NHÀ HUSSEINI: CUỘC VÙNG DẬY CỦA NAQIB AL-ASHRAF VÀ VỤ GIẾT CHÓ
Các nông dân vũ trang cướp bóc đường phố. Pháp quan, được lực lượng đồn trú hậu thuẫn, phá ngục và nắm quyền chỉ huy Jerusalem. Trong một thời khắc kỳ lạ, thành phố bỗng thấy mình độc lập: pháp quan, đáp lại tiền hối lộ nhận được, bổ nhiệm Muhammad ibn Mustafa al-Husseini làm chỉ huy thành phố.
Husseini là tộc trưởng của dòng họ nổi tiếng từ lâu ở Jerusalem, đã vươn lên nhờ theo đuôi của dòng họ Farrukh cách đây một thế kỷ, nhưng ông ta cũng là Naqib al-Ashraf, gia trưởng của dòng họ hậu duệ của đấng Tiên Tri, qua đứa cháu Husseini của ông: chỉ có dòng họ Ashraf mới có thể mặc áo choàng xanh lá và được thưa gởi bằngSayyid.
Người Ottoman phái binh lính đàn áp phe nổi dậy đang hạ trại ngoài tường thành. Husseini cho thấy mình đã sẵn sàng cho cuộc vây hãm, và binh lính phải rút về Gaza. Bên trong Jerusalem, phe nổi dậy đã thay thế một tên độc tài này bằng một tên độc tài khác. Người Do Thái bị cấm mặc đồ trắng vào ngày Sabbath hoặc đội khăn xếp Hồi giáo hoặc đóng đinh trong giày họ; người Cơ đốc chịu những hạn chế ăn mặc tương tự; và cả hai phải nhường đường cho người Hồi khi đi trên phố. Những tiền phạt gây căm phẫn được thu bằng bạo lực. Một giáo phái về đấng cứu thế gồm 500 người Do Thái Ba Lan từ Grodno đến, do Judas the Pious cầm đầu, vừa mới đến thành phố. Nhưng giáo sĩ của họ vừa mới chết, và vì chỉ nói được tiếng Ba Lan và Do Thái, họ lâm vào hoàn cảnh khốn đốn. Chẳng bao lâu họ lâm vào cảnh nghèo khó.
Khi một con chó thất lạc lảng vảng đến Núi Đền, pháp quan bèn xuống lệnh giết hết chó ở Jerusalem. Để làm nhục, mỗi người Do Thái và Cơ đốc phải giao nộp những con chó chết đến điểm thu gom bên ngoài Cổng Zion. Từng đám trẻ con săn giết chó rồi đem xác chúng đến nhà người ngoại giáo gần nhất.
Khi một lực lượng quân đội Ottoman mạnh hơn tiến đến, quân đồn trú và nhà thần bí Sufi quay ra chống trả phe nổi dậy và chiếm được Tháp David. Husseini phòng ngự trong lâu đài của mình, và hai bên bắn tên qua lại trong ba ngày. Trong trận chiến xảy ra sau đó, các đường phố phía bắc Thành phố Cổ vương vãi xác chết – và Husseini mất nhiều hậu thuẫn hơn. Bên ngoài, binh lính Ottoman pháo kích vào Núi Đền. Đến nửa đêm ngày 28/11/1705, Husseini biết cuộc chơi của mình đã kết thúc liền đào tẩu, bị binh lính Ottoman truy đuổi. Ách cai trị bòn rút tiếp tục dưới quyền một thống đốc mới. Nhiều người Do Thái, bị cướp đoạt lần nữa, chỉ biết bỏ đi, và phong trào Ashkenazis Ba Lan sụp đổ, cuối cùng vào năm 1720, đối mặt với tù tội, ngăn cấm và sạt nghiệp, giáo đường của họ trong Khu Do Thái cháy rụi. Sephardis – cộng đồng Do Thái cổ, nhỏ thấy dễ chịu trong thế giới Ả Rập và Ottoman – còn sống sót.
Husseini bị bắt và bị bêu đầu. Sau nhiều tranh chấp nơi triều đình, nhà Husseinis sau đó được kế vị chức naqib (gia trưởng dòng họ thuộc hậu duệ của Muhammad) bởi Abd al-Latif al-Ghudayya nhờ gia đình ông đã đổi sang họ của nhà Husseinis danh giá mà họ cuỗm đâu đó trong thế kỷ. Nhà Ghudayyas trở thành nhà Husseini mới, dòng họ hùng mạnh nhất trong những dòng họ cai trị Jerusalem – tận đến thế kỷ 21.
