Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 51
Chương 51

❊ ❊ ❊

NGƯỜI ANH RA ĐI; BEN-GURION: CHÚNG TA LÀM ĐƯỢC RỒI!

Tướng Cunningham ra khỏi Jerusalem qua những phố xá vắng tanh trừ vài đứa bé Ả Rập. Binh lính Anh án ngữ các ụ súng máy tại những góc đường. Khi chiếc Daimler phóng qua, những người trẻ nhìn theo vỗ tay như trẻ con và một người đứng chào. Cái chào được chào đáp trả. Từ sân bay Kalandia, vị cao ủy bay ra khỏi Jerusalem đến Haifa và từ đó, lúc nửa đêm, ông lên tàu về Anh.

Binh lính Anh di tản pháo đài Bevingrad của họ trong Phức hợp Nga: 250 xe tải và xe tăng rùng rùng chạy dọc Đại lộ Vua George V, trước cặp mắt nhìn trong im lặng của đám đông Do Thái. Cuộc chạy đua giành quyền kiểm soát Phức hợp Nga bắt đầu ngay lập tức. Irgun tràn vào Nhà Nghỉ Nikolai. Súng rít khắp thành phố. Nusseibeh vội vã đến Amman để xin Vua Abdullah giải cứu thành phố. Nhà vua hứa.

Lúc 4 giờ chiều ngày 14/5/1948, ngay bên ngoài Jerusalem, Rabin và binh sĩ Palmach của ông, mệt nhoài vì chiến đấu giữ cho con đường lưu thông, đang lắng nghe thông báo trên đài từ David Ben-Gurion, chủ tịch Cục Do Thái. Đứng bên dưới chân dung của Herzl, trước 250 khán giả trong Bảo tàng viện Tel Aviv, Ben-Gurion tuyên bố, ‘Tôi sẽ đọc từ cuộn văn bản Lời Tuyên bố Thành lập Nhà nước... ‘

…’ Ông và các đồng sự đã tranh luận phải nên gọi tên nước là gì. Một số đề nghị Judaea hoặc Zion – nhưng những tên này có liên quan đến Jerusalem và người Zionist đang chiến đấu để giữ thậm chí một phần thành phố. Những người khác đề nghị Ivriya hoặc Herzliya, nhưng Ben-Gurion đã lập luận chọn Israël và tên đó được mọi người đồng ý: ‘Đất nước Israël’, ông đọc lớn, ‘là nơi khai sinh của dân tộc Do Thái.’ Họ hát vang bài quốc ca, Hatikvah (Niềm Hy Vọng):

Hy vọng của chúng ta không bao giờ tắt

Hy vọng của hai ngàn năm;

Để là một dân tộc tự do trên mảnh đất của mình,

Đất của Zion và Jerusalem!

Ben-Gurion tươi cười trước cánh báo chí. ‘Chúng tôi đã làm được!’ ông nói, nhưng ông tránh biểu lộ sự hân hoan. Ông đã chấp nhận nhiều lần sự phân chia hai nhà nước, nhưng giờ đây người Do Thái phải kháng cự trước cuộc xâm lấn của quân đội chính quy Ả Rập với mục tiêu được phát biểu rõ ràng là tiêu diệt. Ngay chính sự sống còn của Nhà nước Israël còn gặp lâm nguy. Mặt khác, quan điểm của ông đã tiến hóa kể khi ông hy vọng trong những thập niên 1920 và đầu thập niên 1930 về một Palestine xã hội chủ nghĩa được chia sẻ hoặc một nhà nước liên bang. Giờ đây, đối diện trước một cuộc chiến toàn diện, mọi thứ phải dành cho sự nắm giữ.

Tại mặt trận Jerusalem, binh sĩ của Rabin trong Lữ đoàn Harel quá oải khi lắng nghe Ben-Gurion trên đài. ‘Ê, thôi tắt đi cho tao ngủ chút. Ngày mai nghe tiếp,’ một người van nài.

Rabin nhớ lại: ‘Có ai đó thức dậy, bật núm đài, nhưng chỉ là sự lặng thinh nặng nề.’ Phần đông đều không nghe được Tuyên bố, vì lực lượng Ả Rập đã cắt nguồn điện.

