PALMERSTON VÀ SHAFTESBURY: NGƯỜI ỦNG HỘ CHỦ NGHĨA ĐỂ QUỐC VÀ NGƯỜI TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM
Chính sách ngoại giao liên quan đến Jerusalem là tác phẩm của Lord Palmerston, ngoại trưởng, nhưng sứ mạng đạo giáo là thành tựu của người con rể riêng của vợ thuộc giáo phái Phúc âm, Bá tước xứ Shaftesbury. Palmerston, 55 tuổi, không phải là người hợm hĩnh kiểu thời Victoria hay mộ đạo như dòng Phúc âm. Mối quan tâm của ông về người Do Thái đều có tính thực tiễn: người Pháp tăng cường quyền lực bằng cách bảo vệ người Thiên chúa, người Nga bằng cách bảo vệ người Chính thống giáo, nhưng có ít người Tin Lành ở Jerusalem. Palmerston muốn giảm ảnh hưởng của Pháp và Nga, và nhận thấy rằng quyền lực của Anh có thể tăng lên bằng cách bảo vệ người Do Thái. Sứ mạng khác – cải đạo người Do Thái – là kết quả của quyết tâm có tính phúc âm của con rể ông ta.
Shaftesbury, 39 tuổi, tóc quăn và để râu mép, là hiện thân của một người Anh thời Victoria. Một nhà quý tộc có tấm lòng thuần khiết hiến dâng cho sự nghiệp cải thiện cuộc sống công nhân, trẻ em và người tâm thần, ông cũng là người theo trào lưu chính thống trong tôn giáo, tin rằng Kinh thánh ‘là lời của Chúa được viết ra ngay từ ký tự đầu cho đến ký tự cuối’. Ông tin chắc rằng Cơ đốc giáo năng động sẽ xiển dương một sự phục sinh đạo lý toàn cầu và nâng cao tính nhân bản. Ở Anh, Thanh giáo đã từ lâu bị lấn áp bởi chủ nghĩa duy lý của Sự Khai Sáng nhưng sống sót được trong nhóm người không theo quốc giáo. Giờ nước Anh trở về với trào lưu chính: Cách mạng Pháp với máy chém, và Cách mạng Kỹ nghệ với quần chúng công nhân, đã thành hình một tầng lớp trung lưu Anh mới trân trọng những niềm tin vững chắc vào lòng mộ đạo, vào giá trị đáng tôn kính và Kinh thánh, thuốc giải độc cho chủ nghĩa duy vật đang gào thét trong sự hưng thịnh thời Victoria.
Hiệp hội London Vận động người Do Thái vào Cơ đốc giáo, được biết dưới tên Hiệp hội Do Thái, được thành lập vào năm 1808, giờ đang nở rộ, nhờ một phần vào Shaftesbury. ‘Mọi thanh niên trẻ đều phát rồ vì tôn giáo,’ Lord Melbourne, thủ tướng tại thời điểm đăng quang của Nữ Hoàng Victoria vào năm 1837, càu nhàu. Tin tưởng rằng sự cứu rỗi vĩnh viễn sẽ đạt được qua trải nghiệm cá nhân của Jesus và tin lành của ngài (tiếng Hy Lạp là evangelion), những người theo dòng phúc âm này mong chờ Sự Trở Lại (của Jesus). Shaftesbury tin tưởng, như những người Thanh giáo hai thế kỷ trước, rằng sự trở lại và việc cải đạo người Do Thái sẽ tạo ra một Jerusalem thuộc giáo phái Anh và Vương quốc Thiên đường. Ông chuẩn bị một bản ghi nhớ cho Palmerston: ‘Tồn tại một xứ sở không có quốc gia và Chúa Trời trong sự minh triết và khoan dung của ngài sẽ chỉ đạo cho chúng ta đến một quốc gia không có xứ sở.’
Palmerston chỉ thị cho phó lãnh sự Young ở Jerusalem, ‘Một phần nghĩa vụ của ông là bảo vệ cho người Do Thái nói chung.’ Đồng thời ông bảo với vị đại sứ của mình tại Istanbul là ông ta nên ‘mạnh mẽ khuyến cáo với vị sultan là nên đưa ra mọi khuyến khích chính đáng cho người Do Thái Âu châu trở về Palestine’. Vào tháng 9 1839, Young thành lập chi nhánh Jerusalem của Hiệp hội Do Thái London. Shaftesbury hớn hở, ghi chép trong nhật ký của mình, ‘Thành phố cổ của dân tộc Chúa Trời sắp sửa chiếm một vị trí giữa các quốc gia. Tôi sẽ luôn nhớ rằng Chúa Trời đã gieo vào đầu óc tôi dự án vì Vinh hiển của Người, ban cho tôi ảnh hưởng để thuyết phục được Palmerston, và cung cấp một người cho tình thế, có thể tái tạo Jerusalem trong vinh quang của nó.’ Shaftesbury mang chiếc nhẫn ấn có khắc cụm từ ‘Hãy cầu nguyện cho Jerusalem’, trong khi (như ta đã biết) một nhân vật thời Victoria nhiệt huyết khác cũng gắn bó với Jerusalem – Sir Moses Montefiore – thêm chữ Jerusalem vào tay áo mới của mình và khắc nó trên xe ngựa, nhẫn ấn và ngày cả giường ngủ như vẽ bùa chú. Giờ, vào tháng 6 1839, Montefiore và vợ Judith trở lại Jerusalem, trang bị súng lục để bảo vệ số tiền họ đã quyên góp được ở London.
Jerusalem bị dịch bệnh hoành hành, vì thế Montefiore cắm trại bên ngoài Núi Olives nơi ông họp hành, đón tiếp hơn 300 khách. Khi bệnh dịch đã thuyên giảm, Montefiore đi vào thành phố trên lưng một con bạch mã được thống đốc cho mượn và bắt đầu nghe những lời thỉnh nguyện và phân phát quà từ thiện cho dân nghèo Do Thái. Vợ chồng ông được cả ba tôn giáo ở Jerusalem nghênh đón, nhưng trong khi họ đến thăm Điện Thờ ở Hebron ở phía nam, một đám đông Hồi giáo tấn công họ. Họ chỉ thoát chết nhờ binh lính Ottoman can thiệp. Montefiore vẫn không nản lòng. Khi ông rời nơi đó, nhân vật Do Thái tái sinh viết trong nhật ký: ‘Ôi Jerusalem, cầu mong thành phố sẽ sớm được tái tạo ngay trong thời đại chúng ta. Amen.’
Shaftesbury và Montefiore cả hai đều tin tưởng vào tính thiêng liêng của đế chế Anh và sự trở về Zion của dân Do Thái. Sự chính đáng của nhiệt tình phúc âm và hồi sinh giấc mơ Do Thái về Jerusalem ăn khớp chỉn chu để trở thành một trong những nỗi ám ảnh thời Victoria, và vừa đúng lúc hoạ sĩ David Roberts từ Palestine trở về vào năm 1849 để triển lãm trước công chúng những hình ảnh lãng mạn rất được thưởng ngoạn về một Jerusalem Đông phương đầy sắc màu đang chín mùi cho văn minh Anh và việc phục hồi Do Thái. Người Do Thái đang cần khẩn thiết sự bảo hộ của chính quyền Anh vì những hứa hẹn khoan dung cạnh tranh nhau do vị sultan và người Albania ban hành xúi giục một sự giật lùi chết người.
