Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17
Chương 17

❊ ❊ ❊

MUHAMMAD: CHUYẾN DẠ HÀNH

Cha của Muhammad mất trước khi ông ra đời và mẹ ông mất khi ông đúng 6 tuổi. Nhưng ông được người chú nuôi dưỡng, mang theo ông trên những chuyến đi buôn đến Bosra và Syria. Ở đó ông được một thầy tu dạy về Cơ đốc giáo, học các kinh thánh Do Thái và Cơ đốc, thành ra tôn kính Jerusalem như một trong những nơi linh thiêng cao quí nhất. Vào tuổi nhị tuần, một góa phụ giàu có tên là Khadija, lớn tuổi hơn ông nhiều, thuê ông quản lý công việc buôn bán đường xa và sau đó kết hôn với ông. Họ sống ở Mecca, ngôi nhà của Kaaba và tảng đá đen của nó, điện thờ một vị thần đa thần giáo. Thành phố phát đạt nhờ các khách hành hương đến chiêm bái và buôn bán đường dài. Muhammad là một thành viên của bộ tộc Quraysh, phần nhiều là những nhà buôn hàng đầu và người bảo vệ điện thờ, nhưng dòng họ Hashemite của ông không phải là dòng họ mạnh trong bộ tộc.

Muhammad, được mô tả là đẹp trai với tóc và râu quăn, có tính thân thiện chinh phục mọi người – người ta nói rằng khi ông bắt tay với ai đó ông không bao giờ thả lỏng tay trước – và đồng thời một sức thu hút mạnh mẽ. Ông được ngưỡng mộ vì tính chính trực và thông minh – như một chiến binh của ông sau đó xác nhận, ‘Ông là người tốt nhất trong số chúng tôi’ – và người được biết dưới danh hiệu al-Amin, người Đáng Tin Cậy.

Như với Moses, David hoặc Jesus, giờ chúng ta không thể khám phá được bản chất cá tính đã làm nên những thành tựu của ông, nhưng như họ, ông xuất hiện tại một thời điểm cần đến mình. Trong thời kỳJahiliya,Thời Vô Minh, trước sự kiện khải thị của ông, ‘không có ai nghèo khó hơn chúng tôi,’ một chiến binh của ông đã viết lại sau đó. ‘Đạo chúng tôi là giết chóc lẫn nhau và cướp bóc. Trong số chúng tôi có những người phải chôn sống con gái mình vì không muốn chúng ăn bớt lương thực của gia đình. Rồi Thượng Đế gởi đến cho chúng tôi một con người tài giỏi.’

Bên ngoài Mecca là Hang Hira nơi Muhammad thích tới ngồi trầm tư. Vào năm 610, theo truyền thuyết, Tổng Thiên sứ Gabriel đến thăm ông tại đó và trao cho ông khải thị đầu tiên từ Thượng Đế độc nhất, người đã chọn ông để làm Sứ giả và nhà Tiên tri của mình. Khi nhà Tiên tri nhận được khải thị của Thượng Đế, mặt ông được cho là bừng đỏ, và ông ngã xuống lặng im, thân thể nằm như chết trên mặt đất, mồ hôi đổ đầm đìa xuống gương mặt; ông nghe những âm thanh vù vù và thấy những khải tượng bao trùm lấy người mình – và rồi ông sẽ thuật lại những khải thị đầy tính thi ca của mình. Thoạt đầu sự kiện này làm ông hoang mang, nhưng Khadija tin tưởng vào sứ mang của chồng mình và ông bắt đầu giảng đạo.

Trong xã hội xô bồ và đề cao tính chiến đấu này nơi mọi thiếu niên và đàn ông đều mang vũ khí, truyền thống văn chương không được viết ra mà chỉ là những thi ca truyền khẩu ca tụng những kỳ tích của những chiến binh danh dự, những người tình nóng bỏng, những tay thợ săn không biết sợ là gì. Nhà Tiên Tri phải sử dụng truyền thống thi ca này: 114sura –chương – lúc đầu được đọc kể trước khi được biên tập thành Kinh Koran, ‘Lời Thuật’, một tuyển tập những vầng thơ tạo nhã, khi bí hiểm thiêng liêng, khi chỉ dẫn rõ ràng, có lúc xung khắc gây bối rối.