11 phút sau, Tổng thống Truman thông báo công nhận nhà nước Israël. Trong khi đó Stalin là người đầu tiên công nhận chính thức Israël.

Ở New York, Weizmann, giờ gần như mù, đợi trong phòng của ông ở Waldorf Astoria, vui sướng vì được độc lập nhưng cảm thấy bị bỏ rơi và quên lãng, cho đến khi Ben-Gurion và đồng sự yêu cầu ông làm tổng thống đầu tiên của Israël.

Tổng thống Weizmann đến Israël, trong khi ông sợ ‘những điện thờ Do Thái ở Jerusalem, vốn đã sống sót qua những trận tấn công của quân man rợ thời trung cổ, giờ này bị bỏ tan hoang.’ Ở Jerusalem, Anwar Nusseibeh và một số ít quân không chính quy, chủ yếu là những cựu cảnh sát, cố hết sức để phòng vệ Thành phố Cổ cho đến khi quân đội chính quy đến. Nusseibeh bị bắn trúng đùi và phải chịu cưa cụt chân. Nhưng cuộc chiến không chính quy đã qua rồi.

Cuộc chiến thực sự giờ đang bắt đầu và vị thế của Israël thật ngặt nghèo. Các quân đội của các nước trong Liên đoàn Ả Rập, Ai Cập, Jordan, Iraq, Syria và Lebanon, xâm lăng Israël với sứ mạng đặc biệt là thủ tiêu người Do Thái. ‘Đây sẽ là một cuộc chiến hủy diệt và một trận tàn sát trọng đại,’ Azzam Pasha, thư ký Liên đoàn, tuyên bố, ‘sẽ được nhắc đến như các trận tàn sát của quân Mông Cổ và Thập Tự Chinh.’ Các tư lệnh của họ rất phấn khởi tự tin. Người Do Thái luôn là những thần dân thấp hèn của các đế chế Hồi giáo, đôi khi được khoan thứ, thường bị bức hại, nhưng luôn chịu thuần phục, trong hơn 1,000 năm. ‘Người Ả Rập tự tin là một dân tộc chiến đấu vĩ đại và coi người Do Thái như một quốc gia của những chủ cửa hàng. Người Ai Cập, Syria và Iraq luôn nghĩ rằng họ sẽ không gặp khó khăn khi đánh bại người Do Thái.’ Chủ nghĩa dân tộc thế tục trộn lẫn với nhiệt huyết của tinh thần thánh chiến: không thể nghĩ được làm sao người Do Thái có thể đánh bại những quân đoàn Hồi giáo, và nhiều phe nhóm Jihad đã chiến đấu bên cạnh những đạo quân chính quy từ lâu đã thấm nhuần chủ nghĩa bài Do Thái cuồng tín. Phân nửa lực lượng Ai Cập là các chiến binh mujahidin của người tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo, trong số đó có Yasser Arafat thời trai trẻ.

Vậy mà sự can thiệp với những hy vọng khủng khiếp và tính cay độc chính trị sẽ là mối thảm họa cho người Palestine và góp phần rèn đức nên một Israël lớn mạnh hơn chưa từng thấy. Trên giấy các lực lượng Ả Rập có 165,000 quân nhưng do thiếu tổ chức, trong tháng 5, họ chỉ tung ra mặt trận 28,000 quân – xấp xỉ bằng Israël. Vì 9,000 quân của Abdullah trong Quân đoàn Ả Rập là do Anh huấn luyện trước đây là thiện chiến hơn tất cả, nên ông được chính thức bổ nhiệm là Tư lệnh Tối cao của các lực lượng Liên đoàn Ả Rập.

Vua Abdullah đứng trên Cầu Allenby và, rút ra khẩu súng lục, bắn lên trời, hô to: ‘Tiến lên!’

