MELISENDE VÀ FULK: ĐÁM CƯỚI HOÀNG GIA
Người Jerusalem, được đốc quân Eustace xứ Grenier chỉ huy, hai lần nhìn thấy quân Ai Cập thua chạy. Niềm vui tràn ngập, Baldwin được chuộc lại: vào ngày 2/4/1125, toàn thành phố ùa ra cửa thành để nghênh đón nhà vua trở về. Trong thời gian ngồi tù Baldwin tập trung vào việc tìm người kế vị. Thừa kế của ông là một cô con gáiMelisende, mà giờ đây ông gã cho người có kinh nghiệm và năng lực, Fulk, Bá tước xứ Anjou, dòng dõi của Fulk Độc Địa hư hỏng đi hành hương nhiều lần và là con trai của người có biệt hiệu buồn cười Fulk Gớm Ghiếc và chính ông đã là một cựu Thập Tự quân.
Năm 1131, Baldwin lâm bệnh ở Jerusalem, và, lui về lâu đài Giáo trưởng, để chết như một kẻ khẩn cầu nhún nhường, ông thoái vị để nhường ngôi cho Fulk, Melisende và con trai còn bé của họ, nhà Baldwin III tương lai. Nghi lễ đăng quang ở Jerusalem đã tiến hóa theo cách riêng của mình. Tụ tập tại Đền Thờ Solomon, mặc áo thụng thêu, mang khăn choàng và đồ nữ trang hoàng gia, Fulk và Melisende trịnh trọng bước lên mình ngựa có phủ gấm hoa. Đi đầu là viên thị thần giơ cao thanh kiếm của vua, theo sau là tổng nội thị cầm quyền trượng và đốc quân với nghi thức hoàng gia, họ cưỡi ngựa qua thành phố trong tiếng reo hò – vị nguyên thủ Jerusalem đầu tiên được đăng quang trong đại sảnh hình tròn trong Mộ Thánh mới được tu bổ.
Giáo trưởng điều hành buổi tuyên thệ hoàng gia, hỏi ba lần cử tọa để khẳng định đây là những người thừa kế hợp pháp: Vâng! đám đông hô to. Hai vương miện được mang ra về phía áng thờ. Cặp đôi hoàng gia được xức dầu thánh từ một sừng đựng dầu trước khi Fulk được trao chiếc nhẫn trung thành, quả cầu quyền lực và vương trượng để trừng phạt những tội đồ, và dây nịt với thanh kiếm của chiến tranh và và công lý. Sau đó họ được giáo trưởng đội vương miện và ôm hôn. Bên ngoài Mộ Thánh, quan chủ lễ giúp Vua Fulk lên ngựa và họ cưỡi ngựa trở lại Núi Đền. Tại đại yến tiệc ở
Templum Domini, nhà vua mở lời xin trả lại vương miện nhưng rồi thu hồi lại, một truyền thống dựa trên câu chuyện về việc cắt bì Jesus khi người ta kể rằng Mary dẫn Jesus đến Đền Thờ, trao ông cho Chúa Trời và mang ông trở lại đổi lấy một con chiên và hai chim bồ câu. Cuối cùng dân chúng mang đến thức ăn và rượu vang cho các thị thần và nội thị dâng lên hoàng gia trong khi quan chủ lễ cầm cờ giơ cao phía trên đầu họ. Sau khi hát xướng, khiêu vũ, đốc quân hộ tống vua và hoàng hậu về cung.
Melisende là hoàng hậu trị vì nhưng lúc đầu Fulk được kì vọng sẽ cai trị trên danh nghĩa của mình. Ông là quân nhân bốn mươi tuổi, người béo lùn, tóc đỏ, ‘như Vua David’ theo lời William xứ Tyre, và một trí nhớ tồi, luôn là khuyết điểm của bậc vua chúa. Quen cai trị lãnh địa riêng của mình, ông thấy khó khăn khi quản lý, nói chi đến làm vui lòng, hoàng hậu độc đoán. Melisende, thon thả, da ngâm và thông minh. Chẳng bao lâu bà hoàng bỏ quá nhiều thời gian cho anh họ đẹp trai và bạn thân từ thuở nhỏ của mình, Bá tước Hugh xứ Jaffa, người có quyền thế giàu nhất ở Jerusalem. Fulk kết án họ tội dan díu.
BÀ HOÀNG MELISENDE: TAI TIẾNG
Việc Melisende lăng nhăng khởi đầu là tin đồn nhưng nhanh chóng trở thành một khủng hoảng chính trị. Là hoàng hậu bà không chắc bị trừng phạt; nhưng, theo luật xứ Frank, nếu một cặp bị phát hiện tội ngoại tình, người nữ sẽ chịu hình phạt xẻo mũi, còn người nam bị thiến. Một cách để chứng tỏ mình vô tội là đấu kiếm tay đôi: giờ một hiệp sĩ thách đấu kiếm với Bá tước Hugh để chứng tỏ mình vô tội. Nhưng Hugh trốn chạy đến lãnh thổ Ai Cập, tại đó ông ở ẩn cho đến khi Giáo hội dàn xếp một thỏa thuận theo đó ông phải bị lưu đày trong ba năm.