JAMES FINN: VIÊN LÃNH SỰ PHÚC ÂM
Vào tháng 3 1840, bảy người Do Thái ở Damascus bị kết tội giết chết một thầy tu Cơ đốc và người hầu Hồi giáo để lấy máu hiến tế tại lễ Vượt Qua. Kịch bản tưởng tượng này là “sự vu khống máu’ đầy tai tiếng đã xuất hiện lần đầu tiên tại Oxford vào thời điểm Thập Tự Chinh Lần 2 vào thế kỷ 12. 63 trẻ em Do Thái bị bắt và tra tấn để buộc các bà mẹ chúng phải khai ra ‘chỗ cất giấu máu’.
Cho dù ông chỉ mới trở về London, Sir Moses Montefiore, được nhà Rothschild hậu thuẫn, cầm đầu chiến dịch giải cứu người Do Thái ở Damascus khỏi bị bức hại kiểu trung cổ này. Tham gia lực lượng còn có luật sư Pháp Adolphe Cremieux, Montefiore vội vã đến Alexandria để vận động Mehmet Ali phóng thích các tù nhân. Nhưng chỉ vài tuần sau, lại xảy ra một ‘vụ khống máu’ khác ở Rhodes.
Montefiore lại giong buồm từ Alexandria đến Istanbul. Tại đó ông được vị sultan tiếp kiến và ông thuyết phục ông ta ban hành một sắc luật phủ định dứt khoát sự thật về ‘vụ vu khống máu’. Đó là thời khắc tốt đẹp nhất của Montefiore – nhưng thành tựu của ông có được là do quốc tịch của ông cũng như do chính sách ngoại giao có trọng lượng của mình. Đây là thời điểm tốt đẹp cho một người Anh ở Trung Đông.
Cả vị sultan và người Albania đều điên cuồng tranh nhau ân huệ của chính phủ Anh trong khi sự tồn vong của đế chế Ottoman đang treo lơ lửng. Jerusalem vẫn còn nằm dưới quyền của Ibrahim the Red đang cai trị phần lớn vùng Trung Đông. Trong khi Pháp ủng hộ người Albania, Anh ra sức thỏa mãn cơn thèm ăn của họ đồng thời duy trì người Ottoman. Họ dâng Palestine cũng như Ai Cập nếu Ibrahim rút quân khỏi Syria. Đó là một đề xuất tốt nhưng Mehmet Ali và Ibrahim khó thể cưỡng được phần thưởng tối cao: Istanbul. Ibrahim thách thức người Anh vì thế Palmerston thành lập một liên minh Anh-Áo-Ottoman và phái các pháo thuyền, dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Charles Napier, và đại bác khai hỏa. Ibrahim sụp đổ trước sức mạnh của quân Anh.
Ibrahim the Red đã mở cửa Jerusalem cho người Âu và thay đổi nó mãi mãi nhưng giờ đây, đáp lại quyền trị vì được kế thừa ở Ai Cập, ông phải bỏ Syria và Thành phố Thánh.
Người Albania không hề nắm giữ Jerusalem lần nữa nhưng họ cai trị Ai Cập trong một thế kỷ, trước tiên như các vị khedive (phó vương Ottoman trên danh nghĩa nhưng thực ra có tính độc lập), rồi như các sultan Ai Cập và cuối cùng như vua. Khi Mehmet Ali lão suy, Ibrahim lên làm nhiếp chính cho ông nhưng lại chết trước cha vào năm 1848. Vị vua cuối cùng của triều đại Albania là Farouk, bị lật đổ vào năm 1952.
Người Pháp, bị bẽ mặt vì thắng lợi của Palmerston, xem xét một ‘Thành phố Tự do thuộc Cơ đốc tại Jerusalem’, một đề nghị đầu tiên cho một Zion có tính quốc tế. Vào ngày 20/10/1840, binh sĩ của sultan hành quân trở lại Jerusalem. Bên trong tường thành, một phần ba thành phố bị bỏ hoang, mọc đầy bụi rậm xương rồng, và chỉ còn lại 13,000 dân, nhưng trong số đó giờ có 5,000 người Do Thái, đông lên nhờ dân nhập cư đến từ Nga và dân tị nạn từ một vụ động đất đã giáng xuống Safed ở Galilee.
Cho dù sau đó Palmerston mất chức ngoại trưởng về tay Lord Aberdeen, người ra lệnh viên phó lãnh sự ngừng những kế hoạch Do Thái phúc âm, nhưng Young vẫn tiếp tục bất chấp. Khi Palmerston trở lại quyền lực ông ra lệnh lãnh sự Jerusalem ‘nhận tất cả người Do Thái Nga dưới sự bảo trợ của Anh nếu họ nộp đơn đến ông’.
Trong khi đó Shaftesbury đã thuyết phục tân thủ tướng, Robert Peel, hậu thuẫn cho việc thành lập giáo hội và tòa giám mục đầu tiên của giáo hội Anh ở Jerusalem. Năm 1841, Phổ (vị vua Phố đã đề xuất một Jerusalem quốc tế theo Cơ đốc) và Anh hợp tác bổ nhiệm giám mục Tin Lành đầu tiên, Michael Solomon Alexander, một người gốc Do Thái đã cải đạo. Các nhà truyền giáo Anh trở nên năng nổ hẳn lên trong sứ mệnh Do Thái. Năm 1841, tại buổi lễ khai mạc Giáo hội Christ English gần Cổng Jaffa, ba người Do Thái được rửa tội trước sự hiện diện của Lãnh sự Young. Nỗi cơ cực của người Do Thái ở Jerusalem thật đáng thương: họ sống ‘như lũ ruồi đã chiếm nơi cư trú trong một đầu lâu’, nhà văn Mỹ Herman Melville đã viết như thế. Cộng đồng Do Thái đang phình ra sống trong cảnh nghèo khó gần như là kịch tính, không có chăm sóc y tế nào, nhưng họ nhận được sự chửa chạy của các bác sĩ tự nguyện do Hiệp hội Do Thái London cung cấp. Điều này khiến một ít người chịu cải đạo.
‘Tôi có thể vui sướng có Zion là thủ đô,’ Shaftesbury trầm ngâm, ‘có Jerusalem là nhà thờ và có Hebrew là một vị Vua!’ Jerusalem qua một đêm từ một nơi đổ nát chậm tiến bị một pasha tồi tệ sống trong một cung điện diêm dúa cai trị đến một thành phố với một bộ sậu đông đúc các nhà quyền thế đeo vàng và gắn trang sức. Đã không còn có giáo trưởng người Latinh kể từ thế kỷ 13 và giáo trưởng Chính thống giáo từ lâu đã cư ngụ tại Istanbul, nhưng giờ đây người Pháp và người Nga bảo trợ cho họ trở lại Jerusalem. Tuy nhiên, chính bảy vị lãnh sự, những viên chức nhỏ được bơm phồng lên đại diện cho những tham vọng đế quốc, là những người hiếm khi che giấu vẻ hống hách của mình. Được hộ tống bởi các cận vệ đồ sộ mặc đồng phục màu tía sáng, tay cầm kiếm và gậy vàng nặng gỏ trên đá sỏi để dọn đường, các lãnh sự diễu hành trang trọng qua thành phố, khao khát tìm bất kỳ cớ nào để áp đặt ý muốn của mình lên các thống đốc Ottoman bị hành hạ. Binh sĩ Ottoman thậm chí phải đứng nghiêm với các con cái của lãnh sự. Thái độ của các lãnh sự Áo và Sardinia càng hống hách hơn vì các quốc vương của họ tuyên bố mình là vua của Jerusalem. Nhưng không ai xấc xược và nhỏ nhen hơn các lãnh sự Anh và Pháp.
