NGÀI STORRS ĐÔNG PHƯƠNG: NHÀ ĐỘC TÀI TỐT BỤNG:
Storrs không phải là một viên chức Phòng Thuộc địa trung bình. Ông là con một cha sở và theo học ngành văn hóa cổ đại ở Cambridge với một quan điểm quốc tế đáng kinh ngạc.
Lawrence, bạn của Storrs, nhớ đã từng nghe Storrs thảo luận về tài năng của nhà soạn nhạc Wagner và Debussy bằng tiếng Ả Rập, Đức và Pháp. Vị thống đốc quân sự bất thường này lên đường phục hồi một Jerusalem tơi tả.
Trong vòng chỉ một ít tháng, Storrs thành lập Hiệp hội Thân Jerusalem, do nhà buôn bán vũ khí người Armenia Sir Basil Zaharoff và các triệu phú Mỹ Bà Andrew Carnegie và J. P. Morgan Jr, bảo trợ. Mục tiêu của hội là ngăn cản Jerusalem trở thành ‘một Baltimore hạng hại’. (Baltimore là thành phố của bang Maryland, nổi tiếng vì có nhiều tội phạm).
Storrs nhận thấy những chiến thuật của người Zionist ‘là một cơn ác mộng, phản ánh tục ngữ Thổ: “đứa trẻ không khóc không được cho bú sữa”‘. Người Zionist sớm nghi ngờ ông không cảm tình với họ. Nhiều người Anh khinh khi Jabotinsky và những người Do Thái Nga đi nghênh ngang khắp Jerusalem trong bộ đồ kaki bán quân sự, họ xem Tuyên bố Balfour là không thể thực thi.
Mặc dù người Ả Rập đánh động về Tuyên bố Balfour, Jerusalem vẫn yên tĩnh trong hai năm. Storrs giám sát việc tu sửa tường thành và Vòm Đá, lắp đèn đường, thành lập Câu lạc bộ Cờ và phá nổ tháp canh ở Cổng Jaffa của Abdul-Hamid. Ông thậm chí thành lập một ban đồng ca các nữ tu do chính ông điều khiển, và ra sức làm trung gian những vụ tranh chấp trong Nhà Thờ, bám sát vào cách phân chia nhiệm vụ năm 1852 của sultan. Việc này làm phe Chính thống mãn nguyện nhưng không vừa lòng phe Thiên chúa. Khi Storrs thăm Vatican, giáo hoàng lên án ông làm ô nhiễm Jerusalem bằng cách tổ chức việc chiếu phim thế tục và dung túng 500 gái mãi dâm. Người Anh không bao giờ xoay sở giải quyết được những thâm thù nhỏ nhặt diễn tiến trong vòng lẩn quẩn.
Vị thế thực sự của Palestine, không nói chi đến Jerusalem, còn lâu mới được xác định. Picot một lần nữa thúc đẩy quyền người Pháp ở Jerusalem.
Khi thị trưởng đột ngột qua đời vì bệnh sưng phổi (có lẽ ông nhiễm bệnh do đi mưa qua nhiều), Storrs bổ nhiệm em trai ông, Musa Kazem al-Husseini, thay thế. Vị thị trưởng mới ấn tượng này, đã từng giữ chức thống đốc các tỉnh lỵ Ottoman từ Anatolia đến Jaffa, dần dần nắm quyền lãnh đạo chiến dịch chống người Zionist. Cư dân Jerusalem Ả Rập đặt kỳ vọng của mình vào một vương quốc Đại Syria do ông hoàng Faisal cai trị, bạn của Lawrence. Tại Hội nghị đầu tiên các Hiệp hội Hồi-Cơ đốc, tổ chức ở Jerusalem, các đại biểu bầu để gia nhập Syria của Faisal. Người Zionist, vốn vẫn còn tin chắc một cách phi hiện thực là hầu hết người Ả Rập đồng thuận với việc định cư của họ, cố gắng làm giảm bớt mối lo sợ của dân bản địa. Người Anh cổ vũ những cử chỉ thân thiết từ cả hai bên. Weizmann đến gặp và trấn an vị đại mufti rằng người Do Thái sẽ không đe đọa đến quyền lợi Ả Rập, tặng ông ta một cuốn Kinh Koran cổ.