Khi trở về Jerusalem, một hôm Hugh ngồi chơi xúc xắc tại một quán rượu trên Phố Furriers, ông bị một hiệp sĩ xứ Breton đâm ông. Tuy vậy ông vẫn còn sống, nhưng Jerusalem ‘chấn động vì hành vi xúc phạm; một đám đông lớn tụ tập’ và lan truyền tin đồn là Fulk đã ra lệnh cho người giết tình địch của mình. Giờ thì chính nhà vua cần phải chứng tỏ mình vô tội: tên Breton bị xét xử và kêu án bị chặt hết tứ chi và cắt lưỡi. Nhưng Fulk ra lệnh để nguyên lưỡi của y để chứng tỏ mình không diệt khẩu. Cho dù tên Breton đã hoàn toàn bị chặt hết tứ chi chỉ còn lại đầu và thân mình (và lưỡi), y vẫn xác nhận nhà vua vô tội.
Nên không có gì ngạc nhiên khi sự khuất tất của nền chính trị Outremer trở nên bị tai tiếng ở châu Âu. Cai trị Jerusalem là một thách thức: nhà vua thực sự là người đầu tiên giữa những người bình đẳng, tranh chấp với các thủ lĩnh Thập Tự quân, các thế lực đầy tham vọng, những kẻ phiêu lưu lỗ mãng, bọn châu Âu mới đến dốt nát, nhóm hiệp sĩ thuộc dòng tu quân-tôn độc lập và các tên mưu mô trong giáo hội trước khi có thể đương đầu với kẻ thù Hồi giáo của mình.
Cuộc hôn nhân hoàng gia trở nên cực kỳ lạnh giá, nhưng nếu Melisende đã đánh mất tình yêu của mình, bà còn lại quyền lực. Để làm bà ấm lại, Fulk tặng cho bà một món quà đặc biệt – Sách Thánh thi xa xỉ mang tên bà. Nhưng khi vương quốc hưởng thụ thời hoàng kim của mình thì người Hồi đang tổng động viên.
Thánh thi Melisende với bìa bằng ngà có khắc hình nổi, chạm ngọc màu lam và đá ngọc bích, được các nghệ sĩ Syria và Armenia tạo tác trong phòng làm việc ở Mộ Thánh. Những phong cách Byzantine, Hồi giáo và Tây phương của nó cho thấy cách thức nghệ thuật Đông phương và Thập Tự quân hoà quyện với nhau trong thời trị vì của bà hoàng nửa Frank nửa Armenia này.


Vinh hiển Thập Tự Chinh: thành phố đạt tới đỉnh cao dưới triều Bà hoàng, kết hôn với Fulk xứ Anjou như trong hình trên. Ông kết tội bà dân díu với Hugh xứ Jaffa. Quyển Thánh Thi tinh xảo (dưới) có thể là món quà làm lành của ông chồng
ZANGI KHÁT MÁU: ÔNG HOÀNG CHIM ƯNG
Năm 1137, Zangi, Atabeg xứ Mosul và Aleppo (ngày nay thuộc Iraq và Syria), đầu tiên tấn công thành phố Thập Tự quân Antioch rồi sau đó Damascus của Hồi giáo: thất thủ của một trong hai thành phố này sẽ là quả đấm đối với Jerusalem. Trong gần bốn thập niên, việc để mất Jerusalem thật đáng ngạc nhiên khi không tạo ấn tượng nhiều đến thế giới Hồi giáo bị chia rẽ và xao nhãng. Như thường tình trong lịch sử Jerusalem, nhu cầu chính trị gây cảm hứng cho nhiệt tình tôn giáo. Giờ đây Zangi bắt đầu chế ngự cơn thịnh nộ dâng cao, về tôn giáo lẫn chính trị, đối với việc để mất Jerusalem, tự xưng là ‘Chiến bình Jihad, kẻ thuần hóa lũ vô thần, người hủy diệt bọn ngoại giáo’.
Vị kha-lip ban thưởng cho vị atabeg Thổ Nhĩ Kỳ này tước hiệu ‘Vua các Amir’ vì đã phục hồi lại niềm kiêu hãnh Hồi giáo. Đối với người Ả Rập ông tự xưng là Cột Trụ của Niềm tin; đối với đồng bào Thổ, Ông Hoàng Chim Ưng. Các thi sĩ, vật trang trí trọng yếu cho mọi nhà cai trị trong cái xã hội yêu thi ca đó, quây quần đến sân triều để hát hò về những vinh quang của họ, nhưng Zangi cục súc là một ông chủ khắc nghiệt. Ông lột da và lột da đầu những kẻ thù quan trọng, treo cổ những kẻ thù kém vai vế hơn, và đóng đinh binh sĩ nào giẫm đạp lên ruộng lúa. Ông hoạn các tình nhân trai để giữ gìn vẻ đẹp của họ. Khi ông lưu đày các tướng lãnh, ông nhắc nhở họ về quyền lực của mình bằng cách hoạn các con trai của họ. Nổi điên vì rượu, ông ly dị một trong các bà vợ và rồi cho các tên nài trong chuồng ngựa của mình hiếp dâm tập thể bà ta – trong khi ông đứng nhìn. Nếu một trong các binh sĩ đào ngũ, Usamahbin Munqidh nhớ lại, Zangi sẽ ra lệnh hai binh sĩ gần y nhất bị chặt làm hai khúc. Tính tàn bạo của ông được ghi lại trong sử liệu Hồi. Về phần các Thập Tự quân, họ đặt cho ông biệt danh Zangi Đỏ Máu.