Muhammad là một người có tầm nhìn gây cảm hứng giảng về sự quy phục –Islam (đạo Hồi) –đến một Đấng Thượng Đế độc nhất để được sự cứu rỗi hoàn toàn, về những giá trị của sự bình đẳng và công lý, và hạnh sống thuần khiết, với những nghi thức và qui tắc dễ học cho cuộc sống và cái chết. Ông chào đón những người cải đạo. Ông tôn kính Kinh thánh, và xem David và Solomon, Moses và Jesus là những nhà tiên tri, nhưng ông thay thế những khải thị có trước bằng những khải thị mới của mình.

Quan trọng cho số phận của Jerusalem, nhà Tiên Tri nhấn mạnh ngày Khải Huyền sẽ đến mà ông gọi là Ngày Phán Xét, Ngày Cuối Cùng hoặc chỉ là Giờ Khắc, và tính cấp bách này thúc đẩy sự năng động của Hồi giáo thuở ban đầu. ‘Chỉ có Thượng Đế mới biết về điều đó,’ Kinh Koran dạy, ‘nhưng điều gì sẽ khiến bạn nhận ra Giờ Khắc đang đến gần?’ Tất cả kinh thánh của Do Thái giáo và Cơ đốc giáo đều nhấn mạnh rằng sự kiện này chỉ có thể xảy ra ở Jerusalem.

Một đêm, tín đồ của ông tin rằng, khi ông ngủ cạnh Kaaba, Muhammad trải qua một khải tượng. Tổng Thiên sứ Gabriel đánh thức ông dậy và hai người cùng nhau làm một chuyến dạ hành cưỡi lên lưng con Buraq, một chiến mã có cánh với bộ mặt người, bay đến ‘Nơi Linh Thiêng Xa Nhất’ không tên. Tại đó Muhammad gặp ‘các tổ phụ’ của mình (Adam và Abraham) và các ‘huynh’ mình Moses, Joseph và Jesus, trước khi bước lên bậc thang lên thiên đường. Không như Jesus, ông chỉ tự cho mình là Sứ giả hoặc Tông đồ của Thượng Đế, không khoa trương thần thông nào. Đúng ra,Isra– Dạ Hành – vàMitaj– Thăng Thiên – là những thi thố nhiệm mầu duy nhất của ông.

Jerusalem và Đền Thờ thực sự chưa hề được đề cập đến trong Koran nhưng người Hồi giáo bổng tin rằng Nơi Thiêng liêng Xa Nhất chính là Núi Đền.

1

Cuộc chinh phục Ả Rập: Minh họa này của Nizami thể hiện bài thơ của Khamza cho thấy cuộc Dạ Hành của Muhammad (Isra) đến Jerusalem, cưỡi trên lưng Buraq có bộ mặt người, sau đó là cuộc Thăng Thiên của ông (Miraj) để đàm đạo với Jesus, Moses và Abraham.

Khi vợ và chú ông qua đời, Muhammad gánh chịu nỗi bất mãn mà những gia đình giàu có hơn, vốn cuộc sống lệ thuộc vào tảng đá Kabba đổ lên đầu ông. Những cư dân Mecca muốn giết ông. Nhưng ông được tiếp cận một nhóm người từ Yathrib, một ốc đảo cọ và chà là về phía bắc do những bộ tộc Do Thái thành lập, cũng là nơi tụ họp của nông dân và thợ thủ công theo đa thần giáo. Họ nhờ ông đến giảng hòa cho các dòng họ có mối thù truyền kiếp. Ông và nhóm đệ tử nòng cốt khởi hành trên chuyến Di Dân –Hijra– đến Yathrib, sau này trở thànhMadinat un-Nabi,thành phố của Tiên Tri – Medina. Tại đó ông xáp nhập những tín đồ đầu tiên của mình, nhóm Di Dân, với những người mới theo, nhóm Trợ Giúp, và các đồng minh Do Thái của ông, thành một cộng đồng mới, Umma. Đó là năm 622, năm bắt đầu của lịch Hồi.