NHÀ HUSSEINIS: SỰ TRỖI DẬY CỦA NHỮNG DÒNG HỌ
Bất kỳ ai có vai vế đến Jerusalem vào thế kỷ 18 đều muốn ở lại với vị thủ lĩnh của gia tộc này. Dòng họ mở rộng cửa cho nông dân, học giả và các viên chức Ottoman; người ta kể rằng ông tiếp 80 thực khách mỗi ngày vào bữa ăn tối. ‘Mỗi người từ xa đến gần đều muốn thăm viếng ông,’ một vị khách đã từng đến ‘cung điện’ của Abd al-Latif al-Ghudayya đã viết như thế. ‘Những người lạ tìm thấy nơi trú ẩn trong nhà ông, lưu lại đó nếu họ muốn.’ Các vị khách của Abd al-Latif khi rời Jerusalem đều được một toán kỵ mã hộ tống.
Sự trỗi dậy của nhà Husseinis đánh dấu sự vươn lên của những Đại Gia Jerusalem quyền thế. Nói đúng ra mọi chức danh ở Jerusalem đều có tính kế thừa. Hầu hết các Đại Gia đều là dòng dõi của những tộc trưởng Sufi đã được ân sủng của vị sultan này hay vị sultan khác. Hầu hết đều thay đổi tên họ, chế ra những phả hệ phi thường và luân phiên gây thâm thù rồi cưới gả lẫn nhau – không khác bên phương Tây. Mỗi dòng họ bảo vệ quyết liệt và nỗ lực bành trướng căn cứ địa quyền lực hốt bạc của mình.
Nhưng tài sản mà không có học thức sẽ là ô trọc; còn con dòng cháu giống nếu không có của cải cũng bó tay, và vị thế không thể đạt được nếu không có sự bảo trợ của Ottoman. Đôi khi các dòng họ phải chiến đấu để kiểm được điều đó: hai người trong nhà Nusseibeh bị phục kích bởi một đội vũ trang nhà Husseini gần Abu Ghosh, nhưng, theo tập quán, các gia đình làm hoà với nhau bằng cách cưới người em Nusseibeh còn sống sót trong tai nạn cho em gái vị Mufti (Thủ lĩnh tôn giáo) của Jerusalem.
Vậy mà các Đại gia cũng khó bảo đảm sự hưng thịnh trong một Jerusalem bị thương tích bởi những trận đấu đá xen kẽ giữa 500 quân đồn trú Ottoman có tiếng ngang tàng, bọn cướp cạn Bedouin, phe nổi dậy người Jerusalem và các thống đốc tham ô. Dân số tụt xuống chỉ còn 8,000, bị rình rập bởi Thống đốc Damascus xuống thành phố mỗi năm với một lực lượng nhỏ để thu thuế.
Người Do Thái, không được sự hậu thuẫn của châu Âu, chịu đựng nhiều nỗi đắng cay. ‘Người Ả Rập’, theo lời của Gedaliah, một người Ashkenazi từ Ba Lan, ‘thường xúc phạm người Do Thái công khai. Nếu một người Ả Rập cho một người Do Thái một thoi, y chỉ biết cúi đầu bỏ đi. Trong khi một người Thổ căm tức có thể đánh đập thẳng tay bằng chiếc giày của mình mà không ai dám can thiệp giải cứu y.’ Họ sống trong cảnh cùng quẫn, bị cấm sửa chữa nhà. 200 gia đình Do Thái phải trốn đi: với ‘sự bức hại và moi móc tiền tăng lên từng ngày’, một khách hành hương Do Thái năm 1766 viết, ‘tôi phải trốn khỏi thành phố lúc ban đêm. Mỗi ngày đều có ai đo bị quăng vào ngục.’
Người Cơ đốc căm ghét nhau hơn cả căm ghét người ngoại đạo – đúng như Cha Elzear Horn của dòng Francis, chỉ đơn giản gọi người Hy Lạp Chính thống giáo là ‘Bọn Nôn Mửa’. Mỗi giáo phái đều hả hê khi nhìn thấy đối thủ của mình trong Nhà Thờ chịu cảnh sống thiếu tiện nghi và cùng quẫn nhục nhã. Ottoman kiểm soát và cuộc tranh chấp trong Cơ đốc giáo có nghĩa là mỗi đêm có 300 người thường trú bị nhốt bên trong; ‘giống tù nhân hơn’ là giáo sĩ theo cái nhìn của Evliya, sống trong tình cảnh bị vây hãm thường xuyên. Thực phẩm được đưa qua lỗ trên cửa hoặc được kéo lên qua một hệ thống ròng rọc, đến cửa sổ. Những thầy tu này – hầu hết là Chính thống giáo, Thiên chúa giáo hoặc Armenia – cắm dùi trong trạng thái căng thẳng ẩm ướt, tù túng, bị ‘nhức đầu, sốt nóng, ung nhọt, tiêu chảy, kiết lỵ.’ Nhà xí của Mộ Thánh đóng góp một nguồn cơn khổ não đặc biệt – và mùi xú uế: mỗi giáo phái có bố trí nhà xí riêng, nhưng dòng Francis, theo lời Cha Horn, ‘phải hứng chịu mùi xú uế nồng nặc’. Người Hy Lạp không có nhà vệ sinh gì hết. Trong khi đó những giáo phái nhỏ bé hơn nghèo kiết xác, như Copt, Ethiopia và Syria, chỉ có thể kiếm sống bằng những công việc thấp hèn như đổ rác. Không có gì ngạc nhiên khi tác giả Pháp Constantin Volney nghe nói người dân Jerusalem ‘đã có được tiếng tăm xứng đáng là dân tộc xấu xa nhất ở Syria’.
