MUFTI ĐẤU VỚI THỊ TRƯỞNG: AMIN HUSSEINI ĐẤU VỚI RAGHEB NASHASHIBI
Người họ chọn làm thị trưởng là hiện thân của thị dân phong lưu Ả Rập: Ragheb Nashashibi hút thuốc lá có tẩu, cầm gậy và người đầu tiên ở Jerusalem sở hữu một chiếc limousine hiệu Packard màu xanh lá, lái bởi một tài xế người Armenia. Ngài Nashashibi láng mướt thừa kế những rặng cam và những lâu đài của những Đại gia gần đây nhất và giàu có nhất, nói trôi chảy tiếng Pháp và Anh, đã đại diện Jerusalem tại Nghị viện Ottoman. Từng là người cầm đầu chống Zionism, ông nhận chức vụ một cách nghiêm túc như một lãnh chúa Jerusalem và nhà lãnh đạo Palestine.
Người họ chọn làm đại mufti là người anh em họ giàu có của Nashashibi, Haj Amin Husseini. Storrs giới thiệu người gây rối vụ bạo loạn Nabi Musa với vị cao ủy. Thật bất tiện khi Husseini không thắng trong cuộc bầu cử theo thông lệ, người trúng cử là người của nhà Jarallah. Ông chỉ đứng thứ 4, vì thế người Anh chỉ đơn giản hủy bỏ kết quả và bổ nhiệm ông cho dù ông chỉ mới 26 tuổi và chưa bao giờ tốt nghiệp khóa giáo lý ở Cairo. Samuel sau đó nhân đôi quyền lực chính trị và tài chính của ông bằng cách đỡ đầu cho ông trúng cử làm chủ tịch Hội đồng Hồi giáo Tối cao mới.
Husseini thuộc truyền thống đạo Hồi; Nashashibi thuộc Ottoman. Cả hai đều chống đối Zionism nhưng Nashashibi tin rằng, đối mặt với quyền lực Anh, người Ả Rập nên thỏa hiệp; Husseini, theo một lộ trình lắt léo và bất thường, rút cục là một tay dân tộc chủ nghĩa ương ngạnh chống lại bất cứ thỏa hiệp nào. Lúc đầu, Husseini đóng vai trò một đồng minh thụ động của Anh, nhưng rốt cục ông sẽ vượt quá tư thế bài Anh của nhiều người Ả Rập để trở thành một người bài Do Thái mang tính chủng tộc và theo đuổi hướng Giải pháp Cuối cùng của Hitler đối với vấn đề Do Thái.
VỊ MUFTI: TRẬN CHIẾN BỨC TƯỜNG
Vào tháng 6 năm 1925, Samuel quay về London, tuyên bố rằng tinh thần vô pháp đã chấm dứt. Một năm sau, Storrs rời thành phố hòa binh và tốt đẹp hơn lên và được thăng chức thống đốc Cyprus và sau đó thống đốc Bắc Rhodesia, mặc dù ông than thở, ‘Không thể gọi là thăng chức sau khi đã làm việc ở Jerusalem.’ Vị cao ủy mới là Viscount Plumer. Vì ngân sách bị cắt giảm, ông phải giữ gìn trật tự với số binh lính ít hơn thời Samuel. Ông nghĩ hưu vì lý do sức khỏe nhưng vị cao ủy mới vẫn chưa đến khi tình hình chính trị đã có sự cố. Vào ngày Lễ Đền Tội (Yom Kippur) năm 1928, thầy tư tế Do Thái dựng lên một tấm bình phong nhỏ để phân chia khu vực Nam nữđàn ông và phụ nữ đứng cầu nguyện theo đúng luật Do Thái. Bình phong và ghế dành cho người già những năm trước đây đã được cho phép, nhưng bây giờ vị mufti phản kháng cho rằng người Do Thái đã tự tiện thay đổi hiện trạng.