Muhammad là một người có kỹ năng hòa giải và kết hợp những ý tưởng. Giờ ở Medina, với các dòng họ Do Thái ở đó, ông tạo ra thánh đường Hồi giáo đầu tiên, công nhận Đền Thờ Do Thái làqibla (phương hướng cầu nguyện) đầu tiên. Ông cầu nguyện vào lúc mặt trời xuống chiều thứ sáu – ngày Sabbath của Do Thái – nhịn ăn vào Ngày Chuộc Lỗi, cấm ăn thịt heo và thực hiện phép cắt bì. Tính độc nhất của đấng Thượng Đế của Muhammad bác bỏ tính Ba Ngôi của Cơ đốc giáo nhưng những nghi thức khác – nằm úp sấp trên thảm cầu nguyện – vay mượn từ các tu viên Cơ đốc; lễ chay Ramadan giống lễ Tro. Nhưng đạo Hồi có nhiều nét riêng của nó.

Muhammad sáng lập một nhà nước nhỏ với luật lệ riêng, nhưng ông gặp sự chống đối từ Medina và quê nhà Mecca. Nhà nước mới của ông cần tự bảo vệ và chinh phục:jihad –thánh chiến – là công cuộc làm chủ bản thân và thánh chiến chinh phục. Kinh Koran không chỉ xiển dương sự tiêu diệt những kẻ bội giáo mà còn khoan dung nếu họ chịu qui phục. Điều này là xác đáng vì các bộ tộc Do Thái chống đối các khải thị và sự kiểm soát của Muhammad. Từ đó ông chuyển hướng cầu nguyện đến Mecca và bác bỏ đường lối Do Thái: Thượng Đế đã hủy diệt Đền Thờ Do Thái vì người Do Thái đã phạm tội vì thế ‘họ không đi theo hướng cầu nguyện của ngươi là Jerusalem’.

Khi lên đường chiến đấu giành lại Mecca, ông sợ người Do Thái sẽ làm phản ở Medina nên ông trục xuất họ và tàn sát một dòng họ để làm gương: 700 đàn ông bị chặt đầu, còn phụ nữ và trẻ con bị bắt làm nô lệ. Năm 630, Muhammad cuối cùng chiếm được Mecca, bành trướng đạo độc thần lên khắp Ả Rập bằng cưỡng bách cải đạo. Các chiến binh của Muhammad càng trở nên hiếu chiến hơn khi họ nỗ lực sống công chính để chuẩn bị cho Ngày Phán Xét Cuối Cùng. Giờ đây, đã chinh phục Ả Rập, họ chạm trán với các đế chế tội lỗi ở trước mặt. Những chiến binh đầu tiên, nhóm Di Dân và Trợ Giúp, tạo thành đội tùy tùng của ông – nhưng ông cũng chào đón những cựu thù và những kẻ cơ hội có tài cũng với lòng nhiệt thành không kém. Trong khi đó truyền thống Hồi giáo thuật lại đời tư của ông: ông có nhiều vợ – Aisha, con gái của đồng minh Abu Bakr của ông là người được ông sủng ái – và tiếp nhận nhiều hầu thiếp, trong đó có các kiều nữ Do Thái và Cơ đốc giáo; và ông có con, quan trọng hơn hết là cô con gái tên Fatima.

Năm 632, Muhammad, khoảng 62 tuổi, mất và được kế vị bởi cha vợ của ông là Abu Bakr, người được tôn làm Amir al-Muminin, Chỉ huy các Tín hữu.

Những người kế tục Muhammad sử dụng tước vị Chỉ huy các Tín hữu. Sau đó Nguyên Thủ Nhà Nước được biết dưới danh hiệu Khalifat Rasul Allah – Người Kế Tục Sứ Giả của Thượng Đế – hoặc kha-lip. Abu Bakr có thể đã dùng tước vị này nhưng không có chứng cứ là nó được sử dụng một lần nữa 70 năm sau trong thời cai trị của Abd al-Malik. Sau đó nó được áp dụng ngược thời gian: bốn nhà cai trị đầu tiên giờ được biết dưới danh hiệu Các Kha-lip Công chính.

 

Lãnh thổ của Muhammad lung lay sau khi ông qua đời, nhưng Abu Bale xoay sở vỗ yên được. Rồi ông quay về đế chế Byzantine và Ba Tư, mà người Hồi giáo coi như hết thời, đầy tội lỗi và bại hoại. Vị Chỉ huy phái những toán chiến binh cưỡi trên lưng lạc đà cướp phá Iraq và Palestine.

