Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Người Ả Rập Quật Khởi, Tuyên Bố Balfour 1916–17

❊ ❊ ❊

LAWRENCE VÀ SHERIF CỦA MECCA

Ngay trước khi Thế Chiến bắt đầu, một ông hoàng con ở Mecca, Abdullah ibn Hussein, trên đường từ Istanbul trở về, đến thăm Thống chế Lord Kitchener, Viên chức Anh cai trị ở Cairo, để xin được yểm trợ quân sự cho cha mình.

Cha của Abdullah là Hussein, Sherif của các Sherif (Sherif là những hậu duệ của nhà tiên tri Muhammad dòng Fatimah, con gái của ông) và Tiểu vương Mecca, người có quyền lực nhất ở Arabia, một người thuộc dòng Hashemite hậu duệ trực tiếp từ đấng Tiên Tri. Gia đình theo truyền thống là các tiểu vương của Mecca nhưng vị sultan Ottoman Abdul-Hamid đã quản thúc ông trong chốn xa hoa ở Istanbul hơn 15 năm và bổ nhiệm những thành viên khác của gia đình thay ông. Rồi vào năm 1908, Tuổi Trẻ Thổ, đối mặt trước sự thiếu hụt các ứng viên khác, phái ông về Mecca (tại đó số điện thoại của ông là Mecca 1). Đương đầu với chủ nghĩa dân tộc Thổ hiếu chiến của Enver Pasha và sự cạnh tranh của nhà Saudi và các bộ tộc Ả Rập khác, Hussein muốn chuẩn bị một trận chiến tại Arabia hoặc một cuộc quật khởi chống Istanbul.

Abdullah hãnh diện chỉ cho Kitchener thấy một vết thương của mình khi chiến đấu chống một tộc trưởng Ả Rập ở miền nam, còn Kitchener thì khoe các vết thẹo của mình từ cuộc chiến ở Sudan. Người Ả Rập thấp bé bảo với Kitchener cao nghều, ‘Ngài là mục tiêu không thể bắn trượt nhưng thấp như tôi, đã bị một tên Bedouin bắn trúng.’ Dù trao đổi thân tình, Kitchener từ chối trang bị vũ khí cho dòng Sherif.

Một vài tháng sau, Thế Chiến nổ ra thay đổi tất cả. Kitchener quay về Anh để giữ chức bộ trưởng chiến tranh – và phát động chiến dịch tuyển mộ quân nhân với áp phích mang dòng chữ ‘Tổ Quốc Bạn Đang Cần Bạn’ – nhưng ông vẫn là một chuyên gia Đông phương hàng đầu của Anh. Khi sultan-khalip Ottoman tuyên bốjihadchống Đồng minh, Kitchener liền nhớ đến Hussein và đề nghị bổ nhiệm ông làm kha-lip riêng của Anh để phát động cuộc quật khởi của Ả Rập chống Ottoman. Ông ra lệnh Cairo tiếp xúc với vị Sherif.

Lúc đầu không có trả lời. Rồi thình lình, vào tháng 8 1915, Sherif Hussein đồng ý cầm đầu cuộc quật khởi Ả Rập – đổi lấy một vài lời hứa. Người Anh, đối đầu với sự thảm bại của cuộc viễn chinh Gallipoli, tìm cách phá vỡ thế bế tắc của Mặt Trận phía Tây bằng cách hạ gục Ottoman ra khỏi cuộc chiến và giải vây cho một quân đoàn bị bao vây thảm khốc tại Kut ở Iraq. Người Anh sợ rằng Jemal Pasha sẽ đánh chiếm Ai Cập trừ khi y bị kềm chế bằng việc nổi dậy của người Ả Rập. Vì vậy London ra lệnh cho Sir Henry McMahon, ủy viên cao cấp ở Ai Cập, đồng ý mọi điều kiện cần thiết để giữ người Ả Rập về phe mình mà không hứa hẹn bất cứ điều gì đụng chạm tới tham vọng của Pháp và tất nhiên của Anh.

Sherif Hussein, giờ đã quá 60, không thích hợp để cai trị một nhà nước hiện đại, nhưng tại thời điểm này người Anh rất cần đến sự hợp tác của ông. Được sự dẫn dắt của con trai thứ hai Abdullah, giờ ông đòi một đế chế Hashemite [1] gồm tất cả xứ Arabia, Syria, Palestine và Iraq, một quân cờ thí quá cao và một đế chế trên một qui mô chưa từng tồn tại kể từ thời Abbasid. Đáp lại ông sẽ cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại người Ottoman không chỉ trên quê hương Arabia của ông mà còn trên Syria qua một mạng lưới các hội kín dân tộc chủ nghĩa Ả Rập al-Fatat và al-Ahd. Các điều này không có cái nào hoàn toàn đúng thực: ông ta chỉ chỉ huy một vài ngàn chiến binh và thậm chí không cai trị toàn vùng Hejaz. Phần lớn lãnh thổ Arabia được kiểm soát bởi các thủ lĩnh cạnh tranh nhau như nhà Saudi và vị trí của ông ta rất bấp bênh. Các hội kín đều nhỏ, với chỉ vài trăm thành viên hoạt động và chẳng mấy chốc sẽ bị Jemal tiêu diệt.