Khi Pháp một lần nữa tranh thủ được quyền praedominium cho dòng Francis, người Chính thống giáo Hy Lạp đánh trả. Vào đêm trước Chủ nhật Lễ Cọ 1757, người Chính thống giáo Hy Lạp đột kích người Francis trong Nhà Tròn của Mộ Thánh, ‘bằng chày vồ, rựa, móc sắt, dao găm và gươm’ được cất giấu phía sau cột và dưới lớp áo, đập vỡ đèn và rọc rách thảm trải. Người Francis trốn chạy đến nhà thờ St Saviour, tại đó họ bị bao vây. Những chiến thuật xã hội đen này có tác dụng: vị sultan chuyển trở lại quyền cho người Hy Lạp, ban cho họ vị thế thống trị trong Nhà Thờ Mộ Thánh mà họ còn giữ lại đến ngày nay. Giờ thì quyền lực Ottoman đã sụp đổ ở Palestine. Khởi đầu ở Galilee vào thập niên 1730, một tộc trưởng Bedouin, Zahir al-Umar al-Zaydani, cắt lấy một miếng lãnh thổ phía bắc mà y cai trị từ Acre – thời điểm duy nhất, không kể những vụ nổi dậy ngắn ngủi, mà một người Ả Rập ở bản địa Palestine cai trị được phần mở rộng của Palestine.
SỰ VƯƠN LÊN VÀ SỤP ĐỔ CỦA ‘VUA PALESTINE’
Vào năm 1770, Ali Bey, một vị tướng Ai Cập vinh dự được gán danh hiệu Người Bắt Được Mây (nhờ ông đã đánh bại bọn Bedouin, mà người Ottoman tin là khó hơn việc bắt được mây), kết đồng minh với Tộc trưởng Zahir. Cùng nhau họ chinh phục hầu hết Palestine, thậm chí chiếm Damascus, nhưng thống đốc của sultan vẫn giữ được Jerusalem. Nữ hoàng Nga, Catherine Đại Đế, đang lâm chiến với Ottoman và giờ đây bà phái một hạm thuyền đến Địa Trung Hải, và đánh bại hải quân sultan tại đó. Người Bắt Được Mây cần sự hậu thuẫn của Nga và Nga chỉ quan tâm đến chiến lợi phẩm: Jerusalem. Chiến thuyền Nga công kích Jaffa rồi giương buồm đi lên tấn công Beirut. Zahir đánh chiếm Jaffa – nhưng liệu ông cùng với Người Bắt Được Mây có thể giải phóng Jerusalem không?
Tộc trưởng Zahir gửi binh lính đến bao vây thành phố nhưng họ không gây xứt mẻ gì cho tường thành. Quân Ottoman, bị đánh bại trên mọi mặt trận, chịu thương lượng hòa bình với Nga. Trong hiệp ước hòa bình năm 1774, Catherine và đối tác của bà Hoàng thân Potemkin buộc người Ottoman phải công nhận sự bảo hộ của người Nga đối với Chính thống giáo – và rút cuộc nổi ám ảnh lớn dần của người Nga về Jerusalem sẽ dẫn đến một trận chiến Âu châu.*
Potemkin nghỉ ra ‘Dự án Hy Lạp’ cho Catherine – người Nga sẽ chính phục Constantinople (người Nga gọi là Tsargrad) để cháu nội của bà, cũng có tên Constantine cai trị. Việc Catherine chia cắt Ba Lan mang hàng triệu người Do Thái vào đế chế Nga lần đầu tiên, phần đông đều bị giam hãm trong cảnh nghèo khổ ở khu định cư. Nhưng Potemkin, một trong nhà lãnh đạo thân Do Thái nhất trong lịch sử nước Nga, là một người Zionist Cơ đốc xem việc giải phóng Jerusalem là một phần trong Dự án Hy Lạp của mình. Năm 1787, ông thành lập Trung đoàn Israëlovsky của Kỵ binh Do Thái để đánh chiếm Jerusalem. Potemkin qua đời trước khi có thể biến mơ ước mình thành hiện thực.