Người Hồi tin tưởng rằng Bức Tường là nơi mà Muhammad đã buộc con linh thú Buraq mặt người, mà ngài đã cưỡi trong chuyến Dạ Hành. Trong thế kỷ 19, người Ottoman đã sử dụng đường hầm kế cận làm chuồng lừa. Về pháp lý nó đã thuộc về vật cúng cho Abu Maidan (giáo chủ phải Hồi giáo thần bí Sufi) có niên đại thời con trai Afdal của Saladin. Do đó nó là tài sản thuần túy Hồi giáo. Hơn nữa, người Hồi sợ rằng việc người Do Thái đến được Bức Tường sẽ dẫn đến việc họ dựng lại Đền Thờ Thứ Ba trên Haram (đất thiêng) của đạo Hồi. Bức Tường là thánh tích thiêng liêng nhất của Do Thái và người Do Thái Palestine tin rằng những hạn chế của người Anh, và đúng ra không gian chật chội dành để cầu nguyện, là những vết tích của nhiều thế kỷ dưới sự áp bức của người Hồi, minh chứng cho việc tranh đấu Zionism là cần thiết. Người Anh thậm chí cấm thổi shofar – tù và sừng dê – vào những ngày thánh lễ Do Thái.
Ngày hôm sau, người kế nhiệm Storrs làm thống đốc, Edward Keith-Roach, ra lệnh cho cảnh sát bố ráp Bức Tường trong khi người Do Thái đang hành lễ Yom Kippur, lễ thiêng liêng nhất của năm Do Thái. Cảnh sát xông vào đánh đập người Do Thái đang cầu nguyện và kéo ghế không cho người già cả ngồi. Vị mufti hớn hở nhưng cảnh báo rằng ‘mục tiêu của người Do Thái là nuốt Thánh đường al-Aqsa dần dần’. Vì vậy ông phát động một chiến dịch chống tín đồ Do Thái đang cầu nguyện, ném đá và đánh đập và phát nhạc thật ồn. Đội phòng vệ trẻ Betar của Jabotinsky biểu tình để được đến Bức Tường.
Cả hai bên đều đang thay đổi hiện trạng từ thời Ottoman, vốn không còn phản ánh đúng thực tế. Việc nhập cư và tậu đất đai của người Do Thái dễ hiểu đã gây lo lắng cho người Ả Rập. Kể từ khi có Tuyên bố Balfour, khoảng 90,000 Do Thái đã đến Palestine. Chỉ tính riêng năm 1925, người Do Thái đã mua 44,000 mẫu đất từ các Đại gia. Một thiểu số rất nhỏ người Do Thái theo chủ nghĩa tôn giáo đúng là mơ ước dựng lại Đền Thờ Thứ Ba, nhưng đại đa số áp đảo chỉ đơn giản muốn cầu nguyện tại nơi thiêng liêng của họ. Vị cao ủy mới, Sir John Chancellor, xin vị mufti bán Bức Tường để người Do Thái có thể xây một vuông sân ở đó, làm chỗ cầu nguyện. Nhưng vị mufti từ chối. Đối với người Do Thái, Kotel (Bức Tường) là biểu tượng của sự tự do cầu nguyện và sự tồn tại quê hương của mình, đối với người Ả Rập, linh vật Buraq trở thành biểu tượng của tinh thần dân tộc đối kháng.
Vào mùa hè 1929, vị mufti ra lệnh mở một lối đi khiến Bức Tường Do Thái nằm trong đường lưu thông của người Hồi cho lừa và bộ hành đi qua khi các muezzin kêu gọi đến giờ cầu nguyện và các tin đồ dòng Sufi đọc kinh lớn tiếng lấn át cả tiếng cầu nguyện của người Do Thái. Người Do Thái bị tấn công trong những ngõ vắng gần đó. Khắp Palestine người Do Thái biểu tình dưới khẩu hiệu ‘Bức Tường là Của Chúng Ta’. Chancellor đã đi khỏi khi, vào ngày 15/8, 300 thành viên Zionist biểu tình, do sử gia Joseph Klausner và những thành viên Betar cầm đầu, tuần hành đến Bức Tường trong im lặng, giơ cao ngọn cờ Zionist và hát hành khúc dưới sự canh gác của cảnh sát Anh. Ngày hôm sau, sau buổi cầu nguyện thứ Sáu, 2,000 người Ả Rập từ al-Aqsa đi xuống và tấn công người Do Thái đang cầu nguyện, đuổi họ ra khỏi Bức Tường và đánh đập bất kỳ ai họ bắt được. Vào ngày 17, một bé trai Do Thái đá bóng bay vào vườn một người Ả Rập và, khi em chạy đến nhặt bóng, liền bị giết chết. Tại tang lễ, các thanh niên Do Thái tấn công Khu Hồi giáo.