 

ABDULLAH NGƯỜI VỘI VÀNG

Lần cuối cùng chúng ta nhìn thấy Abdullah là khi ông ở Jerusalem nhận vương quốc sa mạc của mình từ tay Winston Churchill. Lawrence đã mô tả ông ‘lùn thấp, vạm vỡ, mạnh như ngựa, với đôi mắt nâu đậm vui tươi, gương mặt tròn trĩnh bóng láng, đôi môi dày nhưng móm, cánh mũi thẳng’ – và ông đã trải qua một cuộc đời mạo hiểm, làm Lawrence choáng ngợp với những kỳ tích phóng đãng:

Là một người thuộc dòng Sherif, đứng hàng thứ 37 tính từ Đấng Tiên Tri, ông có thể trêu chọc vị ulema. ‘Nhìn một phụ nữ xinh đẹp có sai quấy không?’ ông hỏi một vị mufti. ‘Một tội lỗi, thưa Hoàng thượng.’ ‘Nhưng Kinh Koran có dạy “Nếu ngươi nhìn một phụ nữ, thì hãy quay mặt đi” nhưng ông không thể quay mặt đi chỗ khác trừ khi ông đã nhìn thấy rồi!’ Ông đồng thời là một người Bedouin kiêu hãnh và một đứa con thuộc dòng dõi sultan Ottoman, ông đã chỉ huy quân đội khi còn là thiếu niên và là ‘bộ óc’ của cuộc Nổi dậy Ả Rập Vĩ đại. Tham vọng của ông là vô hạn cũng như khẩn thiết, từ đó có biệt danh ‘Người Vội Vàng’. Nhưng một thời gian dài ông đã chờ cơ hội chinh phục Jerusalem này.

Qua nhiều năm, ông thường tiếp chuyện với Weizmann và các doanh nhân Do Thái, dâng tặng người Do Thái một tổ quốc nếu họ chịu chấp nhận ông là vua Palestine. Ông thường viếng thăm Jerusalem, gặp gỡ đồng minh của ông Ragheb Nashashibi, nhưng ông không ưa vị mufti, cho rằng Zionism lớn mạnh hơn nhờ ‘những người Ả Rập như ông ta không chịu chấp nhận giải pháp nào’.

Nhà vua đã bí mật thỏa thuận một hiệp ước bất tương xâm với người Zionist: ông sẽ chiếm những khu vực Bờ Tây được gìao cho người Ả Rập đổi lại không chống đối những đường biên được LHQ ấn định cho nhà nước Do Thái: và người Anh đã đồng ý việc xáp nhập của ông. ‘Tôi không muốn sáng lập một nhà nước Ả Rập mới cho phép người Ả Rập cưỡi trên lưng tôi’, ông giải thích với phái viên Zìonist Golda Myerson (sau này là Meir). ‘Tôi muốn làm kỵ sĩ chứ không muốn làm ngựa.’ Nhưng con ngựa bay giờ đã lồng lên: Cuộc chiến, đặc biệt, vụ tàn sát Deir Yassin, đã buộc ông phải chống lại người Do Thái. Ngoài ra, các nhà nước Ả Rập khác cũng quyết tâm hạn chế tham vọng của Abdullah nhiều như quyết tâm giải cứu Palestine, và người Ai Cập và Syria có kế hoách xáp nhập những vùng đất chinh phục của mình. Tư lệnh Glubb Pasha của Abdullah, người đã cống hiến đời mình cho việc tạo dựng một quân đội đàng hoàng cho người Hashemite, giờ miễn cưỡng phải mạo hiểm sử dụng nó.

Quân đoàn Ả Rập của ông tiến lên thận trọng qua vùng đồi Judaea về hướng Jerusalem, tại đó Quân đội Giải Phóng Ả Rập không chính quy tấn công vùng ngoại ô Do Thái. Khi đêm xuống ngày 16/5, Haganah đã đánh chiếm đồn cảnh sát Mea Shearim và vùng Sheikh Jarrah về phía bắc và trọn Thành phố Mới về phía nam tường thành cũng như những căn cứ Anh trước đây ở trung tâm, Phức hợp Nga và YMCA. ‘Chúng tôi đã chiếm được gần như toàn bộ Jerusalem, trừ Augusta Victoria và Thành phố Cổ,’ Ben-Gurion tuyên bố.

