REHOBOAM ĐẤU VỚI JEROBOAM: SỰ RẠN NỨT
Khi Solomon mất vào năm 930 TCN sau 40 năm trị vì, con trai ông Rehoboam triệu tập các bộ tộc đến Shechem. Những người miền bắc chọn tướng Jeroboam để báo cho nhà vua trẻ biết rằng họ không còn chịu đóng thuế cao như thời Solomon được nữa, ‘Ta sẽ thêm vào cái ách của nhà ngươi: cha ta đã phạt người bằng roi,’ Rehoboam trơ trẽn trả lời, ‘ta sẽ phạt ngươi bằng bọ cạp.’ Mười bộ tộc miền bắc nổi dậy, phong Jeroboam làm vua của một vương quốc ly khai Israël mới.
Rehoboam vẫn là vua Judah; ông là cháu nội của David và ông sở hữu Đền Thờ Jerusalem, nhà Chúa. Nhưng Jeroboam từng trải hơn, lập kinh đô ở Shechem, đối mặt với viễn ảnh: ‘Nếu dân ông đi cúng bái ở nhà Chúa tại Jerusalem, thì trái tim họ sẽ quay lại với Rehoboam Vua xứ Judah và họ sẽ giết mình.’ Thế là ông liền xây dựng hai đền thờ nhỏ ở Bethel và Dan, theo kiểu điện thờ vùng Canaan truyền thống. Thời gian trị vì của Jeroboam kéo dài và thành công, nhưng ông không bao giờ sánh được với Jerusalem của Rehoboam.
Hai vương quốc Do Thái đôi khi choảng nhau, thỉnh thoảng lại đồng minh thân thiết. Trong khoảng bốn thế kỷ sau 900 TCN, triều đại David cai trị Judah, vùng đất nhỏ bao quanh thành phố Đền hoàng gia của Jerusalem, trong khi lãnh thổ Israël giàu có hơn trở thành quyền lực quân sự trong khu vực phía bắc, thường bị thống trị bởi các tướng chiến mã xa lên chiếm ngôi bằng những cú đảo chính đẫm máu. Một trong số những người lật đổ này tàn sát quá nhiều người trong gia đình hoàng gia đến nỗi ‘không còn ai đứng tiểu vào tường’. Các tác giả Sách các Vua và Biên niên sử, viết sau đó hai thế kỷ, không quan tâm đến chi tiết cá nhân hoặc bảng niên đại nghiêm nhặt mà chỉ phán xét các nhà cai trị bằng mức độ trung thành của họ đối với đấng Chúa Trời của Israël. Tuy nhiên, may mắn thay, Thời Đại Tối Tăm đã qua: các văn tự chạm khắc của các đế chế Ai Cập và Iraq giờ đã làm sáng tỏ – và thường khẳng định – những xác quyết chắc nịch của Kinh thánh. Chín năm sau khi Solomon qua đời, Ai Cập và lịch sử quay lại với Jerusalem. Pharaoh Sheshonq, người đã cố vũ sự chia cắt của vương quyền thống nhất Israël, hành quân dọc bờ biển rồi quẹo vào nội địa tiến về Jerusalem. Đền Thờ đủ giàu có để thu hút chuyến viễn chinh hứa hẹn lợi lộc. Vua Rehoboam phải mua chuộc
Sheshonq bằng kho báu Đền Thờ – vàng của Solomon – để được yên. Tấn công cả hai vương quốc Israël, Pharaoh tàn phá Megiddo trên bờ biển tại đó ông để lại một bảng khắc trên một thạch bia huênh hoang về các cuộc chinh phục của mình: một mảnh vỡ trêu ngươi của nó còn sót lại. Trên chuyến trở về, ông quảng bá chiến công cướp phá của mình tại Đền Amun ở Karnak. Một văn bản bằng chữ tượng hình ở Bubastis, lúc đó là kinh đô của vị Pharaoh, cho biết sau đó chẳng bao lâu người kế vị Sheshonq là Osorkon dâng cúng 383 tấn vàng cho các đền thờ của ông, chắc hẳn là của cải cướp được từ Jerusalem. Cuộc xâm chiếm của Sheshonq là sự kiện kinh thánh đầu tiên được khẳng định bằng ngành khảo cổ.