Tại buổi cầu nguyện thứ Sáu ngày 23/8, được sự cổ vũ của vị mufti, hàng ngàn tín đồ ùa ra khỏi al-Aqsa tấn công người Do Thái. Vị mufti tìm đủ mọi cách để khích động còn các đối thủ Nashashibi của ông kềm chế đám đông: một số thủ lĩnh Ả Rập quả cảm đứng ra ngăn cản nhưng không có kết quả. Họ tấn công Khu Do Thái, vùng lân cận Montefiore và những khu ngoại ô, tại đó họ tàn sát 31 người Do Thái. Có trường hợp một hộ 5 người đều bị giết sạch; ở Hebron, 59 người Do Thái bị sát hại. Tổ chức Haganah, đội dân quân Zionist được thành lập năm 1920, chiến đấu chống trả. Trong toàn xứ Palestine chỉ có 292 cảnh sát Anh, vì thế binh sĩ hỗ trợ được điều tới từ Cairo. Tổng cộng, 131 người Do Thái bị người Ả Rập sát hại, trong khi có 116 người Ả Rập thiệt mạng phần lớn do binh lính Anh bắn.
Những vụ bạo loạn, mà người Ả Rập gọi là Cuộc Vùng dậy Buraq khiến người Anh lúng túng. ‘Tôi không biết ai có thể làm một cao ủy tốt ở Palestine ngoại trừ Thượng Đế,’ Chancellor bảo với con trai mình. Chính sách Balfour đang được xổ chỉ ra. Vào tháng 10 1930, Bạch Thư của Bộ trưởng đề nghị hạn chế người Do Thái nhập cư và rút lại vấn đề lãnh thổ dân tộc Do Thái. Người Zionist tuyệt vọng. Vụ Vùng dậy Buraq đốt lên ngọn lửa cực đoan ở cả hai bên. Bạo lực và Bạch Thư của Passfield làm mất uy tín của Weizmann quá tin vào người Anh: người Zionist thấy không còn có thể dựa vào Anh và nhiều người quay sang chủ nghĩa dân tộc sắt thép hơn của Jabotinsky. Tại Hội nghị Zionist 17, Jabotinsky công kích Weizmann dù ông đang vận động với thủ tướng Anh Ramsay Macdonald lật ngược Bạch Thư. Macdonald viết cho ông một bức thư, được đọc lớn trong hội nghị, khẳng định lại Tuyên bố Balfour và mở lại việc nhập cư người Do Thái. Người Ả Rập giờ gọi nó là Hắc Thư. nhưng đã quá muộn để cứu được uy tín Weizmann. Ông mất chức chủ tịch Zionist. Quá thất chí, ông tạm thời quay về với khoa học. Lực lượng Haganah dù còn tập trung vào việc phòng vệ các khu định cư nông thôn, nhưng đã bắt đầu vũ trang. Bực bội với hạn chế này, các người dân tộc chủ nghĩa chủ chiến tách ra và thành lập Irgun Zvai Leumi, Tổ chức Quân sự Quốc gia, do Jabotinsky gây cảm hứng, mặc dù nó còn ở quy mô nhỏ. Jabotinsky bị trục xuất khỏi Palestine vì những bài diễn văn khiêu khích, nhưng vẫn không ngừng được giới trẻ Do Thái ở Palestine và đông Âu tôn sùng. Nhưng ông không phải là người thay thế Weizmann: chính David Ben-Gurion là người xuất hiện như thủ lĩnh của cộng đồng Do Thái đúng lúc vị mufti trở nên thủ lĩnh của người Ả Rập.
