại mới và ngay cả người hầu của ông, Julien, cũng viết hồi ký về chuyến đi của mình. Ở London, Sir Sidney Smith khoác lác về những kỳ tích của mình trong vùng Levant kích thích óc tưởng tượng của nhân tình hoàng gia của ông – và tạo cảm hứng cho chuyến du lịch hoàng gia phi lý nhất.

 

CAROLINE XỨ BRUNSWICK VÀ HESTER STANHOPE: HOÀNG HẬU ANH VÀ HOÀNG HẬU SA MAC

Công nương Caroline, người vợ bị ghẻ lạnh của Hoàng thân Nhiếp chính Anh (sau này là Vua George IV), bị thu hút với ngài Smith sôi nổi,và đều đặn mời em họ của ông, Lady Hester Stanhope, cháu gái của Thủ tướng William Pitt the Younger, làm bình phong che giấu sự dan díu vụng trộm trơ tráo của họ.

Lady Hester ghê tởm Công nương Caroline sỗ sàng, dối trá và dâm đãng, dám phô trương mình trước mặt Smith bằng cách ‘nhảy nhót, phơi bày thân thể, như một ả đào hát’: ‘một ả trơ tráo, một con điếm chính cống! Quá hèn hạ! Quá thô bỉ!’ Cuộc hôn nhân của Caroline với Hoàng thân Nhiếp chính đã là một thảm hoạ và cái gọi là ‘Cuộc Điều Tra Tế Nhị’ vào cuộc sống tình ái của bà sau đó phát hiện ra là bà có ít nhất năm người tình trong đó có Smith, Lord Hood, hoạ sĩ Thomas Lawrence và hai tên gia nhân. Nhưng những câu chuyện của Smith về Acre và Jerusalem it nhất đã tìm thấy mục tiêu: cả hai phụ nữ đều quyết định riêng lẻ đi du lịch về phương Đông.

Lady Hester có sứ mạng riêng ở Jerusalem. Richard Brothers, một cựu thủy thủ và một người theo giáo phái Can-vin, đã tự xưng là hậu duệ của Vua David, sẽ là Người Cai Trị Thế Giới cho đến khi Christ xuất hiện lần hai. Quyển sách của ôngKế Hoạch cho Tân Jerusalemtiết lộ rằng Chúa đã ‘định trước cho tôi là Vua và Người Phục hồi nước Do Thái’, và các Brothers cũng xác minh rằng dân tộc Anh là dòng dõi của các Bộ tộc Thất lạc: ông sẽ dẫn dắt họ trở lại Jerusalem. Ông thiết kế hoa viên và cung điện cho Núi Đền, đồng phục và quốc kỳ cho Israëlite mới, nhưng rồi sau đó ông bị tống vào ngục vì cho là điên. Tầm nhìn Anh-Do Thái này là một tầm nhìn lập dị. Vậy mà trong vòng 30 năm niềm tin vào sự trở về linh thiêng của người Do Thái gần như là một chính sách của chính quyền Anh.

Các đồng đạo ngóng chờ một phu nhân thánh thiện để hỗ trợ cho sự nghiệp này và chọn Lady Hester Stanhope làm ‘Nữ hoàng Do Thái’ của ông. Khi bà đến thăm ông trong Nhà Tù Newgate, ông tiên đoán là ‘một ngày bà sẽ đến Jerusalem và dẫn dắt Những Người Được Chọn trở về!’ Stanhope có đến thăm Jerusalem vào năm 1812, ăn mặc duyên dáng trong sắc phục Ottoman, nhưng các tiên đoán của đồng đạo không hiện thực. Bà ở lại phương Đông – và tiếng tăm bà giúp xiển dương sự quan tâm của châu Âu. Mãn nguyện hơn hết, bà vượt qua mặt ả Caroline đáng khinh bỉ khi đến Jerusalem trước ba năm.

Vào ngày 9/8/1814, công nương, ở tuổi 46, lên đường trên một chuyến đi Địa Trung Hải đầy tai tiếng. Lấy cảm hứng từ Smith, Stanhope và những khách hành hương là hậu duệ các thập tự quân xưa kia, Caroline tuyên bố rằng ‘Jerusalem là tham vọng lớn của tôi’.