Fulk vội vã đương đầu với ông ta nhưng Zangi đánh bại quân Jerusalem, dồn ông vào một pháo đài gần đó. William, Giáo trưởng Jerusalem, dẫn quân đến giải cứu, vung vẫy Thập giá Thực. Zangi, biết rằng quân cứu viện đang trên đường, đề nghị thả Fulk đổi lấy pháo đài. Sau cuộc thoát chết trên đường tơ kẽ tóc này, Fulk và Melisende làm hòa, nhưng Zangi, giờ đây đang ở tuổi lục tuần, vẫn tiếp tục gây sức ép, đe dọa không chỉ các thành phố Thập Tự quân Antioch và Edessa mà còn mở lại cuộc tấn công vào Damascus, tình trạng khẩn cấp đến nỗi nhà cai trị Unur buộc lòng phải kết đồng minh với Jerusalem ngoại giáo.
Năm 1140, Unur, vị Atabeg xứ Damascus, lên đường đi Jerusalem cùng với một cố vấn, một quí tộc Syria và tác giả Hồi giáo kiệt xuất nhất thế kỷ.
USAMAH BIN MUNQIDH: NHỮNG SỰ KIỆN VÀ TAI ÁCH LỚN
Usamah bin Munqidh là một trong các nhân vật tham gia có mặt khắp nơi, quen biết mọi người có máu mặt tại một thời điểm và nơi chốn nào đó trong lịch sử và luôn tìm thấy mình ở ngay trung tâm sự kiện. Trong sự nghiệp lâu dài của mình, quan triều này, vừa là chiến binh vừa là nhà văn, luân phiên phục vụ tất cả những thủ lĩnh Hồi giáo trong thế kỷ mình, từ Zangi và các kha-lip Fatimid đến Saladin, và quen biết ít nhất với hai vị vua Jerusalem.
Là thành viên của triều đại từng cai trị pháo đài Syria Shaizar, Usamah mất quyền thừa kế, và gia đình ông sau đó bị chôn vùi trong một trận động đất. Sau những tai ương này, ông trở thành một hiệp sĩ – mộtfarist –sẵn sàng phục vụ bất cứ nhà cai trị nào ban cho mình những cơ hội thuận lợi nhất và, giờ đây ở tuổi 45, ông đang phục vụ dưới trướng của Unur xứ Damascus. Usamah sống để chiến đấu, săn bắn và viết văn. Việc theo đuổi phần nhiều do dun ruổi về quyền lực, của cải và vinh quang đều đẫm máu và như trò đùa. Cụm từ ‘lại một thảm họa khác’ xuất hiện rất thường trong hồi ký của ông, có tựa đềSự Kiện và Tai Ách Lớn.Nhưng ông cũng là một nhà biên niên sử bẩm sinh: người ta cảm nhận được rằng, thậm chí khi những mưu tính của ông sụp đổ, con người mã thượng đầy tính nghệ sĩ Ả Rập này biết rằng các sự kiện này sẽ là chất liệu tuyệt vời cho những trang viết hoài niệm, sắc sảo và dí dỏm của ông. Usamah là nhà văn bậc thầy – viết sách và làm thơ về những lạc thú của phụ nữ, cung cách quí ông, chủ nghĩa dục tình và nghệ thuật chiến tranh. Trong tay ông, chuyện một cây gậy có thể trở thành một luận đề về tuổi già.
Atabeg Unur giờ đến Jerusalem với vị quan triều hớn hở, Usamah: ‘Tôi thường đi đến thăm viếng Vua người Frank trong thời gian hưu chiến,’ Usamah viết. Mối quan hệ giữa ông và Fulk lịch sự một cách đáng kinh ngạc [1]. Nhà vua và hiệp sĩ Hồi bông đùa nhau về bản chất của hiệp sĩ. ‘Người ta bảo với ta là ngài là một hiệp sĩ lớn,’ Fulk nói, ‘nhưng thực sự ta không tin điều đó.’ ‘Thưa đức ông, tại hạ chỉ là hiệp sĩ của chủng tộc và nhân dân mình,’ Usamah đáp. Chúng ta không biết gì về nhân dạng của Usamah, nhưng hình như người Frank rất ấn tượng về hình thể của ông.
Trong những chuyến viếng thăm Jerusalem, Usamah thích thú tìm hiểu về tính hạ cấp của các Thập Tự quân, mà ông coi ‘chỉ là những thú vật’, không sở hữu những phẩm chất nào khác hơn là lòng can đảm và kỹ năng chiến đấu’ – cho dù những tác phẩm của ông cũng tiết lộ nhiều hành động Hồi giáo cũng dã man và sơ khai không kém. Như mọi phóng viên lành nghề, ông ghi chép những điều mắt thấy tai nghe ở cả hai phía – tốt và xấu. Khi hồi tưởng trong tuổi già tại triều đình Saladin, ông ắt hẳn đã nhận ra rằng mình đã chứng kiến Jerusalem tại đỉnh cao của niềm vinh quang vương quốc Thập Tự quân.