Năm 1845, Young bị James Finn thay thế. Trong vòng 20 năm, ông này có quyền hành không kém các thống đốc Ottoman. Con người quấy rối tỏ ra mộ đạo này xúc phạm mọi người từ các ông lớn người Anh đến các pasha Ottoman đến mọi chính khách nước ngoài khác. Bất kể lệnh phát ra từ London, y đưa tay hỗ trợ người Do Thái gốc Nga nhưng không bao giờ thôi sứ mạng cải đạo họ. Khi người Ottoman cho phép người nước ngoài sở hữu đất đai, Finn mua và phát triển nông trại của mình ở Talbieh và rồi một nông trại khác ở Abraham’s Vineyard, được một Cô Cook nào đó ở Cheltenham tài trợ, và được một nhóm các quý bà phúc âm Anh tận tình giúp đỡ, như một phương tiện nhằm cải đạo nhiều người Do Thái hơn bằng cách dạy họ niềm vui của một công việc lương thiện.
Finn coi mình là nơi giao thoa giữa một phó lãnh sự đế chế, nhà truyền giáo thánh thiện và một đại điền chủ, mua đất đai và nhà cửa bừa bãi với một số lượng tiền lớn đáng ngờ. Y và bà vợ, cũng là một người phúc âm cuồng tín khác, học thông thạo tiếng Hebrew và tiếng Ladino thông dụng. Họ hăng say bảo vệ người Do Thái, vốn bị áp bức tàn tệ ở Jerusalem. Vậy mà cùng lúc họ thúc ép cải đạo người Do Thái khiến một số dân Do Thái chống đối dữ dội. Finn gọi các giáo sĩ đạo Do Thái là ‘kẻ cuồng tín’, nhưng ở chính nước Anh, ngài Montefiore, nghe tin người Do Thái bị quấy nhiễu, liền phái một bác sĩ Do Thái cùng dược phẩm đến Jerusalem để chia sẻ ảnh hưởng với Hiệp hội Do Thái bằng cách xây dựng một bệnh viện tại rìa Khu Do Thái.
Trong khi đó các lãnh sự được tiếp tay bởi một chính khách có lẽ là phi thường nhất trong lịch sử nước Mỹ.
WARDER CRESSON, LÃNH SỰ MỸ: NGƯỜI MỸ XA LẠ THẦN THÁNH
Vào ngày 4/10/1844, Warder Cresson đến Jerusalem nhậm chức lãnh sự toàn quyền của Hoa Kỳ ở Syria và Jerusalem – tiêu chuẩn bổ nhiệm chính của ông là do ông tin chắc là Sự Trở Lại sẽ xảy ra vào năm 1847. Cresson mang dáng dấp cao ngạo của các người đồng cấp Âu châu nâng lên một mức độ mới: ông phi ngựa quanh Jerusalem trong ‘đám bụi mù mịt’ vây quanh là ‘đạo quân nhỏ Mỹ’ gồm một ‘đội hiệp sĩ’ lấy ra từ tiểu thuyết của Walter Scott – ‘một đội kỵ sĩ vũ trang sáng loáng do một người Ả Rập dẫn đầu theo sau là hai vệ binh Thổ với mã tấu bạc lấp lánh dưới ánh mặt trời’.
Trong buổi yết kiến với vị pasha, Cresson giải thích là mình đến vì ngày Khải Huyền sắp tới và sự trở về của dân Do Thái. Ông là một địa chủ ở Philadelphia, đã trải qua 20 năm lăn lóc từ giáo phái khải huyền này đến giáo phái khải huyền khác. Sau khi viết tuyên ngôn đầu tiên của mình,Jerusalem, Trung tâm Niềm Vui của Toàn Thế giới,và bỏ lại vợ và sáu con, Cresson thuyết phục Ngoại trưởng John Calhoun hãy chỉ định ông làm lãnh sự: ‘Tôi bỏ lại mọi thứ thân thiết và gần gũi với tôi trên mặt đất để theo đuổi chân lý.’ Tổng thống Hoa Kỳ John Tyler ngay lập tức được các chính khách báo tin là viên lãnh sự đầu tiên của ông ở Jerusalem là một ‘tên cuồng tín và tâm thần’, nhưng Cresson đã có mặt ở Jerusalem. Và ông không phải là người độc nhất có quan điểm khải huyền: ông là một người Mỹ điển hình của thời đại mình.
Hiến pháp Hoa Kỳ mang tính thế tục, thận trọng không đề cập đến Christ và chia tách nhà nước với nhà thờ, vậy mà trên Đại Ấn, các Tổ phụ Lập quốc, Thomas Jefferson và Benjamin Franklin, đã mô tả Những Đứa Con của Israël được mây và lửa dẫn lối về Miền Đất Hứa. Cresson là hiện thân cách thức mây và lửa đó đang lôi kéo nhiều người Mỹ đến Jerusalem. Thực ra việc tách biệt Giáo hội và nhà nước đã giải phóng niềm tin Mỹ và làm sinh sôi những giáo phái mới và các tiên tri thiên niên kỷ còn tươi rói.
Những người Mỹ buổi đầu, kế thừa nhiệt huyết của các tín đồ Thanh giáo Anh, đã tận hưởng Sự Thức Tỉnh Lớn của niềm vui tôn giáo. Giờ đây, trong nửa đầu thế kỷ 19 Sự Thức Tỉnh Lớn Thứ Hai được năng lượng phúc âm của miền biên địa thúc đẩy. Năm 1776, có khoảng 10 phần trăm dân Mỹ đi nhà thờ đều đặn; đến năm 1815, con số là một phần tư; đến năm 1914, là phân nửa. Đạo Tin Lành hăng say có tính Mỹ về bản chất – cứng cỏi, hồ hởi và hung hăng. Ngay trong trung tâm của nó là niềm tin con người có thể tự cứu rỗi và đẩy nhanh Sự Trở Lại bằng những hành động công chính và niềm vui tâm hồn. Chính nước Mỹ là một sứ mạng được ngụy trang dưới hình thức một quốc gia, được Thượng Đế ban phước lành, không khác cách thức mà Shaftesbury và các nhà phúc âm Anh đã nhìn thấy ở đế chế Anh.
Trong những ngôi nhà thờ nhỏ bé bằng gỗ tại những thị trấn khai mỏ chỉ có xe một ngựa, những trại ấp trên những đồng cỏ bạt ngàn và những thành phố kỹ nghệ mới lấp lánh, những nhà truyền giáo trong Miền Đất Hứa Mới của Mỹ thuật lại những khải thị kinh thánh nguyên bản trong Cựu Ước. Tiến sĩ Edward Robinson, một học giả phúc âm, sau này trở thành người thành lập môn khảo cổ kinh thánh ở Jerusalem, phát biểu, ‘Không xứ nào Kinh thánh được hiểu tường tận như ở đây.’ Những nhà truyền giáo Mỹ đầu tiên tin rằng Thổ dân Hoa Kỳ là các Bộ tộc Bị Thất lạc của Israël và rằng mỗi người Cơ đốc phải thi hành những nghĩa vụ công chính ở Jerusalem và giúp Sự Trở Lại và Phục Dựng của người Do Thái: ‘Tôi thành tâm muốn người Do Thái trở về Judaea lần nữa trong một quốc gia độc lập,’ John Adams, Tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ, viết. Năm 1819, hai nhà truyền giáo trẻ ở Boston chuẩn bị biến việc này thành hành động: ‘Mỗi cặp mắt đều hướng về Jerusalem,’ Levi Parson giảng ở Boston, ‘đúng thực là trung tâm của thế giới.’ Cử toạ bật khóc khi Pliny Fisk tuyên bố : ‘Tâm trí tôi đã trói buộc với Jerusalem.’ Họ đã đến đó nhưng cái chết sớm sủa của họ ở phương đông không làm nản lòng người khác vì như William Thomson, nhà truyền giáo Mỹ có người vợ đã mất trong cuộc nổi dậy năm 1834, đã nhấn mạnh, ‘Jerusalem là tài sản chung của toàn thế giới Cơ đốc.’