Tại Acre, công nương được thủ tướng của Suleiman the Just đón tiếp. Ông Haim Farhi này từng là cố vấn của Đồ Tể tiền nhiệm, là người Do Thái muốn có lại một mắt, một tai, một mũi. Mười năm sau khi Đồ Tể chết, các quan triều tháp tùng Caroline ngạc nhiên khi thấy trên đường phố có nhiều người mất mũi, trong khi công nương thì thích thú trước sự long trọng hoang dã của tập quán đông phương. Bà đem theo đoàn tùy tùng 26 người trong đó có một đứa trẻ bị bỏ rơi, Willie Austin, mà bà đã nhận làm con nuôi (người ta đồn đó có thể là con riêng của bà), và người tình mới nhất của bà, một quân nhân Ý có tên Bartholomeo Pergami, nhỏ hơn bà 16 tuổi. Giờ đây là một nam tước và là quản gia của bà, gã là ‘một người cao 6 bộ với mái tóc đen, nước da sáng và râu mép dài ngoằn. Lúc mà Caroline khởi hành đi Jerusalem, đoàn tùy tùng của bà gồm 200 người trông như một đạo quân.

Bà bước vào Jerusalem trên lưng lừa như Jesus, nhưng bà khá béo nên phải cần người hầu đỡ lên. Các thầy tu Francis hộ tống bà trên lưng lừa đến St Saviour. ‘Không sao vẽ nên bức tranh của cảnh tượng,’ một quan triều trong đoàn nhớ lại. ‘Đàn ông, đàn bà và trẻ em, người Do Thái và Ả Rập, Armenia, Hy Lạp, Cơ đốc và ngoại giáo tất cả đều chào đón chúng tôi. “Ben venute!” (tiếng Ý, có nghĩa Xin chào mừng) họ reo lên!’ Dưới ánh sáng của các ngọn đuốc, nhiều ngón tay chỉ chỏ đoàn hành hương hoàng gia cùng tiếng kêu ‘Bà ấy đó!’ Không có gì ngạc nhiên: Caroline thường ‘đội tóc giả, đeo lông mày giả (trời không cho bà lông mày nào) và hàm răng giả’, với y phục màu tía, cắt rất thấp trước ngực cũng như sau lưng và lại quá ngắn không đủ che ‘cái bụng lớn nhô ra’. Một quan triều phải công nhận rằng việc bà đi vào ‘vừa trang trọng vừa có lẽ buồn cười’.

Tự hào là công nương Cơ đốc đầu tiên sau 6 thế kỷ đến thăm, Caroline thành khẩn mong mỏi để lại ‘một cảm nhận thích đáng về vị thế đang lên cao của mình’, vì thế bà sáng lập Huân chương St Caroline với cờ hiệu riêng – một thập giá đỏ với dây ruy băng hình hoa tử đinh hương. Người tình của bà Pergami là ‘Grand Master’ đầu tiên (và cuối cùng) của Huân chương. Khi bà trở về, bà ủy thác vẽ một bức hoạ về chuyến hành hương của mình tựa đề:Bà Hoàng Caroline Vào Jerusalem.

Bà hoàng tương lai của nước Anh phân phát hào phóng quà biếu cho các thầy tu Francis và vào ngày 17/7/1815 (ba tuần sau trận thảm bại cuối cùng của Napoleon tại Warterloo) ‘rời Jerusalem giữa những lời cảm tạ và luyến tiếc của mọi chức tước và cấp bậc’ – điều không mấy ngạc nhiên.

Khi Damascus nâng thuế vào năm 1819, thành phố lại nổi dậy lần nữa. Lần này, Abdullah Pasha, chủ nhân của Palestine, cháu nội của Đồ Tể, tấn công Jerusalem và khi nó bị đánh chiếm, thống đốc thành phố đích thân xiết cổ 28 tên nổi dậy – số còn lại bị bêu đầu vào ngày hôm sau, tất cả thi thể xếp chồng hàng bên ngoài Cổng Jaffa. Năm 1824, những vụ cướp phá dã man của thống đốc Ottoman được biết dưới tên Mustafa Kẻ Tội Phạm đưa đến vụ nổi dậy của nông dân. Jerusalem có được độc lập trong vài tháng cho đến khi Abdullah pháo kích nó từ Núi Olives. Vào những năm cuối thập niên 1820, Jerusalem bị ‘thất thủ, hoang vắng và khốn cùng’, theo lời một khách du lịch Anh gan dạ, Judith Montefiore, cùng đi với người chồng giàu có, Moses. ‘Không một thánh tích nào còn lại ở thành phố từng là niềm vui của toàn thế giới’.