Vào tháng 12 1931, vị mufti xuất hiện trên chính trường thế giới khi ông chủ tọa với tư cách nhà lãnh tụ dân tộc không đối thủ toàn Hồi giáo tại Hội nghị Hồi giáo Thế giới trên Núi Đền: đây là giờ phút vinh quang nhất của ông và nó khiến ông say sưa. Ông vẫn chống đối triệt để với bất kỳ thuộc địa Zionist nào ở Palestine, trong khi những đối thủ của ông, Thị trưởng Nashashibi, nhà Dajani và nhà Khalidi lập luận rằng sự hòa giải sẽ là giải pháp tốt đẹp hơn cho người Ả Rập và Do Thái. Vị mufti không khoan nhượng sự chống đối nào và lên án các đối thủ của mình là bọn phản bội phò Zionist và tố cáo dòng họ Nashashibi có lén lút nhiễm huyết thống Do Thái. Nashashibi ra sức làm ông mất chức tại Hội đồng Hồi giáo Tối cao nhưng thất bại. Vị mufti bắt đầu loại trừ những kẻ chống đối mình ra khỏi mọi tổ chức mà ông điều khiển. Người Anh, yếu ớt và phân vân, dựa vào phe cực đoan thay vì phe ôn hòa: năm 1934, vị cao ủy mới, Sir Arthur Wauchope, rút lui sự hậu thuẫn đối với nhà Nashashibi và ủng hộ việc bầu người nhà Khalidi làm thị trưởng. Cuộc tranh giành giữa hai nhà Husseini và Nashashibi càng gay gắt hơn bao giờ.
Thế giới đang đen tối dần, những cọc nhọn vươn cao. Sự lớn mạnh của chủ nghĩa Phát xít khiến việc hòa giải dường như đuối sức, và bạo lực không chỉ chấp nhận được mà còn mời gọi. Ngày 30/1/1933, Hitler được bổ nhiệm làm thủ tướng Đức.
Ông được von Papen, vị sĩ quan mà trong năm 1917 đã rất muốn cứu danh tiếng nước Đức ở Jerusalem. Papen, lúc đó là thủ tướng, khuyên Tổng thống Hindenburg bổ nhiệm Hitler, viện lẽ rằng mình và các bạn bè quý tộc có thể kiểm soát Quốc xã. Papen trở thành phó thủ tướng của Hitler nhưng chẳng bao lâu từ chức, trở thành đại sứ Đức ở Istanbul. Ông bị xử tại tòa án Nuremberg, ở tù vài năm rồi mất vào năm 1969.
Ngày 31/3, chỉ hai tháng sau, vị mufti bí mật đến thăm lãnh sự Đức ở Jerusalem, Heinrich Wolff, để tuyên bố ‘người Hồi Palestine chào đón chế độ mới, hy vọng Phát xít sẽ bành trướng sự lãnh đạo chống dân chủ’; ông nói thêm là ‘người Hồi hy vọng Đức sẽ tẩy chai người Do Thái.’
Người Do Thái Âu châu báo động sự lên ngôi của Hitler. Việc nhập cư, vốn đã chậm lại, giờ đã tăng tốc theo cách làm thay đổi mãi mãi cán cân dân số. Năm 1933, 37,000 người Do Thái đến Palestine; 45,000 năm 1934. Đến 1936, ở Jerusalem có 100,000 người Do Thái, so sánh với 60,000 người Ả Rập Cơ đốc và Hồi giáo. Đúng lúc sự gây hấn của Quốc xã và chủ nghĩa bài Do Thái đe doạ châu Âu, và sự căng thẳng ở Palestine tăng lên, Sir Arthur Wauchope chủ trì một Jerusalem mới, thủ đô của Thời Hoàng Kim ngắn ngủi của Quyền Ủy thác Anh.
Khi người Anh xét đến việc hạn chế người Do Thái nhập cư đến Zion, Joseph Stalin đang xây dựng khu Jerusalem riêng của ông. Quan điểm của ông về người Do Thái xung khắc nhau. Trong một bài viết nổi tiếng năm 1913 về quốc tịch, Stalin tuyên bố rằng người Do Thái không phải là một quốc gia mà ‘có tính thần bí, khó nắm bắt, như thuộc về một thế giới khác’. Khi đã nắm quyền, ông ngăn cấm chủ trương bài Do Thái, mà ông gọi là ‘hành động ăn thịt người’, và vào năm 1928, tán thành việc thành lập một quê hương Do Thái thế tục với tiếng Do Thái và tiếng Nga là ngôn ngữ chính thức. Được khánh thành vào tháng 5 1934, xứ Zion của Stalin, vùng tự trị Do Thái, là vùng đất hoang hóa Birobidzhan sát biên giới Trung Hoa. Sau Thế Chiến II và vụ Holocaust, ngoại trưởng của ông, Molotov và những người khác ủng hộ một quê hương Do Thái khác trong vùng Crimea hấp dẫn hơn – một California của Stalin – nhưng ông không tán thành. Vào năm 1948 Birobidzhan chứa 35,000 người Do Thái. Ngày nay thị trấn vẫn còn với một vài ngàn người Do Thái và tất cả bảng hiệu hiện còn viết bằng tiếng Do Thái.