Lãnh sự Cresson đã cưỡi lên ngọn sóng của những lời tiên tri bừng nở này: ông đã từng là người Shaker, Millerite, Mormon và Campbellite trước khi một giáo sĩ Do Thái địa phương ở Pennsylvania thuyết phục ông rằng ‘sự cứu rỗi là của người Do Thái’ mà sự trở về của họ sẽ mang đến Sự Trở Lại (của Jesus).
William Miller là một trong những nhà tiên tri Mỹ mới tiếng tăm nhất. Một cuu sĩ quan quân đội ở Massachusetts, ông tính rằng Christ sẽ trở lại Jerusalem vào năm 1843: 100,000 người Mỹ đã trở thành tín đồ giáo phái Millerite này. Ông căn cứ vào phán quyết trong Sách Daniel 8.14 rằng ‘điện thờ sẽ được tẩy uế’ trong ‘2,300 ngày’ mà theo ông một ngày trong tiên tri sẽ bằng một năm. Vậy là bắt đầu tính từ năm Vua Ba Tư Artaxerxes I ra lệnh phục hồi Điện Thờ là 457 TCN, vị chi là đến năm 1843. Khi không có gì xảy ra vào năm đó, ông lại đề nghị năm 1844. Những giáo phái kế tiếp Millerite như Seventh Day Adventists và Nhân Chứng Jehovah vẫn còn có đến 14 triệu thành viên trên toàn thế giới.
Một trong những người đầu tiên đến Jerusalem là Harriet Livermore. Con gái và cháu gái của những đại biểu quốc hội New England, bà lên đường vào năm 1837, sau nhiều năm giảng đạo cho người Da Đỏ thuộc bộ tộc Sioux và Cheyenne rằng họ chính là Các Bộ tộc Bị Thất lạc của Israël, những người phải đồng hành cùng bà trở lại Zion. Bà thuê phòng ở Núi Zion để chuẩn bị lập giáo phái Pilgrim Strangers (Người Lạ Hành hương), cho Ngày Khải Huyền mà bà kỳ vọng là xảy ra vào năm 1847 – nhưng ngày ấy không đến và cuối cùng là bà đi xin ăn trên đường phố Jerusalem. Cùng thời gian đó, Joseph Smith, nhà tiên tri khải thị mới về Các Thánh Ngày Sau Này – giáo phái Mormons – gởi Tông đồ của mình đến Jerusalem: ông cho xây một áng thờ trên Oliver để sẵn sàng ‘phục dựng Israël với Jerusalem là kinh đô.
Khoảng thời gian Cresson trở thành lãnh sự Mỹ, một số đông tăng dần các nhà phúc âm Mỹ viếng thăm Jerusalem để chuẩn bị cho Ngày Tận Thế. Chính quyền Mỹ cuối cùng bãi nhiệm ông, nhưng ông vẫn ương ngạnh tiếp tục cấp hộ chiếu bảo hộ cho người Do Thái có giá trị vài năm và rồi, đổi tên họ là Michael Boaz Israël, cải sang Do Thái giáo. Đối với bà vợ bị bỏ rơi điều này là một khải thị quá đáng. Bà kiện ông để tòa xử ông là người tâm thần, thuật lại những lần ông vung vẫy súng lục, những vụ hô hào ngoài đường phố, tình trạng mất khả năng tài chính, chủ nghĩa chiết trung về giáo phái, những kế hoạch tái thiết Điện Thờ Do Thái và biến thái tình dục. Ông giong buồm trở về từ Jerusalem để được Điều tra Tâm thần tại Philadelphia, một vụ án nổi tiếng, vì bà Cresson đang thách thức quyền hợp hiến của công dân Hoa Kỳ được tin tưởng theo sở thích cá nhân, tinh yếu của nền tự do kiểu Jefferson.
Tại phiên tòa Cresson được xử là bị tâm thần, nhưng ông kháng cáo và được cho phép xử lại. Bà Cresson phải ‘chối đấng Cứu Thế của mình hoặc Chồng mình’ trong khi ông phải chối ‘hoặc Đấng Thượng Đế Độc Nhất hoặc Vợ Mình’. Bà vợ thua phiên tòa thứ hai, khẳng định quyền tự do tín ngưỡng của Hoa Kỳ, và Cresson trở lại Jerusalem. Ông thành lập một trang trại kiểu mẫu Do Thái gần thành phố, nghiên cứu Kinh Torah, ly dị bà vợ Mỹ và lấy một thiếu nữ Do Thái, trong khi hoàn tất cuốn sáchChìa Khoá của David.Ông được người Do Thái địa phương vinh danh là ‘Người Mỹ Xa Lạ Thần Thánh’. Khi ông mất ông được chôn cất trong nghĩa địa Do Thái trên Núi Olives.
Jerusalem giờ đây tấp nập những người Mỹ mê khải huyền đến nỗi Tập san Tâm thần Hoa Kỳ so sánh hiện tượng điên cuồng đó với vụ Đổ Xô Tìm Vàng California. Khi Herman Melville đến thăm, ông thích thú nhưng ghê tởm trước sự lây lan của căn bệnh mê tín ngàn năm của người Cơ đốc Mỹ – ‘bệnh cuồng Do Thái lố bịch này’, ông gọi như thế, ‘nửa hoài cổ, nửa trò hề’. ‘Tôi phải xử sự ra sao khi bất kỳ công dân Mỹ điên rồ hoặc trầm cảm nào cũng có thể vào xứ này?’ Lãnh sự Mỹ ở Beyrut hỏi ngoại trưởng của ông ta. ‘Gần đây có một số người đến Jerusalem với những ý nghĩ kỳ lạ trong đầu là Đấng Cứu Thế của chúng ta sẽ đến trong năm nay.’ Nhưng Melville cho rằng những kỳ vọng chấn động địa cầu đó là điều bất khả thỏa mãn: ‘Không xứ sở nào làm tiêu tan những mong chờ lãng mạn đó nhanh chóng hơn Palestine, đặc biệt Jerusalem. Đối với một số người nỗi thất vọng thật là sầu não.’
Jerusalem là thiết yếu đối với tầm nhìn phúc âm của Anh và Mỹ về Sự Trở Lại. Nhưng mà thậm chí tính cấp bách của nó bị thui chột bởi nhiệt tình của Nga về Jerusalem. Giờ trong những năm của thập niên 1840, những tham vọng gây hấn của Hoàng đế Nga sắp sửa đặt Jerusalem vào vị trí mà một du khách Anh gọi là ‘trung tâm của lịch sử đã qua và sắp tới của thế giới’ và đốt lên cuộc chiến Âu châu.
TÊN SEN ĐẦM CỦA CHÂU ÂU VÀ VỤ NỔ SÚNG TRONG MỘ THÁNH: VÀNG CỦA NGA Ở JERUSALEM
Vào ngày Thứ Sáu Tốt Lành, 10/4/1846, thống đốc Ottoman và binh lính đang trong tình trạng ứng chiến tại Nhà Thờ. Năm đó thật bất thường khi lễ Phục Sinh của Chính thống và Cơ đốc giáo rơi cùng ngày. Các thầy tu không những bơm dầu vào lò đốt hương: họ còn tuồn súng lục và dao găm, giấu chúng phía sau các cột và dưới lớp áo. Phe nào sẽ được khai lễ đầu tiên? Người Hy Lạp thắng cuộc đua đặt được khăn trải của mình lên áng thờ Calvary. Người Thiên chúa chỉ ngay sau họ – nhưng như thế là quá muộn. Họ thách thức người Hy Lạp: họ có phép của vị sultan không? Người Hy Lạp thách thức người Thiên chúa – sắc chỉ sultan cho quyền họ cầu nguyện trước tiên ở đâu? Hai phe chực chờ. Những ngón tay ắt hẳn đã đặt lên cò súng bên dưới lớp áo lễ. Thình lình, hai bên xáp vào nhau với mọi thứ vũ khí có thể biến chế được từ những đồ tế nhuyễn thờ cúng có thể mó tay đến: họ cầm thánh giá, giá đèn và đèn cho đến khi thép lạnh lóe lên và vụ nổ súng bắt đầu. Binh sĩ Ottoman xông vào ngăn cản vụ xung đột nhưng có 40 xác chết quanh Mộ Thánh.