Sau 50 đánh nhau, hai vương quốc Israël làm hòa. Vua Ahab của Israël đã có một cuộc hôn nhân đầy uy tín với một công chúa Phoenicia, người sẽ trở thành nữ quái của Kinh thánh, một nhà độc tài đồi bại và kẻ thờ phụng Baal và những thần linh khác. Tên bà là Jezebel và bà cùng gia đình sẽ đến cai trị Israël – và Jerusalem. Họ sẽ mang đến cuộc sát sinh và thảm họa cho cả hai nơi.
JEZEBEL VÀ CON GÁI, HOÀNG HẬU
Jezebel và Ahab sinh được một cô con gái tên là Athaliah kết hôn với vua Jehorah của Judah: cô ta đến Jerusalem đang thời hưng thịnh – các thương nhân Syria buôn bán trong khu vực, một đội thương thuyền Judaea giương buồm trên Hồng Hải và các tượng thần Canaan đã bị trục xuất khỏi Đền Thờ. Nhưng cô con gái của Jezebel không mang đến may mắn hoặc phúc lành.
Người Israël đã phồn thịnh trong thời gian các cường quốc lớn tạm yên ắng. Giờ là năm 854, Assyria, đặt căn cứ quanh kinh đô Nineveh ở Iraq ngày nay, lại trỗi dậy. Khi vua xứ Assyria Shalmaneser III bắt đầu chinh phục các vương quốc Syria, Judah, Israël và Syria thành lập liên minh chống lại ông. Tại Trận Karkar, Vua Ahab, dàn 2,000 chiến mã xa và 10,000 bộ binh và được quân Judaea và các vua xứ Syria khác yễm trợ, chặn đứng được quân Assyria. Nhưng sau đó liên minh tan rã. Quân Judaea và Israël đánh với quân Syria; các thần dân họ nổi dậy. Vua Ahab của Israël trúng tên tử trận – ‘chó bu lại liếm máu ông’. Một vị tướng tên Jehu nổi loạn ở Israël, tàn sát cả hoàng gia – chất thủ cấp của 70 con trai của Ahab thành đống phơi trước cổng thành Samaria, và ám sát không chỉ vị vua mới của Israël mà cả nhà vua Judah đang ở ghé thăm. Về phần Hoàng hậu Jezebel, bà bị ném ra khỏi cửa sổ cung điện, để bị cán nát bấy dưới các bánh xe chiến mã xa.
Kinh thánh mô tả Vua Jehu của Israël là người phục hồi Yahweh và đập vỡ tượng thần Baal. Nhưng Kinh thánh quan tâm nhiều đến mối quan hệ của ông với Chúa Trời hơn chính trị quyền lực giờ mới được ngành khảo cổ phát hiện: Jehu ắt hẳn đã nhận được hỗ trợ từ Damascus vì ông vua xứ đó Hazael đã để lại một thạch bia ở Tel Dan miền bắc Isreal huênh hoang rằng mình đã đánh bại những vị vua trước đây của Nhà Israël và Nhà David, một minh chứng khảo cổ cho thấy David có thật. Nhưng Jehu cũng phải trở thành một chư hầu của vua Shalmaneser III xứ Assyria. Trên Cột Tháp Đen, được tìm thấy ở Nimrud, giờ nằm trong Viện Bảo tàng British, Jehu quì mọp trước Shalmaneser đang ngồi, với bộ râu tết lại, vương miện, long bào thêu và thanh gươm, trước biểu tượng quyền lực có cánh của Assyria, phía trên là chiếc lọng do một quân hầu cầm giữ. ‘Ta đã nhận,’ Shalmaneser nói, ‘bạc, vàng, một bình vàng, một bát vàng, một xô vàng, thiếc, một cây trượng, những ngọn giáo đi săn.’ Hình khắc Jehu đang quỳ này là hình vẽ lịch sử đầu tiên về một người Israël.
Thi thể của Jezebel ném cho cho chó ở Israël ăn nhưng vào khoảng 841 TCN, con gái của Jezebel, Hoàng hậu Athaliah, chiếm quyền lực ở Jerusalem, ra tay sát hại tất cả hoàng thân dòng dõi David (chính cháu nội của bà) mà bà có thể tìm được. Chỉ có một hoàng thân sơ sinh, Jehoash, được giải cứu. Sách thứ 2 về các Vua – và một số khai quật khảo cổ mới – cho ta cái nhìn lướt qua về cuộc sống ở Jerusalem.