 

KHALID IBN WALID: THANH GƯƠM HỒI GIÁO

Đâu đó gần Gaza, ‘xảy ra một trận đánh giữa quân La Mã và đạo quân du mục của Muhammad và quân La Mã thua chạy’, Trưởng Lão Thomas viết. Ông là một sử gia độc lập đầu tiên người Cơ đốc trong năm 640 đề cập đến vị Tiên Tri. [1] Hoàng đế Heraclius, vẫn còn ở Syria, chuẩn bị đập tan đạo quân Ả Rập này đang yêu cầu Abu Bakr viện binh. Ông này liền cử vị tướng xuất sắc nhất của mình, Khalid bin Walid, đang cướp phá Iraq. Cưỡi ngựa băng qua sa mạc không nước sáu ngày liền, Khalid đến Palestine vừa đúng lúc.

Khalid là một quí tộc ở Mecca đã chiến đấu chống Muhammad nhưng cuối cùng ông cải đạo, nhà Tiên Tri chào đón vị chỉ huy năng động này và gọi ông là Thanh Gươm Hồi Giáo. Khalid là loại tướng quân ngang tàng ít quan tâm đến các mệnh lệnh từ những chủ nhân chính trị của mình. Loạt sự kiện tiếp theo không có gì rõ ràng, chỉ biết ông tiếp tay với các chỉ huy quân sự Ả Rập khác, nắm quyền tư lệnh và sau đó đánh bại một phân đội Byzantine ở phía tây-nam Jerusalem trước khi ào ạt tiến đánh Damascus. Xa về phía nam ở Mecca, Abu Bakr mất và được Omar, một trong những người cải đạo đầu tiên và người tin cẩn nhất của nhà Tiên Tri, lên kế vị. Vị Chỉ huy các Tín hữu mới không tin cậy Khalid, vì ông này đang thâu tóm của cải, và một huyền thoại. Ông cho gọi ông này về Mecca, và bảo, ‘Này Khalid, hãy lấy của cải ngươi ra khỏi cái mông của chúng tôi.’

Heraclius phái một đạo quân ra ngăn chặn quân Ả Rập. Omar bổ nhiệm một chỉ huy mới, Abu Ubayda, và Khalid trở lại quân đoàn làm phó cho ông ta. Sau nhiều tháng đột kích, người Ả Rập cuối cùng dụ được quân Byzantine đến đánh nhau với mình giữa những khe vực hiểm trở trên sông Yarmuk giữa Jordan, Syria và Israëli Golan ngày nay. ‘Đây là một trong những trận đánh của Thượng Đế,’ Khalid bảo với quân sĩ mình – và vào ngày 20/8/636, Thượng Đế giáng một cơn bão bụi làm mù mắt những bình sĩ Cơ đốc khiến họ kinh hoảng và tháo chạy tán loạn và rơi xuống bờ vực của sông Yarmuk. Khalid cắt đứt đường rút lui của địch, quân Cơ đốc quá kiệt sức đến nỗi người Ả Rập thấy họ nằm dài trên đất trùm kín áo choàng sẵn sàng đợi chết. Thậm chí em trai của Hoàng đế cũng tử trận và chính Heraclius cũng không bao giờ hồi phục sau cuộc thảm bại này, một trong những trận đánh quyết định của lịch sử, đánh mất Syria và Palestine. Nền cai trị Byzantine, vốn đã yếu đi sau chiến tranh với Ba Tư, dường như đã sụp đổ và không rõ có phải cuộc chinh phục của người Ả Rập không chỉ là một loạt những trận cướp phá thắng lợi. Cuộc chinh phục thực sự khốc liệt này là một thành tựu đáng kinh ngạc khi những đạo quân nhỏ các chiến binh Ả Rập cưỡi lạc đà, một số chỉ có 1,000 quân, đã đập tan các quân đoàn Đông La Mã. Nhưng vị Chỉ huy các Tín hữu không nghỉ ngơi; ông phái một đạo quân tiến về bắc để chinh phục Ba Tư và Ba Tư thất thủ.