Việc giết chóc vang dội khắp thế giới nhưng trên hết ở St Petersburg và Paris: sự tin cậy hung hăng của những kẻ gây rối chốn tu hành phản ánh không chỉ các tôn giáo mà còn những đế chế chống lưng chúng. Những tuyến đường sắt và tàu hơi nước mới ra đời khiến việc đi đến Jerusalem dễ dàng hơn từ khắp nơi trên châu Âu nhưng đặc biệt bằng đường biển từ Odessa đến Jaffa: đại đa số trong 20,000 khách hành hương giờ đây là người Nga. Một thầy tu Pháp nhận xét rằng trong một năm điển hình, trong số 4,000 khách hành hương dịp Giáng Sinh, chỉ có bốn người Thiên chúa, phần còn lại là người Nga. Sự tôn sùng của người Nga xuất phát từ lòng mộ đạo Chính thống giáo có thể tìm thấy từ lớp tín đồ ở tận đáy xã hội, những nông dân nghèo xác xơ trong các ngôi làng hẻo lánh nhất ở Siberia, đến tận đỉnh cao chót vót, bản thân Sa hoàng Nicholas I. Sứ mạng Chính thống của nước Nga Thần Thánh được cả hai chia sẻ.
Khi Constantinople thất thủ vào năm 1453, các ông hoàng dòng Muscovy đã mặc nhiên coi mình là những người kế thừa của các hoàng đế Byzantine cuối cùng, Moscow là La Mã Thứ Ba. Các ông hoàng nhìn nhận biểu tượng hình đại bàng hai đầu và một tước hiệu mới, Caesar hoặc Tsar (Sa hoàng). Trong trận chiến chống lại các đại hãn vùng Crimes Hồi giáo và sau đó các sultan Ottoman, các sa hoàng xiển dương đế chế Nga như là cuộc thập tự chinh Chính thống giáo linh thiêng. Ở Nga, Chính thống giáo đã tiến hóa theo đặc thù khác thường Nga, lan rộng qua lãnh địa mênh mông của nó, bởi các sa hoàng – và các ẩn sĩ nông dân, tất cả họ đều tôn kính Jerusalem. Người ta cho rằng các thánh đường có mái vòm hình củ hành đặc biệt Nga là một nỗ lực nhằm sao chép những nhà thờ trong các tranh vẽ Jerusalem. Thậm chí Nga còn xây dựng Jerusalem mini của mình nhưng mọi người Nga đều tin rằng hành hương đến Jerusalem là một phần trọng yếu để chuẩn bị cho cái chết và sự cứu rỗi.
Nicholas I đã thấm nhuần truyền thống này – ông đúng là cháu của Catherine Đại Đế và người thừa kế của Peter Đại Đế, ở chỗ cả hai đều xiển dương mình là những người bảo hộ của Chính thống giáo và những Thánh địa, và chính nông dân Nga kết nối cả hai: khi anh trai của Nicholas Alexander I chết bất ngờ vào năm 1825, họ tin rằng ông ta đã đến Jerusalem như một ẩn sĩ bình thường, một phiên bản hiện đại của truyền thuyết Vị Hoàng đế Cuối cùng.
Giờ Nicholas, cực kỳ bảo thủ, bài Do Thái gắt gao và phàm phu tục tử một cách trơ tráo trong mọi vấn đề nghệ thuật (ông tự chỉ định mình là người kiểm duyệt cá nhân cho Pushkin), coi mình là người duy nhất có thể trả lời được với đấng mà ông gọi là ‘Chúa Trời Nga’ trong chính nghĩa ‘Nước Nga của chúng ta được Chúa Trời tin cậy ban cho Chúng ta.’ Người quân nhân kỷ cương này, tự hào là mình ngủ trên một chiếc võng nhà binh, cai trị nước Nga như một huấn luyện viên nghiêm khắc. Thời còn trẻ, chàng Nicholas vạm vỡ, mắt xanh này đã làm loá mắt xã hội Anh nơi một quý cô mô tả ông ‘đẹp trai mê hồn, người đàn ông đẹp trai nhất châu Âu!’ Khoảng thập niên 1840, tóc ông không còn và bụng đã to ra. Sau 30 năm sống hạnh phúc với người vợ bệnh hoạn, ông cuối cùng cũng có nhân tình, một cô hầu trẻ – và dù nắm trong tay một quyền lực rộng lớn toàn nước Nga, ông vẫn sợ sự bất lực, về cá nhân cũng như về chính trị.
Nhiều năm liền ông đã thận trọng sử dụng sự duyên dáng bản thân để thuyết phục Anh đồng ý chia phần của đế chế Ottoman, mà ông gọi là ‘con bệnh của châu Âu,’ hi vọng giải phóng các tỉnh lỵ Chính thống giáo ở vùng Balkan và nhìn qua Jerusalem. Giờ thì nước Anh không còn ấn tượng với ông nữa. Hai mươi lăm năm chuyên chính đã khiến ông chai sạn và mất kiên nhẫn: Nữ Hoàng Victoria sắc sảo viết, ‘Tôi không nghĩ rằng ông ta thông minh. Trí óc ông ta là trí óc kém văn minh.’
Ở Jerusalem, đường phố lấp lánh những dải viền vàng và cầu vai của quân phục Nga mà các hoàng thân và các tướng lĩnh mặc, chen vai với áo da cừu và áo bờ lu của hàng ngàn nông dân hành hương Nga, được Nicholas khuyến khích. Chính ông cũng phái một sứ đoàn giáo hội để cạnh tranh với những người Âu châu. Lãnh sự Anh cảnh báo với London là ‘người Nga chỉ trong một đêm vào mùa lễ Phục Sinh có thể trang bị vũ khí cho 10,000 khách hành hương bên trong tường thành Jerusalem’ và chiếm lấy thành phố. Trong khi đó người Pháp theo đuổi sứ mạng riêng của mình để bảo vệ người Thiên chúa. Lãnh sự Finn báo cáo vào năm 1844, ‘Jerusalem giờ là tâm điểm mối quan tâm của Pháp và Nga.’
GOGOL: HỘI CHỨNG JERUSALEM
Không phải tất cả khách hành hương Nga đều là quân nhân hoặc nông dân và không phải tất cả tìm thấy được sự cứu rỗi mà mình nhắm đến. Vào ngày 23/2/1848, một khách hành hương Nga đi vào Jerusalem vừa là điển hình trong cơn sốt tôn giáo đang cao trào và vừa hoàn toàn không điển hình trong thiên tài khiếm khuyết của mình. Tiểu thuyết gia
Nikolai Gogol, nổi tiếng với vở kịchTổng Thanh Travà cuốn tiểu thuyếtNhững Linh Hồn Chết, đến thành phố trên lưng lừa để truy vấn sự an ủi tinh thần và cảm hứng linh thiêng. Ông hình dungNhững Linh Hồn Chếtlà bộ tam thiên tiểu thuyết, nhưng ông đang chật vật viết cuốn thứ hai và thứ ba. Chúa ắt hẳn đã ngăn cản ông viết để trừng phạt tội lỗi của ông. Là người Nga, chỉ có một nơi có thể mang đến sự cứu chuộc: ông viết, ‘chỉ khi nào đến được Jerusalem, tôi mới có thể nói ra điều gì đó để an ủi ai đó.’