JERUSALEM CỦA MELISENDE: CUỘC SỐNG THƯỢNG VÀ HẠ LƯU
Jerusalem của Melisende được nhiều người Cơ đốc coi là trung tâm thực sự của thế giới, rất khác với cuộc chinh phục hủy diệt và hôi hám của người Frank. Đúng ra, trên bản đồ thành phố từ thời điểm này, Jerusalem được thể hiện bằng một đường tròn với hai đường phố chính giang ra như cánh tay thập giá với trung tâm của nó nằm ngay Nhà Thờ Mộ Thánh, nhấn mạnh rằng Thành phố Thánh là cái rốn của thế giới.

Đối với người Cơ đốc thời Thập Tự Chinh, Jerusalem là trung tâm của thế giới – như trong nhiều bản đồ thế kỷ 12 chỉ rõ, như tấm bản đồ trên của thầy tu Robert
Vua và hoàng hậu họp triều trong Tháp David và các cung điện lân cận, trong khi Lâu đài Giáo trưởng là trung tâm sự vụ của Giáo hội. Cuộc sống của các ông lớn bình thường ở Outremer Jerusalem chắc chắn tốt hơn vua ở châu Âu, nơi thậm chí các người quyền thế còn mặc quần áo len không được ủi và sống trong những ngôi nhà có gió luồng với đồ đạc thô sơ. Mặc dù có ít chỉ huy Thập Tự quân có thế sống một cách hoành tráng như John xứ Ibelin, cuối thế kỷ sau đó – lâu đài của ông ở Beirut thể hiện phong cách: sàn nhà khảm tranh, tường lót đá quí, trần nhà có bích họa, suối nước trong hoa viên – thì thậm chí những nhà trưởng giả ở thị trấn có thể khoe khoang những thảm lót đắt tiền, gấm vóc Đa-mát treo tường, đồ sứ tinh xảo, bàn cẩn đá quí hoặc có chạm khắc, và dụng cụ nhà bếp tráng men.
Jerusalem kết hợp nét thô thiển của thị trấn biên giới với vẻ xa hoa của một kinh đô hoàng triều. Thậm chí ở Jerusalem những phụ nữ bị tai tiếng, như nhân tình của giáo trưởng, cũng phô trương nữ trang và lụa là trước sự bất mãn của những phụ nữ danh giá hơn. Với hơn 30,000 cư dân và dòng người đổ xô đi hành hương, Jerusalem là Thành phố Thánh, nơi hội tụ Cơ đốc và bộ chỉ huy quân sự – được chiến tranh và Chúa Trời thống trị.
Người Franks, đàn ông và phụ nữ, giờ được tắm rửa đều đặn – có những nhà tắm công cộng trên Phố Furriers; cống thoát nước La Mã vẫn còn hoạt động và ắt hẳn nhiều hộ có nhà vệ sinh. Thậm chí những Thập Tự quân bài Hồi giáo nhất cũng phải thích ứng với phương đông. Lúc lâm trận, các hiệp sĩ mặc áo thụng nỉ và khăn trùm đầu Ả Rập qua lớp áo giáp để ngăn thép bị ánh nắng mặt trời nung nóng. Ở nhà các hiệp sĩ ăn mặc như người địa phương, áo lụa thậm chí áo khoác. Thiếu nữ Jerusalem mặc áo trong dài với áo chẽn ngắn hoặc áo khoác dài có thêu chỉ vàng; mặt đánh phấn dày; và ra đường thường che mặt. Cả nam nữ đều vận áo lông thú dù thói xa xỉ này đặc biệt bị cấm đối với Hiệp sĩ Đền Thánh kham khổ, hiện thân cho thủ đô của cuộc thánh chiến Cơ đốc. Các Hiệp sĩ Dòng tu là gương mẫu nền nếp: Hiệp sĩ Đền Thánh với áo khoác in thập giá đỏ và thắt ngang eo, Hiệp sĩ Cứu tế thì áo choàng đen có thập tự trắng trên ngực. Mỗi ngày 300 Hiệp sĩ Đền Thánh cưỡi ngựa ra khỏi Chuồng Ngựa Solomon để tập luyện bên ngoài thành phố. Trong Thung lũng Kidron, bộ binh luyện tập bắn cung.
Thành phố không chỉ nhộn nhịp lính và khách hành hương Pháp, Na Uy, Đức và Ý, mà còn những tín đồ Cơ đốc phương đông – những người Syria và Hy Lạp râu ngắn, người Amenia và Georgia râu dài và mũ cao, cư trú trong phòng ngủ các nhà tế bần hoặc nhiều quán rượu nhỏ. Cuộc sống đường phố tập trung quanh trục Cardo La Mã, dẫn từ Cổng St Stephen (nay là Cổng Damascus), băng qua Mộ Thánh và Khu Giáo trưởng ở bên phải và rồi đi vào ba đường phố song song đầy chợ búa, liên kết bằng những hẻm nhỏ zíc zắc tỏa mùi gia vị và thức ăn đang nấu. Khách hành hương mua thức ăn và nước quả mang đi từ Phố Nấu Ăn Tồi, Malcuisinat; đổi tiền trên Phố Đổi Tiền của người Syria sát bên Mộ Thánh; mua đồ tế nhuyễn trong các Phố Kim hoàn Latin, áo dạ thú trên Phố Lông Thú.