THỦ ĐÔ CỦA WAUCHOPE
Wauchope, một người độc thân giàu có, thích tiệc tùng chiêu đãi. Đi hai bên là vệ sĩ áo tía vung gậy mạ vàng, vị tướng đội mũ lông chào đón khách đến Trụ sở Chính quyền mới trên đồi Evil Counsel, phía nam thành phố, với một tháp canh bát giác, chung quanh là giếng phun nước, và những rặng keo và thông. Lâu đài là một thế giới Anh thu nhỏ với phòng dạ vũ, đèn treo và hành lang cho đội cảnh vệ, phòng ăn, phòng chơi bida, phòng tắm riêng biệt cho khách Anh và khách địa phương – và một nghĩa địa chó độc nhất ở Jerusalem cho một quốc gia yêu chó. Khách khứa mặc lễ phục hoặc mũ cao và áo đuôi tôm. ‘Tiền bạc và xâm banh’, một người nhớ lại, ‘chảy như suối.’
Jerusalem còn thiếu những xa hoa của một thành phố lớn, nhưng vào năm 1930, một khách sạn đẳng cấp thế giới đầu tiên được xây dựng. Khách sạn Vua David được hậu thuẫn bởi các đại gia Do Thái Ai Cập giàu có và nhà tài chính Anh-Do Thái Frank Goldsmith. Ngay lập tức nó trở thành trung tâm phong cách của thành phố, trang trí theo phong cách kinh thánh Assyria, Hittite và Hồi.
Một du khách Mỹ có cảm nghĩ đây chẳng khác Đền Thờ Solomon được tân trang. Khách sạn biến Jerusalem thành một nơi nghỉ dưỡng xa hoa cho nhà giàu Ả Rập ở Lebanon và Ai Cập, mà những gia đình hoàng gia trụy lạc vẫn thường cư ngụ.
Không để bị qua mặt, vị mufti xây dựng khách sạn của mình, Khách sạn Palace, do kiến trúc sư Do Thái thiết kế ngay trên địa điểm của nghĩa trang cổ đại Mamilla.
Jerusalem mới phồn thịnh lên với 132,661 dân cư vào năm 1931, chứng tỏ sự cai trị của người Anh và việc nhập cư của người Zionist đúng là kích thích sự phát triển kinh tế – và làm gia tăng dân số Ả Rập nhập cư: nhiều dân Ả Rập nhập cư vào Palestine hơn người Do Thái và dân số Ả Rập tại Palestine tăng 10 phần trăm, nhanh gấp hai ở Lebanon và Syria. Trong 10 năm, Jerusalem thu hút 21,000 người Ả Rập mới và 20,000 người Do Thái mới.