Cậu hoàng tử bé được nuôi dưỡng lén lút trong phức hợp Đền Thờ trong khi con gái nửa Phoenicia, nửa Israël của Jezebel kêu gọi những nhà buôn khắp nơi và các giáo sĩ đạo thần Baal đến kinh đô sơn cước nhỏ của bà. Một con bồ câu bằng ngà tinh xảo đậu trên một nhánh lựu cao không đến một in-xơ, được tìm thấy ở Jerusalem, chắc chắn được sử dụng để trang trí một món đồ trong một ngôi nhà lớn ở Jerusalem. Những cái triện bằng đất sét của người Phoenicia đã được tìm thấy quanh vực đá bên dưới Thành phố David có hình những con tàu và những tô tem thiêng của họ như mặt trời có cánh phía trên ngai vàng, cùng với 10,000 xương cá, ắt hẳn do người đi buôn trên biển chở ll đến từ Địa Trung Hải. Nhưng Athaliah chẳng mấy chốc bị nhân dân thù ghét như bà mẹ mình. Các giáo sĩ của bà dựng lên tượng thần Baal và các thần linh khác trong Đền Thờ. Sau sáu năm, giáo trưởng của Đền triệu tập những nhân vật uy tín của Jerusalem đến dự một cuộc họp bí mật. Họ bỗng phát hiện sự tồn tại của cậu hoàng bé, Jehoash, và lập tức tuyên thệ trung thành với cậu. Giáo trưởng trang bị đội bảo vệ bằng giáo và khiên của Vua David, còn cất giữ trong Đền, và rồi công khai xức dầu thánh cho cậu, hô vang ‘Chúa Trời hãy giải cứu nhà vua’ và thổi kèn lên.
Hoàng hậu nghe ‘tiếng ồn ào của bảo vệ và dân chúng’ và vội vàng chạy qua vệ thành từ cung điện vào trong Đền Thờ kế bên, giờ đã ken chặt người. ‘Quân phản loạn! Quân phản loạn!’ bà ta hét lên, nhưng các bảo vệ đã túm lấy bà, lôi bà ra khỏi núi thánh và giết bà khi vừa ra khỏi cổng. Các giáo sĩ đạo thần Baal bị thắt cổ, tượng thần đều bị đập nát.
Vua Jehoash trị vì 40 năm cho đến khi khoảng 801 ông bị nhà vua Syria đánh bại. Kẻ chiến thắng tiến vào Jerusalem và buộc ông phải giao tất cả số vàng trong kho báu của Đền Thờ. Ông bị ám sát. Ba mươi năm sau, một nhà vua Israël đánh phá Jerusalem và cướp bóc Đền Thờ. Từ giờ trở đi của cải lớn dần của Đền Thờ khiến nó trở thành miếng mồi ngon.
Vậy mà sự hưng thịnh nơi chốn hẻo lánh của Jerusalem chả bì được với Assyria, năng nổ lên dưới triều vua mới: đế chế tham tàn đó một lần nữa hành quân. Các vua Israël và Aram-Damascus cố thành lập một liên minh chống cự lại quân Assyria. Khi Vua Ahax của Judah từ chối, người Israël và Syria vây hãm Jerusalem. Họ không thể đột phá qua tường thành mới được gia cố, nhưng Vua Ahaz nhanh chóng gởi châu báu Đền Thờ và lời cầu cứu tới Tiglath-Pileser III của Assyria. Năm 732, người Assyria xáp nhập Syria và tàn phá Israël. Ở Jerusalem, Vua Ahaz băn khoăn không biết có nên thần phục hoặc chiến đấu với Assyria.
ISAIAH: JERUSALEM LÀ GIAI NHÂN VÀ Ả ĐIỂM
Nhà vua được Isaiah, hoàng thân, giáo sĩ và cố vấn chính trị, khuyên hãy đợi: Chúa Trời sẽ bảo vệ Jerusalem. Isaiah nói nhà vua sẽ có một con trai tên là Emmanuel – có nghĩa ‘Chúa bên chúng ta’ – ‘Một đứa trẻ sẽ ra đời cho chúng ta’ sau này sẽ là ‘đấng Thần linh Hùng Mạnh, Người Cha Vĩnh hằng, Ông Hoàng của Hoà bình’, mang đến ‘hoà bình bất tận’.