Thậm chí trước khi có Thập Tự Chinh người ta thường kháu nhau rằng ‘Không người du lịch nào xấu ác như khách hành hương đến Jerusalem.’ Outremer là phiên bản Trung cổ của Miền Tây Hoang Dã: bọn sát nhân, kẻ phiêu lưu và đĩ điếm bước ra để kiểm tiền, nhưng những nhà biên niên sử hành hương kể cho chúng ta rất ít về sinh hoạt ban đêm ở Jerusalem. Tuy nhiên, những bình lính bản địa, những người Latinh thuộc thế hệ thứ hai nghèo khổ và bị đông phương hóa, các nhà buôn Venise và Geneva và những hiệp sĩ mới đến cần quán rượu và những lạc thú của bất kỳ thị trấn quân sự nào. Mỗi quán rượu đều có dây xích chắn ngang lối ra vào để các hiệp sĩ hay quậy không phóng ngựa vào quán. Ở các khung cửa có thể trông thấy những bình lính chơi bài hoặc đổ xúc xắc. Gái làng chơi được chở từ châu Âu đến để phục vụ cho các binh sĩ ở Outremer. Sau này thư ký của sultan Saladin đã vui vẻ mô tả một chuyến hàng như thế từ quan điểm Hồi giáo.
Các phụ nữ đáng yêu người Frank, nở nang và tội lỗi, xuất hiện một cách kiêu hãnh nơi công cộng, bị xé toạc và vá lại, bị cắt đứt và mạng lại, làm tình và bán thể xác mình để đổi lấy vàng, có cặp mông hấp dẫn và duyên dáng, họ dâng hiến như vật hiến tế thần thánh cái mà họ cất giữ giữa cặp đùi, mỗi ả kéo theo sau phần đuôi của chiếc váy đang mặc, quyến rũ với vẻ đẹp sang ngời, đi lắc lư như cành cây, và mong được trút bỏ quần áo cho nhanh.
Phần đông hành nghề trong các cảng Acre và Tyre, nơi đường phố lũ lượt các thủy thủ Ý, còn Jerusalem ắt hẳn sẽ được các viên chức kiểm soát tệ nạn quyết liệt cưỡng chế đạo đức Cơ đốc, nhưng tất cả dục tình con người đều có mặt ở đó.
Khi khách hành hương đổ bệnh, các Hiệp sĩ Cứu tế săn sóc họ trong Bệnh viện, có sức chứa đến 2,000 người. Ngạc nhiên thay, họ cứu chữa cả người Hồi và Do Thái và thậm chí có bếpkosherhalalđể họ có thể ăn thịt. Nhưng cái chết luôn lãng vãng trong trí họ: Jerusalem là một đại nghĩa địa tại đó những khách hành hương già và bệnh đều bằng lòng chết và được chôn cất chờ Ngày Phục Sinh. Đối với người nghèo, có hầm xác miễn phí trong nghĩa địa Mamilla và Akeldama ở Thung lũng Địa ngục. Trong một trận dịch xảy ra sau này vào cùng thế kỷ, mỗi ngày có đến 50 khách hành hương chết và xe bò thu nhặt xác mỗi đêm sau buổi kinh chiều.
Về mặt vật lý cuộc sống xoay quanh hai đền thờ – Mộ Thánh và Đền Thờ Chúa Trời – và tuần tự theo lịch trình nghi lễ. Sử gia Jonathan Riley-Smith viết: trong thời kỳ kịch tính dữ dội này trong đó mỗi kỹ thuật được sử dụng để làm gia tăng cảm xúc quần chúng qua việc phô diễn, các điện thờ ở Jerusalem giống như cảnh trí sân khấu và liên tục được tái dựng và cải tiến để tăng cường tính hiệu quả. Việc đánh chiếm thành phố được kỷ niệm mỗi 15 tháng 7 khi vị giáo trưởng dẫn gần như toàn thành phố từ Mộ Thánh đến Núi Đền, tại đó ông cầu nguyện bên ngoài Đền Thờ Solomon và rồi dẫn đầu đám rước qua Cổng Vàng – cổng mà qua đó Thập Tự quân đầu tiên, Hoàng đế Heraclius, vào năm 630 đã mang đến Thập giá Thực – đến chỗ bức tường phía bắc, được tôn dựng một thập giá khổng lồ, nơi Godfrey đã đột nhập vào thành phố. Lễ Phục Sinh là cảnh bài trí hấp dẫn nhất. Trước khi mặt trời mọc trên Ngày Chủ nhật Lễ Cọ, vị giáo trưởng và tăng lữ, mang Thập giá Thực, đi bộ từ Bethany về phía thành phố, trong khi một đám rước khác mang cành cọ từ Núi Đền đến để gặp vị giáo trưởng trong Thung lũng Jehoshaphat. Sau đó họ cùng mở Cổng Vàng và diễu quanh khu vực thiêng liêng trước khi đến Đền Thờ Chúa Trời để cầu nguyện.