Ở Palestine, một mình Jerusalem cầm cự dưới sự chỉ huy của Giáo trưởng Sophronius, một nhà trí thức Hy Lạp. Ông khó có thể tin là tai họa đã giáng xuống những người Cơ đốc. Giảng trong Nhà Thờ Mộ Thánh, ông vạch trần những tội lỗi của tín đồ Cơ đốc và sự tàn bạo của người Ả Rập mà ông gọi là Saracen: ‘Từ đâu xuất phát những cuộc chiến chống lại chúng ta? Từ đâu những cuộc xâm lăng man rợ này sinh sôi? Bọn Saracen vô thần nhớp nhúa này đã chiếm Bethlehem. Bọn Saracen đã trỗi dậy chống chúng ta với một sức mạnh của dã thú vì tội lỗi chúng ta. Chúng ta hãy răn sửa mình.’

Nhưng điều đó đã quá muộn. Quân Ả Rập cùng hướng về thành phố mà họ gọi là Ilya (tên La Mã là Aelia). Người đầu tiên trong số chỉ huy vây hãm Jerusalem là Amr ibn al-As, vị tướng thuộc quí tộc Mecca xuất sắc nhất chỉ sau Khalid. Amr, như những nhà lãnh đạo Ả Rập khác, hiểu rất rõ vùng đất này: ông thậm chí còn sở hữu đất đai ở gần đó và đã thăm viếng Jerusalem khi còn trẻ. Nhưng đây không chỉ là việc tìm kiếm chiến lợi phẩm.

‘Giờ khắc đã đến gần,’ Kinh Koran dạy. Tính cuồng tín hùng hăng của những Tín hữu thuở đầu được đốt cháy bởi niềm tin của họ vào Ngày Phán Xét. Kinh Koran không nói rõ điều này nhưng họ biết từ các nhà tiên tri Do Thái- Cơ đốc rằng nó phải xảy ra ở Jerusalem. Nếu Giờ Khắc đến với họ thì họ cần Jerusalem.

Khalid và các tướng lãnh khác bắt tay với Amr bao quanh tường thành nhưng các quân đoàn Ả Rập ắt hẳn quá nhỏ để có thể tràn vào thành phố và hình như không có đánh nhau nhiều. Sophronius thẳng thừng từ khước đầu hàng nếu không có sự bảo đảm khoan dung từ chính vị Chỉ huy các Tín hữu. Amr đề nghị giải quyết vấn đề này bằng cách mạo danh Khalid là vị Chỉ huy nhưng có người nhận ra ông vì thế Omar phải đích thân từ Mecca xuống Jerusalem.

Vị Chỉ huy thanh sát lực lượng còn lại của quân đội Ả Rập tại Jabiya ở Golan và ắt hẳn người Jerusalem đã gặp ông ở đó để thỏa thuận việc đầu hàng. Các người Cơ đốc Nhất Thể, chiếm đa số ở Palestine, căm thù người Byzantine và dường như những Tín hữu Hồi giáo buổi đầu sung sướng cho phép các anh em độc thần được thờ phụng tự do.

Những người Hồi giáo đầu tiên tự xưng mình là ‘Tín hữu’ – từ này xuất hiện 1,000 lần trong Koran trong khi từ ‘Người Hồi giáo’ xuất hiện chỉ 75 lần – và như chúng ta sẽ nhìn thấy ở Jerusalem, họ chắc chắn chưa tỏ ra căm thù với anh em độc thần của mình, Cơ đốc hay Do TháiGiáo sưFred M. Donner,một học giả uy tín về Hồi giáo buổi đầu, đi xa hơn: ‘Không có lý do để tin rằng’, ông viết, ‘các Tín hữu xem mình là tín ngưỡng mới hoặc riêng biệt. Một số Tin hữu buổi đầu là người Cơ đốc hoặc Do Thái.’!

Theo Kinh Koran, Omar giao cho Jerusalem một Giao ước Đầu hàng hứa hẹn sẽ khoan dung tôn giáo cho tín đồ Cơ đốc đổi lại họ phải nộp thuế quy phục. Sau khi việc này được thỏa thuận, Omar lên đường đến Jerusalem, một đại nhân trong bộ y phục vá víu và rách rưới cưỡi lừa, theo sau chỉ có một người hầu.