Có ít nhất hai tác giả viết Sách về Isaiah – một người viết hơn 200 năm sau – nhưng Isaiah này không chỉ là một tiên tri mà còn là một thi sĩ thấu thị mà, trong một thời đại người Assyria tham tàn gây hấn, là người đầu tiên tưởng tượng cuộc sống sau khi Đền Thờ bị phá hủy, trong một Jerusalem thần bí. ‘Ta trông thấy Chúa Trời ngồi trên ngôi cao và bật lên và đuôi áo choàng của ngài lấp đầy đền thờ... và ngôi nhà đầy ắp khói.’
Isaiah yêu quí ‘ngọn núi thánh’, mà ông xem như một mỹ nhân, ‘ngọn núi của con gái Zion, ngọn đồi của Jerusalem, đôi khi công chính, đôi khi là một ả giang hồ’.
Sở hữu Jerusalem không có gì là không sùng kính và đứng đắn. Nhưng nếu tất cả bị đánh mất và ‘Jerusalem bị tàn phá’, thì sẽ có một Jerusalem thần bí mới cho mọi người ‘tại mỗi nơi cư trú’, giảng về lòng tốt-thương yêu: ‘Học tập để làm điều tốt; tìm kiếm sự phán xét; cứu giúp kẻ bị áp bức; phân xử người không cha; bênh vực thân goá bụa.’ Isaiah thấy trước một hiện tượng phi thường: ‘một ngôi nhà Chúa sẽ được thiết lập trên chóp của những ngọn núi... và mọi quốc gia sẽ đổ về đó’. Luật lệ, giá trị và những câu chuyện về thành phố núi hẻo lánh và có lẽ bị khuất phục này sẽ đứng lên lần nữa: ‘Và nhiều người sẽ đi và nói, Hãy đến và chúng ta sẽ lên núi của Chúa Trời, đến Nhà Chúa của Jacob ; và người sẽ dạy chúng ta lề lối của người... Luật lệ và lời nói của Chúa từ Jerusalem sẽ đi ra khỏi Zion. Và người sẽ phán xét trong các quốc gia.’ Isaiah tiên đoán Ngày Phán Xét thần bí khi một ông vua xức dầu thánh – Đấng Cứu Thể – sẽ đến: ‘họ sẽ vỗ lưỡi gươm thành lưỡi cày và giáo thành móc tỉa cành... và không ai còn biết đến chiến tranh là gì nữa.’ Người chết sẽ sống lại. ‘Sói cũng sẽ ở cùng với cừu và báo sẽ nằm cạnh trẻ thơ.’
Bài thơ sáng chói này thể hiện lần đầu tiên những khao khát về ngày tận thế đã đi suốt lịch sử Jerusalem cho đến tận ngày nay. Isaiah sẽ góp phần tạo hình không chỉ Do Thái giáo mà còn Kitô giáo. Jesus Christ học tập Isaiah, và những lời dạy của ông – từ việc tàn phá Đền Thờ và ý tưởng về một Jerusalem tâm linh phổ quát cho đến tinh thần chiến đấu cho kẻ yếu thế – rút ra từ tầm nhìn có tính thi cả này. Chính Jesus sẽ được xem là Emmanuel của Isaiah.
Vua Ahaz thân chính đến Damascus để tỏ lòng thần phục Tiglath-Pileser, rồi quay về với một áng thờ kiểu Assyria cho Đền Thờ. Khi nhà chinh phục chết vào năm 727 TCN, Israël nổi loạn, nhưng nhà vua Assyria mới Sargon II vây hãm kinh đô Samaria trong ba năm và rồi nuốt trọn Israël, đày 27,000 dân Israël biệt xứ đến Assyria. Mười trong 12 bộ tộc sống ở vương quốc phía bắc, gần như mất hút khỏi lịch sử.* Người Do Thái hiện đại là dòng dõi của hai bộ tộc cuối cùng còn sống sót ở Vương quốc Judah. Đứa bé Emmanuel mà Isaiah đã chào đón là Vua Hezekiah, không phải Đấng Cứu Thế nhưng dù sao cũng sở hữu điều vô giá nhất của mọi phẩm chất chính trị, sự may mắn. Và những vết tích của Jerusalem của ông vẫn còn sống sót tận hôm nay.