Vào ngày Thứ Bảy Thánh, dân Jerusalem tụ tập ở Nhà Thờ Mộ Thánh để xin Lửa Thánh. Một khách hành hương Nga nhìn thấy ‘đám đông ùa vào, xô đẩy và thúc cùi chỏ’, khóc mếu, rên rỉ và hét lên, ‘Có phải vì tội lỗi của con mà Lửa Thánh không hạ giới hay không?’ Nhà vua bước ra từ Núi Đền nhưng khi ông đến, đám đông ken cứng, tràn ra đến sân ngoài, đến nỗi binh sĩ phải xô dẹt một lối vào cho ông. Bước vào được rồi, nhà vua, đầm đìa nước mắt, ngồi sụp xuống một bên trước Nhà Mộ, xây quanh là các quần thần đang khóc nức nở, ngóng đợi Lửa Thánh. Khi giáo sĩ hát bài kinh chiều, cơn xuất thần tăng cường độ trong thánh đường tối ôm, cho đến khi thình lình ‘Lửa Thánh chiếu sáng Mộ Thánh, sáng lóa và rực rỡ’. Vị giáo trưởng xuất hiện, vung vẫy ngọn lửa rồi đốt vào cây đèn hoàng gia. Lửa lan truyền khắp đám đông, từ đèn này đến đèn khác – rồi được chuyền đi khắp thị trấn như rước đuốt Olympic, băng qua Cầu Lớn đến Đền Thờ Chúa Trời.
Melisende tô điểm Jerusalem như một Đền Thờ cũng như thủ đô chính trị, kiến tạo nhiều thứ như ta nhìn thấy ngày nay. Thập Tự quân đã phát huy một phong cách của riêng họ, một sự tổng hợp giữa La Mã, Byzantine và Levant với các cung vòm đầu tròn, những cột trụ bề thế, tất cả đều chạm khắc với những mô-típ hoa văn tinh tế. Hoàng hậu xây dựng Nhà Thờ St Anne khang trang, phía bắc Núi Đền, tại vị trí Hồ Bethesda – nó còn đứng đó tận giờ như một minh họa trần trụi nhất và đơn giản nhất của kiến trúc Thập Tự quân. Đã từng được sử dụng như một nơi chứa chấp các bà vợ hoàng gia bị ruồng bỏ và gần đây hơn nhà của Công nương Yvette, em gái của Melisende, nữ tu viện của nó trở thành nơi được quyên góp nhiều nhất Jerusalem. Một ít cửa hàng trong phố chợ vẫn còn đánh dấu ‘ANNA’ để chứng tỏ lợi tức của chúng đi đến đâu; những cửa hàng khác được đánh dấu ‘T’, có lẽ do các Hiệp sĩ Đền Thánh (Template) sở hữu.
Một nhà nguyện nhỏ, St Giles, được xây trên Cầu Lớn đi vào tận Núi Đền. Bên ngoài bức tường, Melisende bổ sung vào Nhà Thờ Đức Bà Jehoshaphat nhà mộ của Thánh Đồng Trinh Mary nơi bà được chôn cất sau đó (mộ bà còn sót lại đến ngày nay), và xây dựng Tu việnBethany, chỉ định Công nương Yvette làm tu viện trưởng. Trong Đền Thờ Chúa Trời, bà bổ sung một lưới sắt trang trí để bảo vệ Tảng Đá (hiện giờ hầu hết ở trong Bảo tàng Haram mặc dù một bộ phận nhỏ còn ở tại chỗ, có thể đã giữ một phần da bì của Jesus, và sau đó cất râu của Muhammad).
Bao Da Qui Đầu Thánh chỉ là một trong bộ sưu tập đầy đủ các thánh tích trung cổ. Charlemagne tặng một phần cho Giáo hoàng Leo trước khi ông đăng quang vào năm 800, nhưng liền sau đó có đến từ 8 đến 18 thánh tích như thế trong thế giới Cơ đốc. Baldwin I gửi một miếng đến Antwerp vào năm 1100 nhưng Melisende sở hữu một phần khác. Hầu hết thánh tích đều bị thất lạc hoặc tiêu hủy trong thời Cải cách.
Trong cuộc viếng thăm chính thức Fulk và Melisende, Usamah bin Munqidh và chủ nhân của ông, vị Atabeg xứ Damascus, được cho phép cầu nguyện trên Núi Đền, nơi họ chạm trán với tính cách thiếu văn hóa và tính quốc tế của các chủ nhà Frank.
USAMAH BIN MUNQIDH VÀ JUDAH HALEVI: NGƯỜI HỒI, NGƯỜI DO THÁI VÀ NGƯỜI FRANK
Usamah đã kết bạn với một số Hiệp sĩ Đền Thánh mà ông gặp trong chiến tranh và hòa bình. Giờ họ hộ tống ông và vị Atabeg Unur đến bộ chỉ huy đã được Cơ đốc hóa của Hiệp sĩ Đền Thánh.
Một số Thập Tự quân giờ nói được tiếng Ả Rập và cất nhà có hoa viên và giếng phun như các ông lớn Hồi giáo; một số thậm chí dùng thức ăn Ả Rập. Usamah gặp những người Frank không ăn thịt heo và ‘trình bày một bàn ăn rất đẹp, rất sạch sẽ và ngon lành’. Phần đông người Frank không tán thành bất kỳ ai có óc địa phương quá mức: ‘Chúa đã biến đổi người Tây phương thành Đông phương’, Fulcher viết. ‘Ai dù là La Mã hay Frank có đất đai ở đây đều biến thành người Galilee hay Palestine.’ Tất nhiên có giới hạn trong tình bạn của Usamah với Hiệp sĩ Đền Thánh và với những người có đầu óc phóng khoáng trong số họ. Khi một Hiệp sĩ trở về nhà, y vui vẻ mời Usamah gửi con trai đến châu Âu học tập để ‘khi nó trở về nó sẽ thực sự trở thành một người có lý trí’. Usamah khó có thể chịu được sự khinh thường này.