Quân Ottoman giờ đây có thể chiếm lại các tỉnh lỵ đã mất: Người Bắt Được Mây bị ám sát và Tộc trưởng Zahir, tuổi 86, phải trốn thoát khỏi Acre. Khi ông phóng ngựa đi, ông chợt nhớ đã quên mang theo nàng hầu sủng ái – ‘đây không phải lúc bỏ một người ở lại phía sau,’ ông nói – và phi ngựa trở lại. Khi ông định vớt nàng lên thì nàng ghì lại và kéo ông rớt xuống ngựa và các sát thủ xông đến đâm vào chặt đầu ông. Thủ cấp ngâm dấm của ‘vị Vua đầu tiên của Palestine’ được gởi về Istanbul. Tình trạng vô chính phủ giờ lôi kéo sự chú ý của người hùng đang lên của Cách mạng Pháp.
NAPOLEON BONAPARTE: ‘KINH KORAN DO TÔI BIÊN SOẠN’
Vào ngày 19/5/1798, Napoleon Bonaparte, 28 tuổi, mặt xanh xao và hốc hác, với mái tóc dài rũ xuống, lên đường với 335 chiến thuyền, 35,000 binh sĩ và một hàn lâm viện gồm 167 nhà khoa học để chinh phục Ai Cập. ‘Ta sẽ lập ra một tôn giáo’, ông suy nghĩ với vẻ xấc xược tự cao tự đại, ‘ta thấy mình đang hành quân đến châu Á, cưỡi lên mình voi, khăn xếp quấn trên đầu, một tay cầm cuốn kinh Koran mới do chính ta soạn.’
Cuộc viễn chính của ông có động lực là nền khoa học cách mạng, chính trường lạnh lùng và tính lãng mạn thập tự chinh. Mỗi người ở Paris đều đã đọc cuốn du ký bán chạy nhất của triết gia Constantin Volney, mô tả ‘sự đổ nát tơi tả của Jerusalem’ và lãnh địa Levant đang phân rã của đế chế Ottoman đã chín mùi cho cuộc chinh phục dưới chiêu bài văn minh hóa của sứ mệnh Khai Sáng. Cách mạng Pháp đã ra sức tiêu diệt Giáo hội và thay thế Cơ đốc giáo bằng lý trí, tự do và thậm chí một giáo phái mới về Siêu Nhân. Tuy nhiên, đạo Thiên chúa vẫn trụ lại và Napoleon có khát vọng chữa lành những thương tích của Cách mạng bằng cách hợp nhất vương quyền, tín ngưỡng và khoa học – do vậy mới có sự hiện diện đông đảo các nhà khoa học trên tàu. Nhưng cũng vì đế chế: Pháp đang lâm chiến với Anh. Cuộc viễn chính là sản phẩm trí tuệ của cựu giám mục và ngoại trưởng lác mắt, khập khiễng, Charles-Maurice de Talleyrand. Ông ta hi vọng nó sẽ tranh thủ được quyền kiểm soát Địa Trung Hải và cắt đứt Ấn Độ thuộc Anh. Nếu Bonaparte thành công, thế thì tốt nhưng nếu ông thảm bại, Talleyrand sẽ loại trừ được một đối thủ. Như xảy ra quá thường trong vùng Trung Đông, người Âu châu kì vọng người đông phương sẽ tỏ lòng biết ơn đối với những cuộc chinh phục đầy thiện ý của mình.
Napoleon đổ bộ thành công lên Ai Cập, bấy giờ nằm dưới quyền cai trị của một tập đoàn các sĩ quan mang hai dòng máu mamluk-Ottoman. Ông nhanh chóng đánh tan họ tại Trận Kim Tự Tháp, nhưng đô đốc Anh Horatio Nelson xóa sổ hạm thuyền Pháp tại Vịnh Aboukir. Bonaparte đã đánh bại Ai Cập nhưng Nelson đã gài bẫy quân đội ông ở phía Đông và điều này cổ vũ quân Ottoman thách thức ông ở Syria. Nếu Napoleon muốn sống còn ở Ai Cập, ông phải hành quân ra bắc và chiếm Syria. Vào tháng 2 năm 1799, ông xâm chiếm Palestine với 13,000 binh lính và 800 lạc đà. Ngày 2 tháng 3, khi ông tiến về Jaffa, đội kỵ binh của ông dưới quyền chỉ huy của Tướng Damas tiến hành một cuộc đột kích chỉ cách Jerusalem ba dặm. Tướng Bonaparte nghĩ về cảnh tượng chinh phục Thành phố Thánh, báo cáo cho Hội đồng Đốc chính Cách mạng ở Paris: ‘Khi các ngài đọc được thư này, có lẽ tôi đang đứng trong cảnh hoang tàn của Đền Thờ Solomon.’