 

OMAR CÔNG CHÍNH: ĐỀN THỜ LẤY LẠI ĐƯỢC

Khi nhìn thấy Jerusalem từ Núi Scopus, Omar ra lệnh chomuezzincủa mình loan báo lễ cầu nguyện. Sau khi cầu nguyện, ông vận sắc phục trắng của khách hành hương, cưỡi lên lưng lạc đà và đi đến gặp Sophronius. Các giáo sĩ Byzantine theo thứ bậc nghênh đón nhà chinh phục, trang phục đính ngọc đá của họ tương phản với y phục giản dị thuần khiết của ông. Omar, vị Chỉ huy các Tín hữu to con, thời trẻ từng là một võ sĩ đấu vật, là một nhà khổ hạnh cứng rắn luôn mang theo bên mình một cây roi. Người ta kháo nhau rằng khi Muhammad bước vào phòng, đàn bà trẻ con vẫn tiếp tục cười nói, nhưng khi họ nhìn thấy Omar mọi người đều im bặt. Chính ông là người đầu tiên kết tập Kinh Koran, tạo ra lịch Hồi giáo và nhiều luật Hồi giáo. Ông áp đặt những luật lệ hà khắc cho phụ nữ hơn cả nhà Tiên Tri. Khi còn trai ông say rượu, Omar phạt anh 80 roi khiến anh mất mạng.

Sophronius trình cho Omar chùm chìa khóa của Thành phố Thánh. Khi giáo trưởng trông thấy Omar và đám Ả Rập rách rưới cưỡi lạc đà và ngựa, ông lẩm bẩm đây đúng là ‘nỗi gớm ghiếc của sự tàn phá’. Hầu hết họ là người của bộ tộc Hea hoặc Yemen; họ hành quân nhẹ và nhanh, phủ áo choàng và đội khăn xếp, sống bằngilhiz (lông lạc đà xay nhuyễn trộn với máu rồi nấu lên). Thật khác xa với kỵ binh áo giáp nặng của Ba Tư và Byzantine, chỉ có chỉ huy mới được mặc áo giáp khoen sắt và đội mũ sắt. Phần còn lại ‘cưỡi những con ngựa lùn mập rậm lông, các thanh gươm sáng bóng nhưng đựng trong bao gươm tồi tàn’. Họ mang cung và giáo buộc bằng gân lạc đà, và khiên đỏ bằng da bò trông giống ‘một ổ bánh mì đỏ dày’. Họ yêu quí những thanh gươm to bản, nhữngsayfcủa họ, đặt tên cho chúng và hát lên những bài thơ về chúng.

Tự hào về vẻ luộm thuộm của mình, họ kết ‘bốn lọn tóc’ đứng lên trông như ‘sừng dê’. Khi họ bắt gặp những tấm thảm của bọn nhà giàu, họ phóng ngựa đến và cắt chúng ra từng miếng để làm túi đựng giáo, hưởng thụ chiến lợi phẩm – người hay vật dụng – như bất kỳ bọn chinh phục nào. ‘Thình lình, tôi cảm nhận được hình dáng con người trốn dưới vải che,’ một người trong bọn họ viết lại. ‘Tôi giật phắt vải che và biết tôi tìm được gì không? Một phụ nữ như một con linh dương, tỏa sáng như mặt trời. Tôi đem cô ta và quần áo cô ta về nộp như chiến lợi phẩm và kèm theo đơn yêu cầu xin được chia cô gái cho mình. Tôi lấy cô làm hầu thiếp.’ Quân đội Ả Rập không có lợi thế về kỹ thuật, nhưng họ hùng mạnh nhờ khí thế cuồng tín.

Sophronius, theo tư liệu Hồi giáo, được viết sau đó khá lâu, hộ tống Chỉ huy Saracen đến Mộ Thánh, hi vọng vị khách quí của mình sẽ khâm phục hoặc thậm chí ngã theo tín ngưỡng thiêng liêng hoàn hảo của Cơ đốc giáo. Khi tênmuezzincủa Omar loan báo cho binh sĩ đến giờ cầu nguyện, Sophronius mời vị Chỉ huy cầu nguyện ở đó, nhưng ông đã từ chối, cảnh giác rằng việc này sẽ biến nó thành nơi tôn thờ của đạo Hồi. Omar biết rằng Muhammad vốn tôn kính David và Solomon. ‘Hãy dẫn ta đến điện thờ David,’ ông ra lệnh cho Sophronius. Ông và các chiến binh của mình đi vào Núi Đền, ắt hẳn qua Cổng Tiên Tri ở phía nam, và thấy nó bị ô nhiễm vì ‘một đống phân mà người Cơ đốc đã đặt ở đấy nhằm xúc phạm người Do Thái.’