Nhà Montefiore là người đầu tiên thuộc dòng dõi mới những người Do Thái Âu châu có thế lực và kiêu hãnh, quyết tâm sẽ giúp đỡ những người anh em lạc hậu của mình ở Jerusalem. Họ được thống đốc thành phố khoản đãi nhưng cư trú với một nhà buôn bán nô lệ trước kia người Ma-rốc bên trong tường thành và bắt đầu công việc mạnh thường quân của mình bằng cách phục hồi Lăng mộ của Rachel gần Bethlehem, điện thờ linh thiêng thứ ba của Do Thái giáo sau Điện Thờ và các Lăng mộ của Tổ phụ ở Hebron. Nhà Montefiore không có con cái và Lăng mộ Rachel được nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn đến cầu tự. Người Do Thái ở Jerusalem chào đón họ ‘gần như đón Đấng Cứu Thế’, nhưng khẩn khoản xin họ đừng cho quá nhiều vì người Thổ sẽ đơn giản làm họ lụn bại hơn bằng cách tăng thuế cao hơn sau khi các mạnh thường quân đã đi rồi.

Moses Montefiore đến như một quí ông người Anh tự lập, gốc Ý và như một nhà tài chính quốc tế, anh rể của Nathaniel Rothschild, nhưng ông không đặc biệt mộ đạo. Chuyến đi đến Jerusalem đã thay đổi đời ông. Ông rời đó đi như một người Do Thái tái sinh, sau khi đã cầu nguyện suốt đêm ở đó. Đối với ông, Jerusalem chỉ đơn giản là ‘thành phố của tổ tiên chúng ta, mục tiêu vĩ đại và luôn được khao khát và hành trình của chúng ta’. Ông tin tưởng nghĩa vụ của mỗi người Do Thái là phải đi hành hương: ‘Tôi cúi đầu cầu nguyện Chúa Trời của tổ tiên tôi là từ đây về sau tôi sẽ trở nên một người Do Thái công chính hơn và tốt đẹp hơn.’

Trong chuyến về nhà, một cơn bão đáng sợ giáng xuống con thuyền chở Montefiore. Các thủy thủ sợ thuyền sẽ chìm. May mắn, Montefiore có mang theo bên mình, từ lễ Vượt Qua năm ngoái, một miếng matzah (bánh lễ Do Thái) không men để cầu may. Ông liền ném miếng bánh xuống mặt biển đang dậy sóng. Ngay lập tức biển lặng một cách kỳ diệu. Montefiore tin rằng mình được Chúa Trời ban phúc sau chuyến hành hương Jerusalem.

 

Ông sẽ trở lại Thành phố Thánh nhiều lần và từ đây sẽ nỗ lực phối hợp cuộc sống của một người Anh quyền thế với cuộc sống của một người Do Thái chính thống.

Không lâu sau khi Montefiore rời đi một con người kiểu cách cưỡi ngựa vào thị trấn: cả hai người đều là người Do Thái Sephardic ở Anh thuộc dòng dõi Ý. Họ không quen biết nhau – nhưng một ngày cả hai đều sẽ xiển dương sự can thiệp của Anh vào Trung Đông.

 

 

 

DISRAËLI: NHÂN VẬT LINH THIÊNG VÀ LÃNG MẠN

‘Bạn nên nhìn tôi trong y phục của một tên hải tặc Hy Lạp. Một áo sơ mi màu máu đỏ với các núm bạc to bằng đồng tiền, một khăn choàng lớn, một dây thắt lưng đầy súng lục và dao găm, một nón lưỡi trai đỏ, dép đỏ, áo chẽn và quần dài sọc xanh rộng. Hết sức tinh quái!’ Đây là cách thức Benjamin DIsraëli, nhà viết tiểu thuyết 26 tuổi hợp thời trang (đã là tác giả cuốnVị Công Tước Trẻ),một nhà đầu cơ thất bại và chính trị gia nhiều khát vọng, ăn mặc cho chuyến đi Đông phương. Những cuộc đi chơi kiểu này là phiên bản mới của Grand Tour thế kỷ 18, kết hợp việc làm dáng lãng mạn, việc ngắm cảnh Cổ điển, trò hút ống điếu, ăn chơi đàng điếm và thăm thú Istanbul và Jerusalem.