Các cộng đồng Do Thái cổ đại ở Iran và Iraq nhận mình là hậu duệ của Mười Bộ Tộc Israël bị người Assyria đày biệt xứ cũng như từ những bộ tộc bị người Babylon trục xuất sau đó. Nghiên cứu di truyền gần nhất chứng tỏ rằng những người Do Thái này đúng là bị tách rời với những cộng đồng Do Thái khác cách đây khoảng 2,500 năm. Vậy mà những truy vấn về các bộ tộc thất lạc này đã nảy sinh hàng ngàn tưởng tượng và giả thuyết thêu dệt: Mười Bộ Tộc đã được ‘phát hiện’ trong những vùng lãnh thổ bất ngờ – từ Dân Da Đỏ Bắc Mỹ đến người Anh.
SENNACHERIB: CON SÓI VÀO BÃI RÀO SÚC VẬT
Hezekiah đợi 20 năm cơ hội nổi dậy chống lại Assyria: trước tiên ông loại bỏ những tượng thần, đập vỡ tượng rắn đồng dựng trong Đền Thờ, và tập họp dân chúng ăn mừng lễ Vượt Qua theo phong cách truyền thống tại Jerusalem, giờ đây lần đầu tiên mở rộng đến ngọn đồi phía tây. Thành phố tấp nập người tị nạn từ vương quốc phía bắc sụp đổ, và ắt hẳn họ có mang theo một số cuộn giấy da xưa về lịch sử và truyền thuyết trước đây của người Israël. Các học giả Jerusalem bắt đầu kết tập những truyền thống Judaea với những truyền thống các bộ tộc phương bắc: cuối cùng những cuộn giấy này, được viết cùng lúc người Hy Lạp ghi chép thiên anh hùng caIliadcủa Homer, sẽ trở thành Kinh thánh.
Khi Sargon II bị tử trận vào năm 705, những cư dân Jerusalem, thậm chí Isaiah, hi vọng nó đánh dấu sự suy vong của một đế chế xấu ác. Ai Cập hứa hậu thuẫn; thành phố Babylon nổi loạn và phái đặc sứ đến Hezekiah. Ông cảm thấy thời cơ đã đến, bèn tham gia một liên minh mới chống Assyria và chuẩn bị chiến tranh. Nhưng, khổ cho dân Judaea, vị Vua Vĩ đại mới của Assyria là một tướng soái có năng lực và tính quả quyết vô song: tên ông ta là Sennacherib.
Ông tự xưng là ‘Vua của Thế giới, Vua của Assyria’ tại một thời điểm khi tước hiệu đều đồng nghĩa với nhau. Assyria cai trị từ Vịnh Ba Tư đến Cyrus. Vùng đất trung tâm của nó thuộc Iraq ngày nay được bảo vệ bởi núi non về phía bắc và con sông Euphrates về phía tây nhưng dễ bị tấn công về mặt nam và đông. Đế chế giống một con cá mập chỉ sống nhờ vào việc tiêu diệt liên tục những loài cá khác. Đối với người Assyria, chinh phục là một nghĩa vụ linh thiêng. Mỗi ông vua mới lên ngôi đều tuyên thệ sẽ mở rộng bờ cõi của Đấng Ashur – tên xứ cũng đặt theo tên của vị thần bảo hộ này. Vua đồng thời cũng là giáo trưởng và người thống lĩnh đạo quân 200,000 người, và chẳng khác các tên độc tài thời hiện đại, họ gây khiếp sợ cho thần dân không chỉ bằng khủng bố mà còn bằng lưu đày họ từ đầu này đến đầu kia của đế chế.
Thi thể vua cha của Sennacherib không hề được thu hồi từ chiến địa, một dấu hiệu cho thấy thần linh không bằng lòng, và đế chế bắt đầu rệu rã. Nhưng Sennacherib đập tan mọi cuộc bạo loạn và khi chiếm lại được kinh thành Babylon, ông phá hủy hoàn toàn thành phố. Nhưng sau khi trật tự đã được vãn hồi, ông ra sức củng cố, xây dựng một cách xa hoa kinh đô Nineveh, thành phố của Ishtar, nữ thần chiến tranh và nhiệt huyết, với kênh đào dẫn nước đến vườn tược và Cung điện Bất khả Tranh đồ sộ của ông. Các vua Assyria là những nhà tuyên truyền tham lam, khi họ trang trí những bức tường cung điện bằng những hình chạm khắc quảng cáo những thắng lợi quân sự và những cái chết ghê rợn của kẻ thù – đóng cọc vào ruột, lột da và chặt đầu hàng loạt. Triều thần của các xứ thất trận diễu hành qua đường phố Nineveh mang các thủ cấp gớm ghiếc của vua họ quanh cổ. Nhưng những hành vi sỉ nhục của họ chắc chắn cũng không xấu ác hơn những nhà chinh phục khác: người Ai Cập, chẳng hạn, sưu tập những bàn tay và dương vật của kẻ thù. Mỉa mai thay, thời kỳ tàn bạo nhất của Assyria đã qua rồi;
Sennacherib thích thương thảo hơn nếu có thể.