Chuyến viếng thăm thật thảm hại: ông trải qua một đêm duy nhất cầu nguyện cạnh Mộ Thánh, nhưng ông thấy nó bẩn thỉu và xô bồ. ‘Trước khi tôi có thời gian lấy lại sự tỉnh táo, thì nó đã qua.’ Sự diêm dúa của những thánh địa và sự trơ trọi của vùng đồi đã đè bẹp ông: ‘Tôi chưa bao giờ cảm thấy nỗi thất vọng trong cõi lòng nào lớn hơn như khi ở Jerusalem và sau đó.’ Sau khi trở về ông từ chối nói về Jerusalem và cảm thấy thật nặng nề khi một giáo sĩ thuyết phục ông rằng những tác phẩm của ông là tội lỗi. Gogol điên tiết tiêu hủy bản thảo của mình rồi bắt đầu nhịn ăn đến chết – hay ít nhất hôn mê – vì khi quan tài ông được mở ra trong thế kỷ 20, thi hài ông được phát hiện là đang nằm úp mặt xuống.
Tình trạng phát rồ đặc biệt về Jerusalem đã được gọi là ‘cơn sốt Jerusalem’ nhưng vào thập niên 1930, nó được công nhận là Hội chứng Jerusalem, ‘việc mất khả năng bù trừ về tâm thần liên quan đến khích động tôn giáo gây ra bởi sự tiếp cận với những thánh địa ở Jerusalem’. Tập san Tâm thần học Anh, năm 2001, chẩn đoán hiện tượng bất mãn điên loạn này như sau: ‘Hội chứng Jerusalem Tiểu loại Hai: những người đến với ý tưởng mầu nhiệm về quyền năng chữa lành bệnh của Jerusalem – như nhà văn Gogol.’
Theo một nghĩa nào đó, Nicholas cũng đang chịu đựng khuynh hướng riêng của mình về Hội chứng Jerusalem. Trong dòng họ ông có gien điên: ‘khi năm tháng trôi qua,’ đại sứ Pháp tại Peterburgs viết, ‘đến giờ thì những phẩm chất của (Vua cha) Paul đã thể hiện rõ hơn.’ Ngài Paul điên đã bị ám sát (cũng như ông nội ông ta Peter III). Nếu Nicholas còn lâu mới bị điên, thì ông đã bắt đầu biểu lộ một số tin tưởng thái quá bốc đồng một cách ương ngạnh của vua cha. Năm 1848, ông dự tính làm một chuyến đi đến Jerusalem nhưng buộc phải hủy bỏ khi những cuộc cách mạng bùng nổ khắp châu Âu. Ông đè bẹp thành công cuộc nổi dậy của Hungary chống lại lân bang của mình, đế chế Habsburg: ông thích thú với danh hiệu ‘Sen đầm Âu châu’ nhưng Nicholas, đại sứ Pháp viết, trở nên ‘hư hỏng vì nịnh hót, thành tích và những thành kiến tôn giáo của quốc gia Muscovite’.
Vào ngày 31/10/1847, ngôi sao bạc trên nền đá của Hang động Thánh đường Giáng sinh Bethlehem, bị cắt ra và lấy cắp. Ngôi sao đã được Pháp trao tặng trong thế kỷ 18; giờ hiển nhiên nó đã bị người Hy Lạp lấy cắp. Các thầy tu đánh nhau ở Bethlehem. Tại Istanbul, người Pháp tuyên bố có quyền thay thế ngôi sao Bethlehem và tu bổ mái ngói Nhà Thờ ở Jerusalem; người Nga cũng cho đó là quyền của mình; mỗi người đều dẫn lại những hiệp ước thế kỷ 18. Cơn huyên náo đang âm ỉ sôi cho đến khi trở thành trận song đấu của hai hoàng đế.
Vào tháng 12 1851, tổng thống Pháp Louis-Napoleon Bonaparte, cháu Hoàng đế Napoleon, lật đổ nền Đệ nhị Cộng hòa bằng một cú đảo chính và chuẩn bị xưng mình là Hoàng đế Napoleon III. Con người phiêu lưu với bộ râu mép vuốt sáp ong bén ngót biết rằng đế chế mới mong manh và dễ vỡ của mình cần đến uy thế Thiên chúa và thắng lợi ở nước ngoài. Nicholas, trái lại, nhìn vụ khủng hoảng như một cơ hội để vinh danh nền trị vì của mình bằng cách cứu lấy những Thánh Địa cho ‘Chúa Trời Nga’. Đối với hai hoàng đế rất khác biệt này, Jerusalem là chìa khóa đến hiển vinh trên thiên đường và trên mặt đất.
JAMES FINN VÀ CUỘC CHIẾN CRIMEA: NHỮNG NHÀ PHÚC ÂM BỊ ÁM SÁT VÀ BỌN BEDOUIN CƯỚP BÓC
Vị sultan l, bị kẹp giữa Pháp và Nga, ra sức giải quyết tranh chấp bằng sắc lệnh ngày 8/2/1852, khẳng định sự vượt trội của Chính thống giáo trong Nhà Thờ, với một số nhượng bộ cho người Thiên chúa. Nhưng người Pháp cũng năng nổ không kém người Nga. Họ truy nguyên lời tuyên bố của mình trở lại đến cuộc xâm lược của Napoleon Đại Đế, tình đồng minh với Suleiman the Magnificent, các vị vua Thập Tự quân của Jerusalem, và đến Charlemagne. Khi Napoleon III đe đọa người Ottoman, không phải ngẫu nhiên mà ông phái một pháo thuyền có tên Charlemagne. Vào tháng 11, vị sultan xìu xuống và ban cho người Thiên chúa quyền ưu tiên. Nicholas nổi doá. Ông yêu sách phục hồi quyền của Chính thống giáo tại Jerusalem và một ‘tình đồng minh’ sẽ biến đế chế Ottoman thành vùng bảo hộ của Nga.
Khi những yêu sách có tính bắt nạt của Nicholas bị khước từ, ông xâm lược các lãnh thổ của Ottoman trên sông Danube – ngày nay là Rumania – tiến quân về hướng Istanbul. Nicholas tin rằng mình đã dụ được người Anh vào sự đồng ý, chối rằng mình muốn nuốt Istanbul, nói gì đến Jerusalem, nhưng ông đã phán đoán sai lầm một cách tai họa về cả London lẫn Paris. Đối mặt với mối đe doạ của Nga và sự sụp đổ của Ottoman, Anh và Pháp hàm dọa chiến tranh. Nicholas ương ngạnh cho là họ thầu cáy vì, theo ông giải thích, ông đang ‘gây chiến cho mục đích Cơ đốc mà thôi, dưới lá cờ của Thập Giá Thần Thánh.’ Vào ngày 28/3/1853, Pháp và Anh tuyên chiến với Nga. Cho dù phần lớn trận đánh đều xảy ra tận vùng Crimea, cuộc chiến này đặt Jerusalem ngay tâm điểm của sân khấu thế giới nơi nó đã giữ nguyên hiện trạng kể từ đó.
Khi đội quân đồn trú Jerusalem hành quân đi để đánh người Nga, James Finn theo dõi họ diễu hành trên sân lễ Maidan bên ngoài Cổng Jaffa nơi ‘ánh mặt trời Syria lấp lánh trên lưỡi lê thép cắm trên súng khi họ diễu hành’.