BEN-GURION VÀ MUFTI: GHẾ SOFA NHÚN XUỐNG
Vị mufti đang ở đỉnh cao uy thế nhưng ông còn tranh đấu để kiểm soát nhiều hơn những thang bậc quan điểm về Ả Rập. Có những người Tây phương cấp tiến, có những người Mác-xit, có những người dân tộc chủ nghĩa thế tục và những người cơ yếu chủ nghĩa Hồi giáo. Đa số người Ả Rập càng ngày càng tin rằng chỉ có cuộc đấu tranh vũ trang mới có thể ngăn chặn được Zionism. Vào tháng 11 1933, cựu thị trưởng Musa Kazem Husseini, người không theo phe với anh em họ của mình vị mufti, dẫn đầu cuộc biểu tình ở Jerusalem làm bùng phát bạo loạn khiến 30 người Ả Rập thiệt mạng. Khi Musa Kazem mất vào năm sau, người Ả Rập mất một chính khách lão thành được mọi người kính trọng. Ahmed Shuqayri, sau này là một lãnh đạo Palestine, viết: ‘dân chúng khóc thương Musa Kazem rất nhiều, còn Haj Amin (vị mufti) làm nhiều dân chúng rơi lệ.’ Hơn một phần tư triệu người Do Thái đến Palestine trong thập niên thứ hai của thời Ủy thác, gấp hai lần thập niên trước. Người Ả Rập, cho dù là người ưu tú có văn hóa nhất Jerusalem, tốt nghiệp tại Oxford, hoặc là những phần tử cực đoan Hồi giáo thuộc tổ chức Huynh Đệ Hồi giáo, giờ tắt cả đều cảm nhận rằng người Anh sẽ không bao giờ dừng việc cho nhập cư, cũng không ngăn cộng đồng Do Thái (Yishuv) càng ngày càng tổ chức tinh vi. Họ đã hết thời gian. Năm 1935, tại đỉnh cao của phong trào nhập cư, có 66,000 người Do Thái đến. Trong thời đại bệnh hoạn đó, khi mà chiến tranh thường được coi là một nghi lễ thanh tẩy quốc gia, thậm chí nhà trí thức Sakakini và người nghệ sĩ Jawhariyyeh giờ cũng tin rằng chỉ có bạo lực mới có thể cứu vớt được Palestine. Câu trả lời, Hazem Nusseibeh viết, là ‘nổi dậy vũ trang’.
Sự kiện này sẽ do Weizmann đang luống tuổi đương đầu, giờ lại là chủ tịch Zionist, nhưng quyền lực thực sự nằm trong tay Ben-Gurion, gần đây được bầu làm chủ tịch Ban Điều hành Cục Do Thái, quyền hành cao nhất trong cộng đồng Do Thái định cư. Cả hai người đều độc đoán và phong cách trí thức, hiến dâng cho Zionism và nền dân chủ Tây phương. Nhưng tính cách họ đối nghịch nhau.
Ben-Gurion là một người thuộc tầng lớp lao động cục mịch, được trang bị để lãnh đạo trong chiến tranh và hòa bình. Lập gia đình và có hai con, một người chồng không mãn nguyện, ông có quan hệ ngoài luồng với một phụ nữ Anh mắt xanh, cao ráo ở London. Nhưng ông là một người cô độc trầm ngâm và một chiến lược gia suy tư, luôn ám ảnh với chính nghĩa. Lão gia, biệt hiệu của ông, học tiếng Tây Ban Nha để đọc Cervantes và Hy Lạp để đọc Plato; và khi ông lên kế hoạch lập quốc, ông đọc Clausewitz.
Còn Weizmann là một đức ông, ăn mặc đúng mốt thượng lưu, cảm thấy thoải mái trong những phòng khách lâu đài hơn là trong những nông trại nắng cháy vùng Galilee. Weizmann biết rằng, không giống Ben-Gurion, mình không cắt ra từ khuông đúc để làm một tư lệnh, nhưng ông nửa kính trọng nửa khinh thị tính hiếu chiến của chàng trai trẻ tuổi hơn mình. Trong hồi ký 600 trang của ông, ông chỉ nhắc đến tên Ben-Gurion đúng hai lần.
