Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 46
Chương 46

❊ ❊ ❊

THỊ TRƯỞNG TÌM CÁCH ĐẦU HÀNG

Allenby chiếm Gaza vào ngày 7/11/1917; Jaffa thất thủ ngày 16. Tình cảnh ở Jerusalem thật là tuyệt vọng. Jemal Đao Phủ, cai trị các tỉnh lỵ từ Damascus, đe doạ một Götterdämmerung (tên một bản giao hưởng của Wagner, có nghĩa sự hủy diệt thảm khốc) ở Jerusalem. Trước tiên y ra lệnh trục xuất tất cả giáo sĩ Cơ đốc. Các tòa nhà Cơ đốc, kể cả Tu viện St Saviour, đều bị mìn đánh sập. Các giáo trưởng được chở đến Damascus nhưng Đại tá von Papen, một người Thiên chúa, giải cứu giáo trưởng Latinh và giữ ông ở Nazareth. Jemal treo cổ hai gián điệp Do Thái ở Damascus, rồi y tuyên bố trục xuất mọi người Do Thái ở Jerusalem: để không còn người Do Thái nào ở lại để tiếp đón người Anh. Người Đức, giờ đang kiểm soát Jerusalem, tỏ ra rất bực bội. Những đe doạ bài Do Thái của Jemal thật điên cuồng và Tướng Kress can thiệp ở cấp cao nhất để giải cứu người Do Thái. Đây là vụ dính líu cuối cùng của Jemal ở Jerusalem.

Jemal trở lại Istanbul vào năm 1917, nhưng khi Ottoman đầu hàng vào năm sau y bay đến Berlin, tại đó y viết hồi ký. Y bị người Armenia ám sát vào năm 1922 để trả thù cho việc diệt chủng người Armenia, cho dù y đã tuyên bố việc trục xuất người Armenia sẽ gây ra thảm cảnh lớn lao.’ Talaat cũng bị ám sát; Envers thì tử trận, dẫn đến sự nổi dậy của người Thổ chống chính quyền Bôn-se-vich ở vùng Trung Á.

 

Vào ngày 25/11, Allenby chiếm Nabi Samuel ngay bên ngoài Thành phố Thánh. Người Đức không biết phải làm gì. ‘Tôi xin Falkenhayn di tản khỏi Jerusalem – thành phố không có giá trị về mặt chiến lược’, Papen nhớ lại. ‘Tôi đã thua trận Verdun,’ Falkenhayn la lên, ‘và giờ anh yêu cầu tôi đi tản khỏi thành phố vốn là tâm điểm chú ý của cả thế giới. Không thể nào!’ Papen gọi điện cho đại sứ minh ở Constantinople, và ông này hứa sẽ nói chuyện với Enver.

Máy bay Anh bỏ bom bộ chỉ huy Đức tại Augusta Victoria và trưởng phòng tình báo của Allenby ném xuống thuốc điếu ma túy cho binh lính Ottoman, hy vọng họ sẽ phê không thể phòng thủ Jerusalem được. Dân tị nạn ùa ra ngoài thành phố. Gỡ xuống chân dung của Kaiser khỏi Nhà nguyện Augusta Victoria, Falkenhayn cuối cùng phải bỏ thành phố và di chuyển bộ chỉ huy đến Nablus. Máy bay Anh và Đức quần thảo nhau trên bầu trời Jerusalem. Súng cối nã đạn vào vị trí của kẻ thù; quân Ottoman phản công Nabi Samuel ba lần; cuộc chiến đấu ác liệt kéo dài đến 4 ngày. Vào ngày 4/12, máy bay Anh ném bom bộ chỉ huy Ottoman đóng trong Phức hợp Nga. Ở Khách sạn Fast, các sĩ quan Đức uống đến chai rượuschnappscuối cùng và cười nói cho đến phút chót, trong khi các tướng Ottoman bàn luận nên đầu hay nên chiến; nhà Husseini họp bí mật trong lâu đài của họ. Quân Thổ bắt đầu đào ngũ. Hàng đoàn xe chở lính bị thương và xác chết không toàn thây rùn rùn chạy qua đường phố.