‘SOS! Người Do Thái đến gần tường thành!’ Anwar Nusseibeh vội vã trở lại nhà vua xin ông can thiệp. Abdullah không hề quên vị trí của mình trong lịch sử: ‘Nhờ Trời tôi là nhà cai trị Hồi giáo, một vì vua dòng Hashemite, và cha tôi là vua của mọi người dân Ả Rập.’ Giờ đây ông viết cho vị tư lệnh người Anh của mình: ‘Pasha Glubb, tầm quan trọng của Jerusalem trong mắt người Ả Rập và người Hồi và người Cơ đốc Ả Rập ai cũng biết rõ. Bất kỳ tai họa nào mà nhân dân thành phố chịu đựng dưới bàn tay của người Do Thái sẽ có những hậu quả sâu xa đối với chúng ta. Mọi thứ chúng ta giữ được hôm nay phải được gìn giữ – Thành phố Cổ và con đường đến Jericho. Tôi nhờ anh thi hành điều này nhanh như có thể, bạn thân mến.’

 

ABDULLAH: TRẬN ĐÁNH JERUSALEM

‘Binh lính nhà vua rất hân hoan, nhiều xe của họ trang trí cành lá xinh tươi hoặc những đóa hoa trúc đào hồng thắm. Đoàn diễu hành của Quân đoàn Ả Rập về hướng Jerusalem dường như giống một đám rước lễ hơn là một đoàn quân ra chiến trường’, Glubb nhận xét. Vào ngày 18/5, những đạo quân đầu tiên chiếm lĩnh các vị trí quanh tường thành của Thành phố Cổ từ đó, ông viết, gần 1,900 năm cách đây chính người Do Thái đã phóng tên xuống các quân đoàn Titus’. Nhưng nhà vua hốc hác vì lo lắng sợ người Do Thái sẽ tiến vào Thành phố Cổ và Điện thờ nơi cha ông vị vua Hussein quá cố xứ Hejaz được an táng. Các lực lượng của Glubb cày nát qua vùng Sheik Jarrah do Israël chiếm đóng đến Cổng Damascus.

Bên trong Thành phố Cổ, những quân không chính quy và sau đó các Quân đoàn Ả Rập bao vây Khu Do Thái, nơi định cư của một số gia đình Do Thái lâu đời nhất ở Palestine, nhiều người trong số họ là những học giả Hasidic già khú, và tất cả được bảo vệ bởi 190 chiến sĩ Haganah và Irgun. Rabin giận dữ khi biết rằng chỉ có một lực lượng khiêm nhường có thể dành được để giải cứu Thành phố Cổ. Ông quát người chỉ huy Jerusalem, ‘Đây có phải là lực lượng duy nhất mà người Do Thái có thể gom góp để giải phóng kinh đô của mình?’

Rabin nỗ lực không thành công để tràn vào Cổng Jaffa, nhưng đồng thời những binh sĩ khác đột phá qua được Cổng Zion vào Thành phố Cổ. 80 quân Palmach gia nhập binh sĩ phòng thủ trước khi để mất Cổng Zion. Nhưng giờ đây, Quân đoàn Ả Rập đến đầy đủ. Trận đánh giành Thành phố Cổ sẽ rất tuyệt vọng. Glubb ghi chép hai bên đánh nhau ‘từ phòng này qua phòng khác, xuống những lối đi tối om, lên xuống những cầu thang bé xíu cắt trong sân và thông xuống hầm qua những mê lộ ngột ngạt của Khu Do Thái phía trên những rác thải và đồ tế nhuyễn thiên niên kỷ. Glubb giờ ra lệnh tiêu diệt Khu Do Thái một cách có hệ thống. Các giáo sĩ Do Thái kêu gọi cầu cứu. Ben-Gurion điên cuồng. ‘Jerusalem có thể thất thủ bất cứ giây phút nào! Tấn công bằng mọi giá!’