Ben-Gurion thoạt đầu là một người xã hội chủ nghĩa trưởng thành trong phòng trào lao động và không hoàn toàn đánh mất niềm tin rằng một Palestine mới nên được tạo dựng qua sự hợp tác của giai cấp lao động Do Thái và Ả Rập. Ben-Gurion có thể đã mơ về một nhà nước Do Thái nhưng điều đó dường như không hoàn toàn chắc chắn và xa vời. Vì ông đánh giá rằng phong trào dân tộc Ả Rập sinh ra gần như cùng lúc với phong trào phục quốc Do Thái mang tính chính trị, nên ông tin rằng liên đoàn Ả Rập và Do Thái là phương cách tốt nhất người Do Thái có thể hy vọng tại thời điểm đó. Cả ông và vị mufti đều thăm dò nhau với những kế hoạch cho một nhà nước cùng chia sẻ: khi nhìn lại, một thỏa thuận vẫn còn khả thi. Vào tháng 8 1934, Ben-Gurion bắt đầu gặp Musa al-Alami, một luật sư làm việc cho Anh, và George Antonius, nhà văn – cả hai đều là những cố vấn ôn hòa của vị mufti. Ben-Gurion đề nghị hoặc một chính quyền chia sẻ Do Thái-Ả Rập hoặc một thực thể Do Thái bên trong một liên đoàn Ả Rập sẽ bao gồm cả Transjordan và Iraq. Chắc chắn, Ben-Gurion lập luận, Palestine giống như một ghế sofa: có đủ chỗ cho cả hai Vị mufti ấn tượng nhưng không hợp tác. Sau này Alami suy nghĩ rằng vị mufti và Ben-Gurion chia sẻ cùng một chủ nghĩa dân tộc khắt khe nhưng nhà lãnh tụ Do Thái mềm dẻo và khéo léo hơn nhiều. Ông hối tiếc là người Ả Rập không sản sinh một Ben-Gurion của riêng mình.
Trong khi đó, vị mufti và các đồng sự của đang mất quyền điều khiển phong trào của mình.
Vào tháng 11 1935, một thầy giảng Syria tên Sheikh Izzat al-Din al-Qassam, người giữ chức vụ nhỏ trong toà án giáo luật của vị mufti ở Haifa và liên tục hối thúc ông bác bỏ mọi hòa giải chính trị, nổi dậy chống người Anh. Y còn cực đoan còn hơn cả vị mufti, một người cơ yêu chủ nghĩa thuần túy tin tưởng vào tính linh thiêng của việc tử đạo, một người tiên phong của al-Qaeda và nhóm Jihadist ngày nay. Giờ thì ông cầm đầu 13 mujahid (chiến binh thánh chiến) của tổ chức Black Hand của y tiến vào vùng đồi tại đó vào ngày 20/11, y bị dồn vào đường cùng bởi 400 cảnh sát Anh và bị giết chết. Hành động tử đạo của Qassam thúc đẩy vị mufti đến gần hơn với cuộc nổi dậy. Vào tháng 4 1936, người kế nhiệm Qassam tiến hành một chiến dịch bên ngoài Nablus làm chết 2 người Do Thái – nhưng phóng thích một người Đức tuyên bố mình là một Quốc xã ‘vì Hitler’. Đây là ngòi nổ. Tổ chức Irgun, các người dân tộc chủ nghĩa Do Thái, giết chết 2 người Ả Rập để trả đũa. Khi vụ bắn giết nổ ra, Sir Arthur Wauchope tỏ ra mình hoàn toàn không đủ năng lực để đáp ứng. Một sĩ quan trẻ nhận xét rằng ông ta ‘không biết làm gì.

Cao ủy Herbert Samuel (ngồi, ngay giữa) và thống đốc Jerusalem Storrs (đứng, thứ tư từ phải) tiếp các chức sắc tôn giáo của thành phố để chào mừng sự kiện Ánh giải phóng Jerusalem năm 1924.

Sherif của Mecca, Vua xứ Hejaz, Hussein gặp gỡ nhà lãnh đạo dân tộc Palestine buổi đầu Musa Kazem Husseini (trái) ở Jerusalem.

Vị sherif không hề tha thứ cho các đứa con nhiều tham vọng của mình: Faisal (trái), thoạt đầu là vua xứ Syria sau đó Iraq và Abdullah (phải), sau này là vua xứ Jordan (trong hình trên ở Jerusalem năm 1931) vì việc chiếm lấy những vương quốc cho riêng mình.

David Ben-Gurion, hoạt động trong công tác tìm chỗ ở mới cho người Do Thái trong năm 1924, nổi lên như nhà lãnh đạo Zionist kiên định tương tự như vị Mufti Amin al-Husseini, nổi lên như một nhà lãnh đạo dân tộc Ả Rập: trong hình trên ông dẫn đầu đám rước Nabi Musa hàng năm, một đại lễ Hồi giáo ở Jerusalem, trên lưng ngựa vào năm 1937.