Sennacherib chôn giấu những ghi chép về thành tích của mình dưới nền cung điện. Ở Iraq, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những tàn tích của thành phố, phát hiện Assyria vào thời điểm vàng son nhất, giàu có lên nhờ những cuộc chinh phục và canh tác nông nghiệp, được quản trị bằng các thư lại mà những ghi chép của họ được tàng trữ trong văn khố hoàng gia. Thư viện của họ chứa những bộ sưu tập các bùa yểm giúp nhà vua ra quyết định, và thần chú, nghi thức và thánh ca giúp duy trì sự phù trợ của thần linh, những cũng có những văn bản đất sét ghi chép những áng văn cổ điển như Trường ca Gilgamesh. Ngoài việc thờ cúng nhiều vị thần, tôn kính các tượng ma thuật và quỷ thần và kêu gọi sức mạnh hô phong hoán vũ của thần linh, người Assyria còn nghiên cứu y học, viết những bài thuốc trên những bảng đất sét đại để như: ‘Nếu bệnh nhân có những triệu chứng sau đây, thì bệnh đó là… Hãy uống những thuốc sau...
Các tù binh Israël xa nhà, quần quật trong những thành phố loè loẹt ở Assyria để xây dựng các tòa tháp bậc thang kiểu Babel và những cung điện sơn phết màu mè, coi chúng là những thủ phủ ‘của máu, đầy dẫy dối trá, đầy dẫy cướp bóc, lúc nào cũng có nạn nhân!’ Nhà tiên tri Nathan mô tả ‘tiếng roi quật, tiếng lách cách của bánh xe, tiếng ngựa phi và tiếng bánh xe lộc cộc!’ Giờ thì những chiến mã xa tám căm đó, đạo quân hùng mạnh đó do
Sennacherib chỉ huy hành quân đến Jerusalem, xà xuống, như Sách Đệ Nhị Luật viết, ‘như một con diều hâu đớp mồi’.
ĐƯỜNG HẦM CỦA HEZEKIAH
Hezekiah biết rõ nỗi khủng khiếp nào đã giáng xuống Babylon; ông điên cuồng xây dựng các công sự quanh các khu vực mới của Jerusalem. Những đoạn tường thành to đùng này, rộng đến 25 bộ, ngày nay vẫn còn tại một vài chỗ nhưng ấn tượng nhất là ở Khu Do Thái. Ông chuẩn bị cho một cuộc vây hãm bằng cách ra lệnh cho hai nhóm thợ thủ công đào một địa đạo dài 1,700 bộ xuyên qua đá để nối Suối Gihon bên ngoài thành phố tới Hồ Siloam, phía nam Núi Đền bên dưới Thành phố David, giờ đây nhờ có công sự mới, nên nằm bên trong tường thành. Khi hai đội gặp nhau sâu trong lòng dá, họ ăn mừng bằng cách chạm một dòng chữ để ghi nhớ kỳ tích đáng kinh ngạc của mình.

Năm 701 TCN, Vua Hezekiah củng cố thành phố chống lại quân Assyria đang tiến đến. Tường thành dày của ông ngày nay còn nhìn thấy được ở Khu Do Thái.

Trong khi đó hai đội công binh bất đầu đào Địa Đạo Siloam dài 533 mét để cung cấp nước cho thành phố; khi họ gặp nhau ở giữa, họ ăn mừng bằng cách khắc chữ này trên đá, được một học sinh phát hiện vào năm 1891.
Địa đạo được đào xuyên qua. Và cách nó được đào xuyên qua là như thế này. Trong khi họ còn khai quật bằng rìu, người này nối đuôi người khác, và khi chỉ còn ba cubit (mỗi cubit khoảng 45 cm: ND) để đục xuyên qua, họ nghe tiếng một người gọi ra phía sau, vì có một vết nứt trong đá bên phải (và bên trái). Và khi đường hầm đá xuyên qua, thợ đá đẽo đá, rìu này đến rìu khác; và nước chảy từ con suối về đến nơi dự trữ một khoảng 1,200 cubit và độ cao của đá bên trên đầu các thợ đá là 100 cubit.