Vào ngày 26/5, Quân đoàn Ả Rập chiếm Quảng trường Hurva, và phá mìn những giáo đường Do Thái hoành tráng. ‘Hai ngày sau, hai giáo sĩ già, lưng cong vì tuổi tác, bước xuống một lối đi hẹp tay mang cờ trắng’, Glubb nhận xét. Băng qua chiến tuyến, và chỉ cách vài trăm bộ trong chiến trường tí tẹo này, Rabin cũng nhìn thấy cùng một cảnh tượng đổ nát từ Núi Zion: ‘Tôi khiếp đảm.’ 39 trong số 213 người phòng thủ đã chết, 134 bị thương. ‘Vậy là Thành phố sẽ rơi vào tay kẻ thù,’ Begin viết. ‘Tang tóc buông xuống chúng tôi.’ Còn Glubb thì hớn hở, cho phép đập phá Khu Do Thái: 22 trong số 27 giáo đường bị phá hủy. Lần đầu tiên kể từ thời Hồi giáo tái chinh phục vào năm 1187, người Do Thái đánh mất lối đi đến Bức Tường Tây.

Glubb sử dụng Pháo đài Latrun để khép lại con đường đến tây Jerusalem. Ben-Gurion ra lệnh lặp đi lặp lại phải chiếm Latrun, dù phải trả giá sinh mạng cỡ nào, nhưng những cuộc tấn công đều thất bại. Người Do Thái Jerusalem đã sống dưới hầm, bắt đầu chết đói cho đến khi người Israël mở một tuyến đường mới để tiếp tế, cái gọi là Đường Miến Điện phía nam Latrin.

Ngày 11/6, người trung gian LHQ, Bá tước Folke Bernadotte, cháu nội của một nhà vua Thụy Điển, người đã thương thảo với Himmler để giải cứu người Do Thái trong những tháng cuối cùng của chiến tranh, đã làm trung gian thành công cho một cuộc hưu chiến và đề nghị một phiên bản phân chia mới, cho Vua Abdullah toàn bộ Jerusalem. Israël bác bỏ kế hoạch của Bernadotte.

Khi thời hạn hưu chiến đã hết; cuộc chiến tiếp tục. Ngay hôm sau một máy bay Spitfire của Ai Cập ném bom tây Jerusalem. Các Quân đoàn Ả Rập hồ hởi tấn công Thành phố Mới qua Cổng Zion và sau đó tiến về hướng Nhà Thờ Đức Bà: ‘Chỉ cần quay đầu, họ có thể nhìn thấy Vòm Đá và al-Aqsa,’ Glubb viết. ‘ Họ đang chiến đấu trên lối đi của Chúa Trời’, khi người Israël một lần nữa cố gắng chiếm Thành phố Cổ.

‘Chúng ta có thể giữ Jerusalem không?’ Abdullah hỏi Glubb.

‘Họ sẽ không bao giờ chiếm được nó, thưa ngài!’

‘Nếu anh có nghĩ là người Do Thái sẽ lấy được Jerusalem, thì hãy cho tôi biết,’ nhà vua nói. ‘Tôi sẽ đi đến đó và chết trên tường thành.’ Cuộc phản công của quân Israël thất bại. Nhưng sức mạnh quân sự của Israël đang tăng lên: Nhà nước mới giờ đây đang tung ra 88,000 quân, chống lại 68,000 quân Ả Rập. Trong thời gian 10 ngày trước khi có cuộc hưu chiến thứ hai, người Israël chiếm Lydda và Ramla.

Trước sự nổi giận của người Zionist về lời đề nghị của Bernadotte người Thụy Điển giờ đề xuất là Jerusalem phải được quốc tế hóa. Vào ngày 17/9, bá tước Thụy Điển bay vào Thành phố Thánh. Nhưng những người quá khích Lehi, do Yitzhak Shamir (một thủ tướng Israël tương lai) cầm đầu, quyết định tiêu diệt con người lẫn kế hoạch của ông. Khi Bernadotte lái xe từ bộ chỉ huy của ông trong Trụ sở Chính quyền qua Katamon để gặp thống đốc Israël Dov Joseph ở Rehavia, chiếc jeep của ông bị vẫy tay kêu dừng lai tại một trạm kiểm soát. Ba người từ một chiếc jeep khác bước xuống lia khẩu Stens; hai khẩu bắn xẹp bánh xe, khẩu thứ ba bắn vào ngực Bernardotte trước khi lao xe đi. Bá tước chết tại Bệnh viện Hadassah. Ben-Gurion dẹp bỏ và giải thể Lehi, nhưng bọn sát nhân không hề bị bắt.