Thay vì người Nga mộ đạo như thường lệ, một dòng khách hành hương Tây Âu hay hoài nghi – 10,000 người vào năm 1856 – ồ ạt tràn vào thành phố để chiêm ngưỡng Thánh Địa đã mồi lửa cho trận chiến Âu châu. Vậy mà chuyện viếng thăm đến Jerusalem vẫn còn có tính phiêu lưu. Không có xe ngựa chỉ có những máng được lót đệm. Thành phố thực tình không có khách sạn hoặc ngân hàng nào: du khách phải dừng chân trong các tu viện, tiện nghi nhất là tu viện Armenia với sân vườn thoáng mát, duyên dáng. Tuy nhiên vào năm 1843, một người Do Thái gốc Nga tên Menachem Mendel xây cất khách sạn đầu tiên, Kaminitz, ngay sau đó là Khách sạn English; và trong năm 1848 một gia đình Do Thái Sephardic, nhà Valeros, mở ngân hàng Âu châu đầu tiên trong một gian phòng tầng trên phía sau Phố David. Đây còn là một thị trấn tỉnh lỵ Ottoman, thường được cai trị bởi một pasha luộm thuộm cư ngụ trong một lâu đài tồi tàn, vừa là khuê phòng vừa là nhà tù – ngay phía bắc Núi Đền. Người Âu Tây ‘kinh ngạc trước cảnh tồi tàn của lâu đài’, Finn viết, và ghê tởm trước các nàng hầu xơ xác và ‘các viên chức nhếch nhác’. Khi khách khứa nhấp cà phê với vị pasha, họ có thể nghe tiếng khua của xiềng xích và tiếng rên rỉ của tù nhân từ những xà lim ngầm bên dưới. Trong thời gian chiến tranh, vị pasha cố sức đảm bảo yên lành cho thành phố – nhưng các thầy tu Chính thống giáo Hy Lạp tấn công vị giáo trưởng Thiên chúa mới vừa được bổ nhiệm và nhốt lạc đà vào nơi cư ngụ của ông, trước sự thích thú của những nhà văn lớn vừa đến đây để tận mắt chiêm ngưỡng những điện thờ mà vì chúng quá nhiều binh sĩ đang bỏ mình trong những trận chiến hủy diệt và các bệnh viện hôi thúi vùng Crimea. Họ không mấy ấn tượng với Jerusalem.
CÁC NHÀ VĂN: MELVILLE, FLAUBERT VÀ THACKERAY
Herman Melville, khi đó tuổi 37, đã làm nên tên tuổi với ba tác phẩm dựa vào những chuyến phiêu lưu săn cá voi nghẹt thở trong Thái Bình Dương nhưng cuốn Moby Dock, xuất bản năm 1851, chỉ bán được 3,000 bản. Buồn rầu và khắc khoải, không khác gì Gogol, ông đến Jerusalem vào năm 1856 để phục hồi sức khỏe – và để điều tra về bản chất của Thượng Đế. ‘Mục tiêu của tôi – tâm trí tôi bão hòa với không khí của Jerusalem – là tự dâng hiến mình như một chủ thể thụ động cho các ấn tượng kỳ lạ của nó’ – và ông bị khích động bởi sự ‘hoang phế’ của cái được cho là Jerusalem, bị lừa dối bởi ‘sự trần trụi không lên men của sự hoang vu’. Ông bị mê hoặc bởi ‘năng lượng của sự cuồng tín’ và ‘cơn ngây dại Jerusalem’ của nhiều người Mỹ ‘phát rồ’. Họ gây cảm hứng cho trường thi Clarel của ông – dài 18,000 hàng, bài thơ Mỹ dài nhất – mà ông viết sau khi về nhà và trong thời gian làm việc vất vả trong Văn phòng Quan thuế Hoa Kỳ.
Melville không phải là tiểu thuyết gia duy nhất đến phương Đông tìm kiếm sự phục hồi và niềm an ủi cho nỗi thất vọng văn đàn: Gustave Flaubert, đồng hành cùng người bạn giàu có Maxime du Camp, và được chính phủ Pháp tài trợ để điều tra về mậu dịch và canh nông, cũng đang trên chuyến đi văn hóa và tình dục để lấy lại sức sau khi tác phẩm đầu tiên của mình được công chúng đón nhận (tức tác phẩmMadame Bovary:ND). Ông nhìn thấy Jerusalem như ‘một nhà xác tường vách bao quanh, những tôn giáo cổ phân hủy trong nắng mặt trời’. Về phần Nhà Thờ, ‘một con chó còn xúc động hơn tôi. Người Armenia nguyền rủa người Hy Lạp, người Hy Lạp thù ghét người người Latinh, người Latinh không ưa người Copt.’ Melville đồng ý rằng Nhà Thờ là một ‘đống nửa đổ nát những hang động xuống cấp bốc mùi tử khí’. Việc các thầy tu đánh nhau chỉ là một khía cạnh của sân khấu bạo lực ở Jerusalem. Những căng thẳng giữa những vị khách mới – các nhà phúc âm Anh-Mỹ và Do Thái gốc Nga và nông dân Chính thống giáo ở một bên, bên kia là thế giới cũ hơn của người Ottoman, Đại gia Ả Rập, Do Thái dòng Sephardic và người Bedouin và nông dân Ai Cập – dẫn đến một loạt những vụ mưu sát. Một quý cô phúc âm của James Finn, Mathilda Creasy, được phát hiện bị đập đầu; và một người Do Thái được phát hiện bị đâm và xô xuống giếng. Việc đầu độc một giáo sĩ Do Thái giàu có, David Herschell, đưa đến một vụ án giật gân những các nghi can, chính là các cháu nội của nạn nhân, được trắng án vì thiếu chứng cứ. Lãnh sự Anh James Finn là viên chức quyền lực nhất ở Jerusalem thời bấy giờ khi người Ottoman mắc nợ Anh quá nhiều. Do đó ông tự tiện can thiệp bất cứ khi nào ông xét thấy cần thiết. Tự coi mình là Sherlock Holmes (một nhân vật tiêu thuyết trinh thám lừng danh) của Thành phố Thánh, ông xăn tay áo điều tra mỗi một vụ án, nhưng dù có tài điều tra (với 6 trợ thủ là thầy gọi hồn Phi châu), không thủ phạm nào được tìm thấy.
Finn là một chiến sĩ ngoan cường và người cải đạo bức bách cho người Do Thái còn cần đến sự bảo vệ của ông. Nỗi khổ của họ, nói cho cùng, càng quẫn bách hơn. Hầu hết người Do Thái sống trong ‘đống đổ nát hôi thúi của Khu Do Thái, đáng tôn kính trọng sự bẩn thỉu’, Thackeray viết, và ‘sự than khóc tru tréo của họ về niềm vinh quang của thành phố đã mất của họ’ ám ảnh Jerusalem những đêm thứ sáu. ‘Không ai khốn khổ và đau đớn hơn người Do Thái tại Jerusalem,’ Karl Marx viết trong tờ New York Daily Tribune số tháng 4 năm 1854, ‘sống trong khu vực bẩn thỉu nhất, liên tục là mục tiêu áp bức và hành hạ của người Hồi, bị người Hy Lạp sĩ nhục, bị người Latinh bức hại.’ Một người Do Thái, lỡ đi qua trước cổng Nhà Thờ Mộ Thánh, theo lời Finn, ‘liền bị một nhóm hành hương đánh đập’ vì luật cấm người Do Thái qua đó vẫn còn hiệu lực. Một người khác bị lính Ottoman đâm một dao. Đám tang người Do Thái bị người Ả Rập tấn công. Trong mỗi tình huống, Finn đều tìm đến vị thống đốc để buộc ông ta can thiệp và bảo đảm công lý Anh phải được thực thi.