Phía bắc Núi Đền, Hezekiah cho xây đập ngang qua thung lũng để tạo một trong những Hồ Bethesda nhằm mang thêm nước vào thành phố, và dường như ông đã phân phối thực phẩm – dầu, rượu vang, thóc – cho binh sĩ của mình, chuẩn bị đối đầu cuộc bao vây. Những quai bình đã được tìm thấy tại nhiều địa điểm ở Judah có khắc chữImlk – ‘cho nhà vua’ –có đóng huy hiệu của ông, bọ hung bốn cánh.
‘Quân Assyria xông đến như lũ sói vồ súc vật trong bãi chăn,’ thi sĩ Byron từng viết. Sennacherib và đoàn hùng binh của ông giờ đang rất gần Jerusalem. Vị Vua Vĩ đại ắt hẳn đã đi, như hầu hết các vị vua Assyria khác, trong cỗ xe chiến mã ba ngựa, có lộng che hoàng gia, những chiến mã lót khăn trải đầy màu sắc và bờm ngựa lung linh trong khi chính ông ắt hẳn vận chiếc long bào trắng có thêu, đội mũ dẹt có mũi nhọn, chòm râu dài cắt tỉa vuông vức, tết lại tỉ mỉ và vòng kiềng họa tiết hoa hồng, và thường cầm một chiếc cung trong tay và dắt một thanh kiếm ở thắt lưng với võ kiếm trang trí họa tiết sư tử. Ông thấy mình nom như một sư tử hơn là một con diều hâu tả trong kinh thánh hoặc con sói của Byron – các vua Assyria mặc áo dạ sư tử để ăn mừng chiến thắng của mình trong Đền Ishtar, trang trí cung điện bằng hình các nhân sư và cảnh săn bắn sư tử, môn thể thao của vua chúa.
Ông bỏ qua Jerusalem để bao vây thành phố thứ hai của Hezekiah, Lachish ở phía nam. Từ những hình chạm nổi tại cung điện Nineveh của ông, chúng ta biết được binh lính ông (và cả binh lính Judaea) mặt mũi thế nào: quân Assyria, một quân đội đế chế gồm nhiều xứ, để tóc tết, và mặc áo chẽn và áo giáp xâu vòng, đội mũ sắt mũi nhọn có chóp lông, bố trí hai bên chiến mã xa, cung thủ, giáo binh và linh bắn ná. Họ xây dựng thang trèo tường; công bình phá tường thành, máy có mấu nhọn trông rất đáng sợ để phá công sự. Cung thủ và linh bắn ná bắn lửa vào thành trong khi bộ binh của
Sennacherib ào ạt trèo lên thang bắc lên tường thành để chiếm thành phố. Các nhà khảo cổ đã khai quật được một nấm mồ tập thể chôn 1,500 đàn ông, đàn bà và trẻ con, một số bị xuyên cọc qua hậu môn hoặc lột da, đúng như tranh chạm nổi mô tả; từng đoàn dân tị nạn chạy trốn khỏi trận tàn sát. Jerusalem biết điều gì đang đợi mình.

Trước khi quay sang Jerusalem, Sennacherib, chủ nhân của để chế hùng mạnh, tham tàn Assyria, tràn vào thành phố thứ hai Lachish của Hezekiah. Phù điêu này trong cung điện Nineveh của ông mô tả cảnh vây hãm đẫm máu và sự trừng phạt mà dân chúng gánh chịu. Ở đây các gia đình Judaea bị một lính Assyria giải đi.
Sennacherib nhanh chóng đánh tan một đạo quân Ai Cập đến tiếp viện Hezekiah, tàn phá Judah và rồi tiến sát Jerusalem, hạ trại ở phía bắc, cùng nơi mà Titus sẽ chọn 500 năm sau.
Hezekiah đầu độc mọi giếng nước bên ngoài Jerusalem. Ông bố trí binh lính tại những tường thành mới. Họ vận khăn xếp kết với khăn trùm đầu và tấm phủ tai dài, mang váy ngắn, giáp che ống chân và giày bốt. Khi vòng vây càng xiết chặt, ắt hẳn trong thành càng hoảng loạn. Sennacherib phái tướng lĩnh đến đàm phán – kháng cự là vô ích. Tiên tri Micah nhìn thấy trước cảnh tàn phá của Zion. Tuy nhiên, ông già Isaiah khuyên nên nhẫn nại: Yahweh sẽ giải cứu.