Abdullah đã giữ được Thành phố Cổ. Trên Bờ Tây, nhà vua giữ phía nam, người Iraq giữ phía bắc. Ở phía Nam Jerusalem, đội tiên phong Ai Cập có thể trông thấy Thành phố Cổ và đang đánh vào những khu ngoại ô phía nam. Vào giữa tháng 9, Liên đoàn Ả Rập công nhận một ‘chính quyền’ Palestine đặt căn cứ trên Gaza được vị mufti và các Đại gia ở Jerusalem thống trị. Nhưng khi đánh nhau tiếp tục, người Israël đánh bại và bao vây quân Ai Cập, chinh phục sa mạc Negev. Bị mất mặt, Ai Cập đưa vị mufti trở lại Cairo, sự nghiệp chính trị của ông ta cuối cùng bị tai tiếng. Vào cuối tháng 11, 1948, Trung tá Moshe Dayan, giờ là chỉ huy quân sự của Jerusalem, đồng ý ngưng bắn với quân Jordan. Trong nửa năm đầu 1949, Israël ký hiệp ước đình chiến với cả 5 nhà nước Ả Rập, và vào tháng 2 1949, Knesset, Nghị viện Israël, nhóm họp tại trụ sở Cục Do Thái trên Đại lộ George V ở Jerusalem để bầu Weizmann chính thức vào chức vụ tổng thống.

Weizmann, giờ đã 75, thấy mình bị Thủ tướng Ben-Gurion phớt lờ và tức giận vì vai trò không quyền hành của mình, ‘Tại sao tôi phải là tổng thống kiểu Thụy Sĩ?’ Weizmann hỏi. ‘Tại sao không là tổng thống kiểu Hoa Kỳ?’ Ông nói đùa cho mình là ‘Tù nhân của Rehovoth’ – chỉ thị trấn nơi ông đã dựng lên Viện Khoa học Weizmann. Cho dù ông có nơi cư trú chính thức ở Jerusalem, ‘tôi vẫn luôn thành kiến chống lại thành phố và thậm chí bây giờ tôi cảm thấy không thoải mái sống trong đó.’ Ông mất năm 1952.

Hiệp ước Đình chiến, ký vào tháng 4 1949 và được giám sát bởi LHQ, đặt văn phòng tại Trụ sở Chính quyền Anh, phân chia Jerusalem: Israël nhận phần phía tây với một đảo lãnh thổ trên Núi Scopus, trong khi Abdullah giữ Thành phố Cổ, đông Jerusalem và Bờ Tây. Hiệp ước hứa cho người Do Thái lối đi đến Bức Tường, nghĩa địa trên Núi Olives và các lăng mộ ở Thung lũng Kidron nhưng điều này chưa hề thực thi đúng hẹn. Người Do Thái không được phép cầu nguyện tại Bức Tường trong 19 năm sau, và những lăng mộ trong các nghĩa địa của họ bị gây hư hại.

Người Israël và Abdullah cả hai đều sợ mất phần phân nửa Jerusalem của mình. LHQ khăng khăng tranh luận về việc quốc tế hóa thành phố, vì thế hai bên đều chiếm Jerusalem một cách bất hợp pháp và chỉ hai xứ công nhận việc Abdullah giữ Thành phố Cổ. Vào ngày 11/12 Jerusalem được tuyên bố là thủ đô của Israël.

Người chiến thắng Ả Rập là Abdullah Người Vội Vàng, người mà 32 năm sau cuộc Nổi dậy Ả Rập, cuối cùng đã giành được Jerusalem. Ông nói, ‘Ai muốn giành được Jerusalem từ tay tôi phải bước qua xác tôi.’

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.