Buổi chiều ngày 7/12, những binh sĩ Anh đầu tiên đã nhìn thấy Jerusalem. Một màn sương mù buông xuống thành phố; mưa che kín đồi. Sáng hôm sau, Thống đốc Izzat Bey đập nát các bộ phận điện đài bằng búa, trao văn kiện đầu hàng cho thị trưởng, ‘mượn’ một xe song mã của khu Thuộc địa Mỹ mà ông thề sẽ trả lại, và phóng đi về hướng Jericho. Suốt đêm hàng ngàn lính Ottoman lê lết qua thành phố và bước ra khỏi lịch sử. Lúc 3 giờ sáng ngày 9, các lực lượng Đức rút khỏi thành phố. Người Thổ cuối cùng rời Cổng St Stephen lúc 7 giờ sáng. Lúc 8.45 sáng, những binh sĩ Anh tiến gần Cổng Zion.

Hussein Husseini, Thị trưởng Jerusalem, dáo dác tìm miếng vải trắng. Một phụ nữ đưa cho ông một áo blu trắng, nhưng ông thấy không thích hợp. Vì thế Husseini cuối cùng mượn một tấm khăn trải giường của khu Thuộc địa Mỹ, rồi ông buộc vào một cán chổi dài. Tập hợp một phái đoàn có vài người nhà Husseini, họ lên ngựa và xuất phát qua cổng Jaffa, vừa đi vừa vung vẫy lá cờ buồn cười này.

Người Jerusalem sau đó tìm gặp hai sĩ quan pháo binh Anh hướng dẫn họ đến bộ chỉ huy. Tại đó họ gặp Trung tá Bayley, đưa họ đến gặp Chuẩn tướng C. F. Người này báo cho Trung tướng John Shea chỉ huy Sư đoàn 160. Shea chấp nhận việc đầu hàng nhân danh Tướng Allenby, và vị tướng nhận được tin báo trong lều của mình gần Jaffa khi đang trao đổi với Lawrence.

 

 

 

ALLENBY BÒ TÓT: GIÂY PHÚT TỘT CÙNG

Súng vẫn nổ rền khi Tướng Sir Edmund Allenby đi xuống Đường Jaffa để đến Cổng Jaffa. Ở London, thủ tướng hớn hở. Trong tuyên bố sau đó vài ngày, ông phát biểu: Việc chiếm được Jerusalem đã tạo nên một ấn tượng sâu sắc nhất trong khắp thế giới văn minh. Thành phố tiếng tăm nhất trên thế giới, sau nhiều thế kỷ xung đột và tranh đấu vô ích, đã rơi vào tay quân đội Anh, không bao giờ được trả lại cho những người đã giữ nó quá thành công chống lại những chủ nhân sẵn sàng chiến đấu của giáo triều Cơ đốc. Tên của mỗi ngọn đồi vọng về những ký ức thiêng liêng.’

Văn phòng ngoại giao điện cho Allenby tránh bất cứ hành động khoa trương như vua chúa hoặc thần thánh khi bước vào thành phố: ‘KHUYẾN CÁO TRIỆT ĐỂ XUỐNG NGỰA!’ Vị tướng bước qua cổng, theo sau là các đại diện Mỹ, Pháp và Ý và được theo dõi bởi tất cả giáo trưởng, giáo sĩ Do Thái, thủ lĩnh Hồi giáo và lãnh sự, và được Thị trưởng Jerusalem đón tiếp trong tiếng khóc vui sướng và chúc tụng lẫn nhau.

Allenby được Lawrence xứ Arabia tháp tùng. Anh vừa sống sót trong một chấn thương đau đớn nhất trong đời mình. Vào cuối tháng 11, trong một cuộc trinh sát phía sau chiến tuyến địch, anh đã bị bắt tại Deraa ở Syria bởi tên thống đốc bạo dâm Ottoman Hajim Bey, người cùng với các tay sai của mình đã dỡ trò hiếp dâm đồng tính đối với chàng trai Anh. Lawtence tìm cách trốn thoát và dường như đã phục hồi về mặt thể chất nhưng chấn thương tâm lý vẫn còn ăn sâu và, sau chiến tranh, anh mô tả mình có cảm giác như ‘bị thương tật, bất toàn, chỉ còn phân nửa là chính mình. ‘Ắt hẳn là do tinh thần bị phá vỡ bởi sự đau đớn đập nát thần kinh đã nhấn đạp tôi xuống ngang hàng với súc vật và đã đi theo tôi suốt từ đó.’ Khi anh đến được Aqaba sau cuộc đào thoát, Allenby cho gọi anh đến ngay khi Jerusalem thất thủ.

Allenby nước lên bậc thang lên bục đọc lời tuyên bố về ‘Jerusalem được Ban Phước’, sau đó được dịch ra tiếng Pháp, Ả Rập, Do Thái, Hy Lạp, Nga và Ý – cẩn thận không đề cập đến từ đang lởn vởn trong đầu óc mọi người: Thập Tự Chinh. Nhưng khi cuối cùng Thị trưởng Husseini trao cho ông chùm chìa khóa của thành phố Allenby được cho là đã nói: ‘Các cuộc Thập Tự Chinh đã kết thúc.’ Thị trưởng và thủ lĩnh tôn giáo Hồi bỏ đi một cách giận dữ.