Khi họ cầu nguyện trong Vòm Đá, một người Frank tiến đến vị atabeg hỏi: ‘Ngài có muốn thấy Chúa khi ông ta còn trẻ không?’
‘Tại sao không,’ Unur đáp. Người Pháp liền dẫn ông và Usamah đến trước tượng thánh của Mary và chàng trai Jesus.
‘Đây là Chúa khi ngài còn trẻ ông,’ gã người Frank nói, trước sự khinh thị vui thích của Usamah.
Sau đó Usamah đi đến Đền Thờ Solomon, trước đây là al-Aqs để cầu nguyện. Ông được các bạn bè Hiệp sĩ Đền Thánh chào đón, cho dù ông đang công khai đọc câu kinh‘Allahu Akhbar – Thượng Đế là Tối Cao’. Nhưng sau đó xảy ra một biến cố gây bối rối khi ‘một tên Frank chạy vội đến bên tôi và chụp lấy tôi và xoay mặt tôi về hướng đông, ‘Phải cầu nguyện như thế này!”‘ ‘Các Hiệp sĩ chạy vội về phía gã và kéo gã ra khỏi người tôi. “Tên này là một người lạ mới đến từ xứ Frank,”‘ Hiệp sĩ giải thích như xin lỗi. Usamah nhận ra rằng ‘bất kỳ ai mới đến’ đều ‘thô lỗ hơn những người đã quen với thủy thổ và thường làm bạn với người Hồi’. Những người mới đến này vẫn còn ‘là một chủng tộc bị nguyền rủa vì sẽ không làm quen được với bất kỳ ai không thuộc chủng tộc mình’.
Không chỉ có các nhà lãnh đạo Hồi mới đến thăm Jerusalem của Melisende. Những nông dân Hồi đến Jerusalem mỗi ngày để bán trai cây họ trồng và đến chiều phải trở về. Khoảng thập niên 1140, các luật lệ ngăn cấm người Do Thái và Hồi sống ở thành phố của Christ đã bắt đầu nới lỏng – từ đó nhà phóng sự du lịch Ali al-Harawi nói, ‘Tôi sống đủ lâu ở Jerusalem vào thời điểm có người Frank để biết trò lừa đảo Lửa Thánh đã được thực hiện ra sao.’ Đã có một số ít người Do Thái ở Jerusalem, nhưng chuyện đi hành hương vẫn còn nhiều nguy hiểm.
Ngay lúc đó, vào năm 1141, Judah Halevi, một thi sĩ, triết gia và nác sĩ Tây Ban Nha, được biết là đã đi từ Tây Ban Nha đến. Trong những bài tình ca và bài thơ tôn giáo của ông, ông khẩn cầu ‘Zion hoàn hảo trong vẻ đẹp’ trong khi phải chịu đựng vì ‘Edom (Hồi) và Ishmael (Cơ đốc) gây hỗn loạn trong Thành phố Thánh’. Người Do Thái bị lưu đày là ‘chim bồ câu trên vùng đất lạ’ Suốt cuộc đời ông, Halevi, người sáng tác thơ bằng tiếng Hebrew (Do Thái cổ) nhưng nói tiếng Ả Rập, luôn tin tưởng người Do Thái sẽ trở về Zion:
Ôi thành phố của thế giới, xinh đẹp tinh khôi nhất,
Tận phía Tây xa xôi, hãy nhìn xem ta thở dài hiu hắt.
Ôi! Giá ta có đôi cánh đại bàng, ta sẽ bay đến bên nàng,
Và sẽ rơi thấm đẫm mảnh đất dòng nước mắt chứa chan.
Halevi, người mà các bài thơ của mình còn là một bộ phận trong nghi thức tế lễ tại giáo đường Do Thái, viết một cách đau lòng như bất kỳ ai đã từng viết về Jerusalem:‘Khi tôi mơ về ngày nàng được trở về khỏi chốn tù đày, tôi sẽ là cây đàn hạc cho những bài ca của nàng.’ Không biết chuyện xảy ra có đúng như truyền thuyết, cho rằng khi ông đi bộ qua các cổng ở Jerusalem, ông bị một kỵ mã đâm ngã, chắc hẳn là một tên Frank, và qua đời, một số phận như đã báo trước trong những lời ông viết:‘Tôi sẽ rơi úp mặt xuống vùng đất của nàng, và tìm thấy lạc thú trong những tảng đá và sự dịu dàng trong cát bụi của nàng.’
Cái chết này không làm Usamah ngạc nhiên, vì ông đã khảo sát về tính bạo lực trong luật lệ của người Frank. Trên đường đến Jerusalem ông đã trông thấy hai gã Frank giải quyết một tranh chấp pháp lý bằng cách đánh nhau – người này đập vỡ sọ người kia. ‘Đó chỉ là một khẩu vị trong hệ thống pháp lý của họ và cách tiến hành tố tụng của họ.’ Khi một người bị kết tội sát hại khách hành hương, y bị xét xử bằng cách trói gô lại rồi nhúng vào hồ nước. Nếu y chìm y vô tội, nhưng nếu y nổi y bị kết là có tội và, theo như Usamah, ‘họ đắp phấn côn vào mắt y’ – và y bị mù.