Omar yêu cầu xem Nơi Chí Thánh. Một giáo sĩ Do Thái đã cải đạo, Kaab al-Ahbar, trả lời rằng, nếu Chỉ huy bảo tồn ‘tường thành’ (có lẽ chỉ đến những tàn tích tường thành Herod cuối cùng, bao gồm Bức Tường Phía Tây), ‘tôi sẽ tiết lộ với ông ta đống đổ nát của Đền Thờ ở đâu.’ Kaab chỉ cho Omar tảng đá nền móng của Đền Thờ, tảng đá mà người Ả Rập gọi làSakhra.

Được binh lính hỗ trợ, Omar bắt đầu dọn dẹp những gạch vụn để tạo thành nơi cầu nguyện. Kaab đề nghị ông đặt nơi cầu nguyện về phía bắc của đá nền móng ‘như thế ngài sẽ được haiqibla (hướng cầu nguyện)một của Moses và một của Muhammad.’ Omar được cho là đã trả lời Kaab, ‘Như thế là ngươi còn nghiêng về phía Do Thái,’ và ông quyết định đặt nhà cầu nguyện đầu tiên của mình ở phía nam tảng đá, gần đúng với vị trí của Thánh đường Hồi giáo al-Aqsa ngày nay. Omar đã đi theo ước muốn của Muhammad là qua mặt đạo Cơ đốc để phục hồi và kết nạp nơi thánh tích cổ xưa này, khiến cho người Hồi giáo trở thành người kế thừa hợp pháp của thánh tính Jerusalem và như vậy tỏ ra khôn ngoan hơn người Cơ đốc.

Những câu chuyện về Omar ở Jerusalem có niên đại từ hơn một thế kỷ về sau khi Hồi giáo đã chính thức hoá những nghi thức theo những cách rất khác biệt với những nghi thức Cơ đốc và Do Thái. Vậy mà câu chuyện về Kaab và những người Do Thái khác, mà sau này tạo nên truyền thống văn học Hồi giáoofIsrailiyyat, phần nhiều viết về sự vĩ đại của Jerusalem, chứng tỏ nhiều người Do Thái và có thể cả người Cơ đốc đều gia nhập đạo Hồi. Chúng ta sẽ không bao giờ hiểu chính xác những gì xảy ra trong những thập niên đầu tiên đó nhưng những cách sắp xếp khả thoải mái ở Jerusalem và nơi khác ngụ ý là có thể có một khối lượng đáng kinh ngạc những pha trộn và chia sẻ giữa các Dân tộc của Kinh thánh.

Các nhà chinh phục Hồi giáo lúc đầu sung sướng vì chia sẻ điện thờ với người Cơ đốc. Ở Damascus, họ chia sẻ Nhà Thờ St John nhiều năm liền. Ở Jerusalem, cũng có những ghi chép về sự chia sẻ các nhà thờ. Nhà thờ Cathisma bên ngoài thành phố thực sự có trang bị một hốc cầu nguyện Hồi giáo. Trái với truyền thuyết về Omar, hình như những người Hồi buổi đầu đầu tiên cầu nguyện bên trong hay bên cạnh Nhà Thờ Mộ Thánh trước khi tiến hành những sắp xếp trên Núi Đền.