Sau đó, Lawrence nhớ lại, tại buổi cơm trưa ở bộ chỉ huy của Tướng Shea, đại diện Pháp Picot đưa ra yêu cầu chia phần Jerusalem cho Pháp. Y nói với Allenby, ‘Và ngày mai, thưa tướng quân, tôi sẽ chuẩn bị những bước cần thiết để dựng lên chính quyền dân sự trong thị trấn này.’

Một phút im lặng sau đó, rồi mặt Allenby bổng đỏ lên, ông nuốt vội thức ăn còn trong miệng, cằm ông nhô ra trước rồi nói rít: ‘Quyền hành duy nhất là quyền hành của Tổng Tư lệnh – CHÍNH LÀ TÔI!’

Lawrence bay về với Faisal và Lữ đoàn Lạc đà Sherif. Người Pháp và Ý được phép chia sẻ nhiệm vụ canh gác tại Mộ Thánh, nhưng trách nhiệm khóa và mở cửa Nhà Thờ, như luôn luôn, là của nhà Nuiseibeh và chức việc này có tính kế thừa.[1] Allenby cắt đặt binh sĩ Hồi gốc Ấn canh gác Núi Đền.

Sau khi được Vua George V tiếp kiến ở London, Weizmann đến Thành phố Thánh với Ủy ban Zionist của ông, được sự phụ tá của Vladimir Jabotinsky, một nhà dân tộc chủ nghĩa khoa trương và một trí thức thạo đời từ Odessa nơi ông đã tổ chức nhóm dân quân Do Thái để kháng cự lại những vụ pogrom.

Sự tiến công của Allenby dừng lại ngay phía bắc Jerusalem. Người Ottoman không khi nào chịu kết thúc ở Palestine, và ông mất gần một năm để tập kết lực lượng tiến hành tiếp cuộc tiến quân, vì thế Jerusalem trở thành thành phố ở tuyến đầu, đông nghịt các binh lính Anh và thuộc địa sẵn sàng xông tới. Người Sherif dưới quyền chỉ huy của Lawrence và Faisal, chực chờ cơ hội để đánh chiếm Damascus – và phá hỏng các tham vọng của Pháp.

Jerusalem loè loẹt và băng giá; dân số đã giảm xuống 30,000 người kể từ 1914 chỉ còn khoảng 55,000; nhiều người còn chết vì đói và sốt rét, bị hành hạ bởi bệnh giang mai (thành phố lũ lượt 500 gái điếm vị thành niên Do Thái); có 3,000 trẻ mồ côi Do Thái.

Trong quán cà phê ở Cổng Jaffa, người Ả Rập và Do Thái luận bàn về tương lai Palestine. Bên phía Do Thái chính kiến đi từ siêu Chính thống vốn khinh bỉ người Zionist báng bổ, qua những dự kiến về những thuộc địa Do Thái tích hợp đầy đủ trên khắp Trung Đông do người Ả Rập cai trị, đến những chính kiến dân tộc chủ nghĩa cực đoan mong muốn một nhà nước Do Thái vũ trang cai trị một thiểu số Ả Rập thuần phục. Chính kiến Ả Rập thay đổi từ những người cơ yếu chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa Hồi muốn trục xuất người Do Thái nhập cư, đến những người cấp tiến dân chủ chào đón sự hỗ trợ của người Do Thái để xây dựng một nhà nước Ả Rập. Những trí thức Ả Rập thảo luận liệu Palestine là một bộ phận của Syria hay của Ai Cập.

Vào ngày 20/12 1917, Sir Ronald Storrs đến nhận nhiệm vụ thống đốc quân sự của Jerusalem – hoặc theo lời ông, ‘tương đương với Pontius Pilate’.

❀ ❀ ❀

[1] Khi người nhà Nusseibeh dẫn Allenby đi quanh Nhà Thờ, họ kể rằng ông ta có hỏi về chìa khóa. Ông ta nói, ‘Giờ thời Thập Tự Chinh đã qua, tôi gửi lại ông chùm chìa khóa nhưng chúng không phải của Omar hay Saladin mà là của Allenby. Câu chuyện này do Hazem Nusseibeh, ngoại trưởng Jordan trong những năm 1960 trong hồi ký của ông, xuất bản 2007.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.