DIsraëli đã được nuôi dưỡng như một người Do Thái nhưng được rửa tội lúc 13 tuổi. Ông tự xem mình, theo lời ông kể với Nữ Hoàng Victoria, là ‘trang giấy trắng giữa Cựu Ước và Tân Ước’. Ông trông đúng như vậy. Mảnh khảnh và xanh xao với mái tóc đen và những lọn tóc quăn, DIsraëli cưỡi ngựa qua vùng đồi Judaea, trang bị vũ khí đầy đủ. Rồi ông trông thấy tường thành:

Tôi như bị sét đánh. Tôi nhìn thấy trước mắt mình một thành phố lộng lẫy. Ở phia trước là thánh đường nguy nga xây dựng tại địa điểm của Đền Thờ với hoa viên tuyệt đẹp và các cổng tuyệt vời – các đa dạng vòm và tháp vươn cao. Không gì có thể mường tượng ra hoang dã hơn, khủng khiếp hơn và cằn cỗi hơn cảnh vật chung quanh.

Tôi chưa hề thấy cảnh nào nổi bật đến như vậy. Ăn chiều trên mái ngói Tu viện Armenian, nơi ông lưu trú, DIsraëli say sưa trôi theo lịch sử Do Thái lãng mạn khi ông ngắm nhìn ‘kinh đô đã mất của đấng Jehovah’ và tò mò muốn biết Chúa của đạo Hồi: tôi không thể cưỡng lại việc đến thăm Núi Đền. Một thầy thuốc Scotland và sau đó một phụ nữ Anh đều đã xâm nhập nơi mở rộng của Núi Đền – nhưng chỉ bằng cách hóa trang cẩn thận. DIsraëli vụng về hơn: ‘Tôi bị theo dõi và vây quanh bởi một đám đông những người cuồng tín đội khăn xếp và thoát ra khỏi họ rất khó khăn!’ Ông coi người Do Thái và Ả Rập như một dân tộc – người Ả Rập chắc chắn là ‘người Do Thái trên lưng ngựa’ – ông hỏi những người Cơ đốc: ‘Đạo Cơ đốc của bạn ở đâu nếu bạn không tin Do Thái giáo?’

Chuyến thăm Jerusalem thuyết phục ông rằng nước Anh có một vai trò ở Trung Đông – và khiến ông mơ đến ngày trở về Zion. Trong cuốn tiểu thuyết của ông, cố vấn của vai chính David Alroy, phát biểu, ‘Ngài hỏi tôi muốn gì. Câu trả lời của tôi là sự tồn tại quốc gia. Ngài hỏi tôi muốn gì. Câu trả lời của tôi là Jerusalem.’ Vào năm 1851, DIsraëli nhà chính trị đang lên suy nghĩ đến việc ‘đưa người Do Thái trở lại miền đất hứa bằng cách mua lại lãnh thổ từ người Ottoman, vừa là chính đáng vừa khả thi’.

DIsraëli cho rằng cuộc phiêu lưu của Alroy là ‘tham vọng lý tưởng của mình’ nhưng thực sự ông quá nhiều tham vọng để có thể đánh liều sự nghiệp của mình cho bất cứ việc gì về Do Thái: ông muốn làm thủ tướng của đế chế lớn nhất trên mặt đất. Hơn 30 năm sau khi ông đã leo đến ‘đỉnh cột mỡ’, DIsraëli đúng là có dẫn dắt quyền lực Anh bước vào vùng đất này bằng cách đạt được Cyprus và mua Kênh đào Suez.

Không lâu sau khi DIsraëli trở về để lao vào sự nghiệp chính trị, một tướng quân Albania người đang cai trị Ai Cập đã chinh phục Jerusalem.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.