Nhưng vị pasha thì quan tâm hơn đến việc kiểm soát người Ả Rập Palestine. Những vụ nổi dậy và những cuộc chiến bộ tộc của họ, một phần là để đáp trả những cải cách trung ương tập quyền của đế chế Ottoman, được diễn ra trên lưng lạc đà phi nhanh, giáo thương phóng ra vun vút và tiếng rít của đạn vòng quanh tường thành Jerusalem. Những cảnh tượng gay cấn này được diễn ra trong tầm mắt người Âu ở Palestine như trên sân khấu kinh thánh kết hợp với cảnh bài trí dàn dựng phim cao bồi Miền Tây Hoang Dã, và khách hành hương tụ tập lên chót tường thành để mục kích những trận đột kích, đối với họ ắt hẳn giống như các sự kiện thể thao siêu thực – với gia vị của sự thương vong đôi khi được bỏ thêm vào.
Tại nông trại phúc âm Talbieh dùng cho việc cải đạo người Do Thái, nhà Finn thường thấy mình kẹt trong vòng đạn lửa. Khi đạn bay, bà Finn thường kinh ngạc khi nhận diện được phụ nữ trong số những chiến binh. Bà cố gắng hết mức để hòa giải các tộc trưởng. Nhưng người Bedouin chỉ là một phần của vấn đề: các tộc trưởng Hebron và Abu Ghosh dàn quân riêng đến 5000 chiến binh và tiến hành những trận đánh qui mô chống lại người Ottoman. Khi một tộc trưởng bị bắt và giải đến Jerusalem trong xiềng xích, các chiến binh xoay sở để tháo chạy và tiếp tục chiến đấu, như dũng sĩ Robin Hood của Ả Rập. Cuối cùng Hafiz Pasha, vị thống đốc già của Jerusalem, phải dẫn đầu một cuộc viễn chính 550 quân và hai khẩu pháo dã chiến để đánh dẹp thủ lĩnh Hebron.
Cho dù có những bi kịch như thế, vào những chiều mùa hè, người Jerusalem thuộc mọi tín ngưỡng – Hồi và Ả Rập Cơ đốc cùng với Do Thái Sephardic – chơi dã ngoại trên đường Damascus. Nhà thám hiểm Mỹ, Trung úy William Lynch, quan sát một ‘cảnh tượng đầy màu sắc – hàng trăm người Do Thái đang thưởng thức không khí trong lành, ngồi bên ngoài tường thành dưới bóng cây ô liu khổng lồ, phụ nữ thì trùm khăn trắng kín mít, đàn ông thì đội mũ đen rộng vành’. James Finn và các lãnh sự khác, với các binh lính Ottoman đi trước dẹp đường, dạo chơi với gia đình mình. ‘Khi mặt trời lặn, mọi người vội vã trở vào thành vì cổng thành còn khóa lại mỗi đêm.’
‘Ôi, nỗi buồn ở Jerusalem,’ Finn thở dài, nhận rằng thành phố ‘buồn tẻ như một tu viện đối với một người đã thấm nhuần những thói quen vui vẻ ở những nơi khác. Các du khách Pháp được biết là thường thốt ra một lời bình phẩm kèm theo một cái nhún vai khi so sánh sự khác biệt giữa Paris và Jerusalem.
Khi các lực lượng Nga liên tiếp bị đánh bại tại Crimea, Nicholas phát bệnh vì không chịu được căng thẳng và mất vào ngày 18/2/1855. Vào tháng 9, căn cứ hải quân Nga ở Sebastopol thất thủ vào tay quân Anh Pháp. Nga hoàn toàn bị mất mặt. Sau khi thua xiểng niểng trên mọi mặt trận trong một chiến dịch tiêu tốn 750,000 sinh mạng, hoàng đế mới của Nga Alexander II, xin nghị hòa, gác lại mọi tham vọng đế chế của mình đối với Jerusalem, nhưng ít ra cũng tranh thủ phục hồi được quyền thống trị của Chính thống giáo tại Mộ Thánh, hiện trạng mà đến nay vẫn còn hiệu lực.
Vào ngày 14/4/1856, các khẩu đại bác của Thành lũy bắn chào mừng việc ký kết hòa bình. Nhưng 12 ngày sau, James Finn, tham dự Lửa Thánh, trông thấy ‘các khách hành hương Hy Lạp, trang bị gậy gộc, đá và đùi cúi, giấu sẵn sau những cột trụ và thả xuống từ các hành lang,’ tấn công người Armenia. Ông quan sát, ‘Trận xung đột đáng sợ tiếp theo, đá ném lên các hành lang, đập nát từng hàng đèn, bình dầu thủy tinh và dầu đổ xuống đầu người bên dưới.’ Khi vị pasha vội vã chạy đến, ông ‘nhận những cú giáng vào đầu’ và phải được khiêng ra ngoài trước khi binh sĩ xông vào với lưỡi lê cắm sẵn. Những phút sau đó, giáo trưởng Chính thống giáo xuất hiện với Lửa Thánh trước tiếng la hét vui mừng, tiếng đập ngực, và tiếng nhấp nháy của ngọn lửa.
Quân đồn trú ăn mừng chiến thắng của sultan bằng cuộc diễu hành trên bãi Maidan mà mỉa mai thay bởi vì chẳng bao lâu sau đó, Alexander II mua lại bãi đất diễu hành này để xây cất một phức hợp Nga. Từ đó trở đi Nga sẽ theo đuổi chính sách thống trị văn hóa ở Jerusalem.
Chiến thắng vừa ngọt vừa đắng đối với người Ottoman, lãnh địa Hồi giáo yếu ớt của họ được các binh sĩ Cơ đốc giải cứu. Để chứng tỏ lòng biết ơn của mình và giữ cho phương Tây không đến gần, Sultan Abdulmecid buộc lòng phải thực hiện cải cách, gia tăng tính trung ương tập quyền, chỉ thị sự bình đẳng tuyệt đối cho mọi nhóm thiểu số không phân biệt tôn giáo, và cho phép người châu Âu mọi hình thức tự do trước đây chưa từng nghĩ đến. Ông tặng St Anne, nhà thờ Thập Tự quân đã sử dụng làm trường giáo lý Saladin, cho Napoleon III. Vào tháng 3 1855, Công tước Brabant, Vua Leopold II tương lai của Bỉ, người bóc lột xứ Congo, là người Âu đầu tiên được phép thăm Núi Đền: các lính bảo vệ – những người Sudan cầm chày vồ từ vùng Darfur – phải bị nhốt lại vì sợ họ sẽ tấn công người ngoại giáo. Vào tháng 6, Đại Công tước Maximilian, người thừa kế đế chế Habsburg – và Hoàng đế tương lai mệnh yểu của Mexico – đến với các sĩ quan trên kỳ hạm của mình. Người Âu bắt đầu xây dựng những công trình Cơ đốc kiểu đế chế bề thế của mình trong cơn bùng nổ xây dựng tại Jerusalem. Các chính khách Ottoman bồn chồn nhưng sau cuộc chiến Crimea, phương Tây đã đầu tư quá nhiều để có thể để yên cho Jerusalem.
Trong những tháng cuối của cuộc chiến Crimea, Sir Moses Montefiore đã mua tàu hỏa và đường ray của Công ty Đường Sắt Balaclava, được xây dựng đặc biệt cho binh sĩ Anh, để lập một tuyến đường giữa Jaffa và Jerusalem. Giờ, có được uy thế và quyền lực của một gã tài phiệt Anh sau thắng lợi Crimea, ông quay về thành phố, người báo hiệu cho tương lai.