Người Do Thái cũng hoan nghênh người Ả Rập sau nhiều thế kỷ bị chế độ Byzantine áp bức. Người ta nói rằng người Do Thái, cũng như người Cơ đốc, cưỡi ngựa trong hàng ngũ quân đội Hồi giáo. Mối quan tâm của Omar về Núi Đền dễ hiểu đã dấy lên niềm hi vọng Do Thái, vì vị Chỉ huy các Tín hữu không chỉ mời người Do Thái duy trì Núi Đền mà còn cho phép họ cầu nguyện ở đó chung với người Hồi. Một giám mục người Armenia thạo tin tên Sebeos, thuật lại, 30 năm sau đó, rằng ‘người Do Thái có kế hoạch xây dựng Đền Thờ Solomon và, định vị Nơi Chí Thánh, họ xây dựng (Đền Thờ) không có bệ’ – và nói thêm là thống đốc đầu tiên của Jerusalem thời Omar là người Do Thái. Omar chắc chắn có mời nhà lãnh đạo của cộng đồng Hồi giáo xứ Tiberias, Gaon, và 70 gia đình Do Thái trở về Jerusalem nơi họ định cư trong vùng phía nam của Núi Đền.

Văn bản truyền thống về Giao ước hoặc Hiệp ước giữa Omar và người Cơ đốc tuyên bố rằng Omar đồng ý đuổi người Do Thái ra khỏi Jerusalem. Đây là lối suy nghĩ thể hiện ước muốn của người Cơ đốc hoặc là một sự bịa đặt sau này vì chúng ta biết rằng Omar nghênh đón người Do Thái trở lại Jerusalem, rằng ông và những kha-lip buổi đầu cho phép người Do Thái thờ cúng trên Núi Đền và rằng người Do Thái sẽ không bỏ đi chừng nào mà Hồi giáo còn nắm quyền. Người Armenia đã là một cộng đồng Cơ đốc lớn ở Jerusalem có giám mục riêng (sau này là giáo trưởng). Họ thiết lập những mối liên hệ thân cận với người Hồi và công nhận Giao ước riêng của mình. Suốt 1,500 năm sau, người Do Thái và Cơ đốc vẫn còn là nhữngdhimmi,người của Giao ước, được khoan dung nhưng thấp kém, thỉnh thoảng được để yên, có khi bị bức hại một cách tàn nhẫn.

 

Jerusalem vẫn còn nghèo khổ và dịch bệnh hoành hành sau những vụ cướp phá của quân Ba Tư và người Cơ đốc vẫn còn là đa số áp đảo nhiều năm liền. Omar cũng định cư người Ả Rập ở đây, nhất là người Quraysh lịch lãm hơn thích sống ở Palestine và Syria, mà họ gọi là Bilad al-Shams. Một số tín đồ thân cận nhất của Nhà Tiên Tri, được biết dưới tên Nhóm Đồng hành, đến Jerusalem và được chôn cất trong nghĩa trang Hồi đầu tiên ngay bên ngoài Cổng Vàng, sẵn sàng cho Ngày Phán Xét. Hai Gia tộc Jerusalem tiếng tăm, đóng một vai trò nổi bật trong câu chuyện này ngay tận thế kỷ 21, thuộc dòng dõi những những nhà vọng tộc Ả Rập sớm nhất này.

Ở Jerusalem, Omar được tháp tùng không chỉ bởi các tướng quân Khalid và Amr của ông mà còn bởi một chàng trai trẻ ham vui nhưng có năng lực thật khác một trời một vực với vị Chỉ huy cầm roi da. Muawiya ibn Abi Sufyan là con trai của Abu Sufyan, nhà quí tộc Mecca đã cầm đầu lực lượng chống lại Muhammad. Mẹ của Muawiya từng ăn gan của Hamza, chú Nhà Tiên Tri sau Trận Uhuh. Khi Mecca đầu hàng người Hồi, Muhammad bổ nhiệm Muawiya làm thư ký của mình và cưới chị gái ông. Sau khi Muhammad mất, Omar chỉ định Muawiya làm thống đốc Syria. Chỉ huy ban cho ông một lời khen ngợi bất ngờ: Muawiya, òng nói, là ‘Caesar của người Ả Rập’.

❀ ❀ ❀

[1] Lịch sử buổi đầu của Hồi giáo, trong đó có việc Jerusalem đầu hàng, là bí ẩn và gây tranh cãi. Những sử gia Hồi giáo ưu việt viết sau đó một hay hai thế kỷ và ở xa Jerusalem lẫn Mecca: Ibn Ishaq, nhà viết tiểu sử đầu tiên về Muhammad, viết ở Baghdad, chết năm 770; al-Tabari, al-Baladhuri và al-Yaqubi tất cả đều sống vào cuối thế kỷ 9 ở Ba Tư hoặc Iraq.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.