Hezekiah cầu nguyện trong Đền Thờ. Sennacherib khoác lác rằng mình đã bao vây Jerusalem ‘như chim trong lồng’. Nhưng Isaiah đã đúng: Chúa Trời đã can thiệp.
MANASSEH: HIẾN TẾ CON TRAI TRONG THUNG LŨNG ĐỊA NGỤC
‘Thiên sứ của Chúa Trời xuất hiện và phà hơi vào doanh trại quân Assyria... và khi họ thức dậy vào buổi sáng, tất cả họ chỉ là những xác chết.’ Quân Assyria thình lình nhổ trại, ắt hẳn để đi đánh dẹp một vụ nổi dậy ở phía đông. ‘Thế là
Sennacherib vua xứ Assyria bỏ đi.’ Yahweh bảo với Sennacherib rằng ‘Con gái của Jerusalem đã nhìn ngươi lắc đầu.’ Đó là theo phiên bản của Jerusalem, còn biên niên sử của Sennacherib thì mô tả vật triều cống choáng ngợp của Hezekiah, gồm 30 ta-lăng vàng và 800 ta-lăng bạc (mỗi ta-lăng khoảng 33 kí): hình như đó là giá mà ông phải trả cho họ rút quân. Sennacherib thu hẹp Judah chỉ còn một khoảnh đất nhỏ không lớn hơn khu vực Jerusalem và huênh hoang rằng mình đã đày biệt xứ 200,150 người.
Khi Hezekiah mất sau vụ vây hãm, con trai ông Manasseh trở thành một chư hầu trung thành của Syria. Ông tàn nhẫn đập tan bất kỳ vụ chống đối nào ở Jerusalem, kết hôn một công chúa Ả Rập, đảo ngược những cải cách của vua cha và cho mãi dâm nam theo nghi thức và đặt các tượng thần Baal và Asherah trong Đền Thờ. Đáng sợ hơn tất cả, ông khuyến khích việc hiến tế trẻ con tại các lò nướng – các tophet – trong thung lũng Hinnom,* phía nam thành phố. Chính xác ‘ông đã ra lệnh đẩy chính con trai mình qua đám lửa... ‘Người ta kể các trẻ em được đưa vào đó trong tiếng trống bập bùng để át tiếng la hét của những nạn nhân không cho cha mẹ chúng nghe thấy.
Đã có những gợi ý về tập tục hiến tế trẻ em trong Sáng Thế Ký và Xuất Hành, trong đó có việc Abraham muốn hiến tế con trai Isaac của mình. Việc hiến tế người từ lâu đã là nghi thức của người Phoenicia và Canaan. Vậy mà rất ít chứng cứ được phát hiện cho đến đầu thập niên 1920, khi hai viên chức thuộc địa Pháp ở Tunisia tìm được trên một cánh đồng một tophet (lò nướng), với các binh đựng tro cốt trên đó có khắc chữ MLK (viết tắt của inmolok, hiến tế) và chứa xương cốt thiêu cháy của trẻ con, ngoài ra còn có thông điệp kể lể của người cha: ‘Bomilcar dâng cúng lên Baal đứa con trai máu thịt của mình. Xin ban phước cho nó!’ Những phát hiện này có thể đã trùng khớp với thời điểm Manasseh, ám chỉ rằng những câu chuyện kinh thánh là tin được.
Vì Manasseh mà Thung lũng Hinnom không chỉ trở thành thung lũng của tử thần, mà còn là Gehenna, ‘địa ngục’ trong thần thoại Do Thái và sau đó là thần thoại Kitô và Hồi giáo. Nếu Núi Đền là thiên đường riêng của Jerusalem, Gehenna là cõi Hades riêng của nó (Hades là Cõi Âm nơi linh hồn người chết bị quản thúc, theo thần thoại Hy Lạp: ND).
Rồi vào năm 626, Nabopolassar, một vị tướng người Chaldea lên nắm quyền ở Babylon và bắt đầu tàn phá đế chế Assyria, ghi lại những kỳ công của mình trong Biên niên sử Babylon. Năm 612, Nineveh thất thủ trước liên minh Babylon và Medes. Vào năm 609, cháu nội Josiah tám tuổi của Manasseh lên kế vị dường như báo trước một thời hoàng kim do một đấng Cứu Thế cai trị.