Vào tháng 6 1918, Weizmann đi qua sa mạc để gặp Faisal, có mặt Lawrence, tại căn cứ của ông gần Aqaba. Ông giải thích rằng người Do Thái sẽ phát triển xứ sở dưới sự bảo hộ của Anh. Bản thân Faisal nhìn thấy sự khác biệt lớn giữa điều mà Lawrence gọi là người Do Thái Palestine và người Do Thái thuộc địa: đối với Faisal điều quan trọng là người trước nói tiếng Ả Rập còn người sau nói tiếng Do Thái gốc Đức’. Faisal và Lawrence hy vọng nhà Sherif và Zionist có thể hợp tác để xây dựng vương quốc Syria. Lawrence giải thích: ‘Tôi coi người Do Thái như người nhập khẩu tự nhiên chất men Tây phương rất cần thiết cho những xứ vùng Cận Đông.’
Tại cuộc gặp thượng đỉnh ở ốc đảo, Faisal ‘công nhận tính khả thi của việc người Do Thái trong tương lai sẽ đòi lại lãnh thổ ở Palestine’. Sau đó, ba người lại gặp nhau lần nữa ở London, Faisal đồng ý Palestine có thể nhận ‘4-5 triệu người Do Thái miễn không vị phạm quyền lợi của giới nông dân Ả Rập. Lúc đó ông không nghĩ ở Palestine có tính trạng khan hiếm đất đai’, và tán thành sự hiện diện đa số Do Thái ở Palestine bên trong Vương quốc Syria – miễn là ông nhận được vương miện. Syria là phần thưởng và Faisal sung sướng để lấy được nó qua thỏa hiệp.
Chính sách của Weizmann bước đầu mang đến thành quả. Ông nói đùa rằng ‘một nhà nước Do Thái mà không có đại học giống như Monaco không có casino’, vì thế ngày 24 tháng 7 1918 Allenby chở ông trên chiếc Rolls-Royce lên Núi Scopus. Ở đó vị mufti, giám mục Giáo hội Anh, hai giáo trưởng Do Thái và chính Weizmann cùng nhau đặt những viên đá móng đầu tiên cho việc khởi công xây dựng Đại học Hebrew. Nhưng các quan sát viên nhận thấy vị mufti Hồi giáo trông rầu rĩ đến tận tâm can. Ở xa xa, tiếng đại bác Ottoman còn vọng lại khi các quan khách hát quốc ca Anh ‘Chúa Phù Hộ Nhà Vua’ và bài ca Zionist Hatikvah. ‘Bên dưới chúng tôi là Jerusalem,’ Weizmann nói, ‘lấp lánh như một viên ngọc.
Người Ottoman vẫn còn chiến đấu dữ dội ở Palestine, trong khi ở Mặt Trận phương Tây chưa có dấu hiệu của thắng lợi.
Chỉ đến tháng 9 1918 Allenby mới mở lại cuộc tấn kích, đánh bại quân Ottoman tại Trận Megiddo. Hàng ngàn tù binh Đức và Ottoman được giải qua. đường phố Jerusalem. Vào ngày 2/10, Allenby cho phép Faisal, Vua chỉ định của Syria, và Đại tá Lawrence giải phóng Damascus với quân Sherif. Nhưng, như Lawrence nghi ngờ, việc đưa ra quyết định thực sự bắt đầu từ một nơi rất xa. Lloyd George quyết tâm giữ lấy Jerusalem.
Cuối cùng Đức sụp đổ, và việc lốp bi đã bắt đầu. Vào ngày hiệp ước đình chiến được ký kết, 11/11, Weizmann, người được hẹn gặp trước diễn biến trọng đại này, bắt gặp Lloyd George khóc tại số 10 Phố Downing khi đang đọc Thánh Thi. Lawrence duyệt xét những viên chức ở London có khả năng hỗ trợ chính nghĩa Ả Rập. Faisal đang ở Paris để tìm kiếm sự hậu thuẫn của người Pháp cho kế hoạch của mình. Nhưng khi Pháp và Anh xung đột nhau về sự chia phần Miền Đông, Lloyd George phản kháng rằng chính người Anh đã chinh phục Jerusalem: ‘Những chính quyền khác chỉ cắt đặt một vài cảnh sát da đen để canh chừng chúng tôi ăn cắp Mộ Thánh.’

Tướng ‘Bò Tót’ Allenby (phải), và thống đốc quân sự Ronald Storrs (giữa) ăn mừng lễ 4 Tháng 7 tại khu Thuộc địa Mỹ vào năm 1918.

Đầu hàng, 1917: Hussein al-Husseini, thị trưởng Jerusalem (chính giữa, cầm gậy) đi đầu hàng người Anh với khăn trải giường gắn trên cán chổi