Về phần tập quán tình dục, Usamah hứng thú thuật lại chuyện một người Frank bắt gặp một tên khác đang trên giường với vợ mình nhưng lại cho hắn đi chỉ với lời cảnh cáo, và chuyện một người khác ra lệnh cho thợ cắt tóc cạo lông mu cho vợ mình. Về y khoa Usamah mô tả trong khi một thầy thuốc Đông y chữa khối áp-xe trên chân một người Frank bằng cách đắp thuốc cây cỏ lên vết thương, thì bác sĩ người Frank xông vào với cây rìu trên tay và chặt đứt chân bệnh nhân, với một câu hỏi vô đạo lý là y thích sống còn một chân hay chết đủ hai chân? Nhưng y vẫn chết có một chân. Khi một thầy thuốc Đông y ra chế độ dinh dưỡng đặc biệt cho một phụ nữ bị chứng ‘khô thể dịch’, thì cũng bác sĩ người Frank ấy, chẩn đoán là ‘quỷ ám đầu óc bà ta’, và rạch một đường thập giá sâu lên hộp sọ, giết chết bà. Những thầy thuốc giỏi nhất là người Cơ đốc và Do Thái nói tiếng Ả Rập: ngay cả các vì vua Jerusalem giờ đây cũng chuộng các thầy thuốc Đông y hơn. Nhưng Usamah không hề phiến diện – ông thuật hai trường hợp mà thuốc Tây y có hiệu quả tuyệt vời. Nhưng nói rập khuôn cho rằng Thập Tự quân là bọn man rợ và người Hồi có óc thẩm mỹ có thể đã đi quá xa. Suy cho cùng, Usamah đã phục vụ vị Zangi bạo dâm và, nếu đọc đầy đủ, ghi chép của ông thể hiện một bức tranh vè tính bạo lực của người Hồi không kém gây sốc đối với cảm nhận của người thời nay: việc chất đống thủ cấp người Cơ đốc, việc đóng đinh và phân thây binh lính và người ngoại giáo của họ, hành vi trừng phạt khắc nghiệt của luật sharia Hồi giáo- và câu chuyện về việc cha ông, trong một cơn nóng giận, chặt phăng cánh tay một người hầu. Bạo lực và những luật lệ tàn nhẫn tương tự đều xảy ra ở cả hai bên. Hiệp sĩ Frank và hiệp sĩ Hồi có nhiều điểm chung: họ đều được dẫn dắt bởi những kẻ phiêu lưu tự phát như các Baldwin và Zangi, muốn lập ra những triều đại chiến binh cho riêng mình. Cả hai hệ thống đều dựa vào sự ban phát thái ấp hoặc nguồn lợi tức cho các chiến binh hàng đầu. Người Ả Rập dùng thi ca để khoa trương, để mua vui và để tuyên truyền. Khi Usamah phục vụ dưới trướng vị atabeg ở Damascus, ông thương thảo với người Ai Cập bằng thơ, trong khi các hiệp sĩ Thập Tự dệt những vần thơ yêu đương tán tỉnh. Cả hai loại hiệp sĩ đều sống theo những giới luật tương tự về hành xử cao quí và chia sẻ cùng những ám ảnh: tôn giáo, chiến tranh, ngựa – và những trò chơi thể lực.
Có ít người lính, ít nhà văn đã nắm bắt được nỗi phấn khích và hào hứng của chiến tranh như Usamah. Đọc ông ta như đang cưỡi ngựa xông giữa trận đột kích của cuộc Thánh Chiến trong Vương quốc Jerusalem. Ông tìm kiếm vinh quang trong những giai thoại chiến trường của những hiệp sĩ quả cảm, liều mạng, những cuộc tẩu thoát nhiệm mầu, những cái chết khốc liệt, và những nỗi hân hoan khi xung kích dữ dội, ánh thép loé sáng, chiến mã đầm đìa mồ hôi và máu nóng vọt ra. Nhưng ông cũng là một triết gia về Định mệnh và Lòng Thương Xót của Thượng Đế: ‘Ngay cả những thứ nhỏ nhặt và vô nghĩa nhất cũng có thể dẫn đến sự hủy diệt.’ Trên hết, cả hai bên đều tin rằng, theo lời của Usamah, ‘thắng lợi trong cuộc chiến là do một mình Thượng Đế quyết định.’ Tôn giáo là tất cả. Lời khen ngợi cao nhất Usamah dành cho một người bạn là: ‘một học giả đích thực, một hiệp sĩ thực sự và một tín đồ Hồi giáo mộ đạo đúng nghĩa.’
Giờ sự yên tĩnh tại Jerusalem của Melisende thình lình bị phá tan vì một tai nạn xảy ra trong một môn thể thao cả ông lớn Hồi lẫn Frank cùng chia sẻ.
❀ ❀ ❀
[1] Fulk không phải là vị vua đầu tiên của Jerusalem mà Usamah đã quen biết. Năm 1124, Baldwin II từng là tù binh ở Shaijar, lâu đài của gia đình Usamah. Ông được đối xử quá tử tế đến nỗi các Thập Tự quân đâm ra kinh trọng Usamah và gia đình. Phế tích của lâu đài Shaijar con có thể nhìn thấy được ở Syria.