McMahon không chắc phải nhượng bộ thế nào đối với những yêu sách bi hài này, nhưng, trong khi ông phân vân, Hussein đồng thời trao cho Bộ Tam Pasha cơ hội trả giá cao hơn người Anh, yêu cầu quyền sở hữu có kế thừa vùng Hejaz và chấm dứt hành động khủng bố của Jemal. Vị Sherif phái đứa con thứ ba Faisal đến thỏa thuận với Jemal, nhưng nhà độc tài buộc anh phải dự khán việc xử giảo những nhà hoạt động dân tộc chủ nghĩa Ả Rập.

Vị sherif thành công nhiều hơn với người Anh. Các chuyên gia Đông phương của London đóng ở Cairo biết rõ địa hình của Palestine qua việc khảo cổ gián điệp của thế kỷ trước và chính Kitchener đã chụp ảnh Jerusalem và lập bản đồ xứ sở đó, đôi khi phải ngụy trang là người Ả Rập. Nhưng nhiều người biết rõ các câu lạc bộ ở Cairo tốt hơn các khu chợ ở Damascus: họ đang bảo trợ cho người Ả Rập và có thành kiến đối với người Do Thái mà họ thấy như đứng đằng sau mỗi mưu mô của kẻ thù. Trong khi London thi hành một chính sách, thương thảo với vị Sherif, thì vị phó vương Anh ở Ấn Độ lại theo đuổi một chính sách hoàn toàn khác của riêng mình, ủng hộ kẻ thù của vị Sherif, nhà Saudi.

May mắn thay, McMahon có một sĩ quan thực sự hiểu biết Syria. Đó là T. E. Lawrence, 28 tuổi, con trai của Thomas Chapman, người đã bỏ vợ để lập gia đình mới với tình nhân Sarah Lawrence và ông đã lấy họ của mẹ kế.

Khi còn đi học, ông ham mê rèn luyện thể lực và sức chịu đựng đồng thời soạn luận án Oxford về đề tài pháo đài Thập Tự Quân. Sau đó, ông hoàn thiện ngôn ngữ Ả Rập bằng cách du lịch khắp Syria, và làm việc như một nhà khảo cổ tại những địa điểm Hittite ở Iraq, tại đó người phụ tá Ả Rập trẻ tuổi của ông Dahoum trở thành bạn đồng hành và có lẽ nỗi đam mê dẫn dắt cuộc đời anh.

Giờ ở Cairo, McMahon quay sang viên sĩ quan trẻ này, người sẽ trở thành ‘một vị thần dịch chuyển trong những cuộc thương thảo với vị Sherif’. Khi Lawrence viết báo cáo, ông luôn thấy mình cứ nghĩ về Saladin và Abu Ubayda, nhưng ông chia sẻ quan điểm của nhiều chuyên gia về Ả Rập của Anh rằng người Ả Rập ở sa mạc là thuần khiết và cao quý – không giống người Ả Rập ở Palestine. Trong khi ông xác định Damascus, Aleppo, Homs và Hama là khu trung tâm Ả Rập của Syria, ông không công nhận Jerusalem thực sự thuộc Ả Rập – Jerusalem là một thị trấn bẩn thỉu, mà dân cư của nó là những bồi phòng khách sạn thấp hèn, sống nhờ vào đám du khách ghé qua.

Vào ngày 24/10/1915, McMahon trả lời Hussein. Thắt buộc bằng sự mơ hồ cố ý, câu trả lời được sắp xếp để hai bên đọc hiểu khác nhau. McMahon đồng ý về đế chế của Hussein, phía đông các thành phố Syria như Lawrence chỉ ra, nhưng loại bỏ phần lãnh thổ mù mờ ở phía tây. Palestine không được đề cập đến, cả Jerusalem cũng vậy. Vị Sherif không chắc sẽ chấp nhận loại trừ Jerusalem nhưng người Anh có quyền lợi riêng của mình ở đó, vì thkhông đề cập đến thành phố là tránh né vấn đề. Ngoài ra, McMahon nhấn mạnh rằng tất cả quyền lợi của Pháp được loại ra – và Pháp cũng có những đòi hỏi cổ xưa về Jerusalem. Thật ra, ủy viên cao cấp có kế hoạch đặt Jerusalem trên danh nghĩa dưới triều đại Albania ở Ai Cập để Thành phố Thánh sẽ thuộc Hồi giáo nhưng dưới quyền kiểm soát của Anh.

Người Anh cần cuộc Quật khởi của người Ả Rập ngay lập tức vì thế Anh đưa ra những hứa hẹn cần thiết mơ hồ như có thể. Nhưng mà những hứa hẹn của McMahon chưa đủ mơ hồ, bởi vì chúng khiến những kỳ vọng của người Ả Rập lên cao ngay trước khi Anh và Pháp bắt đầu thương thảo thực sự để chia nhau đế chế Ottoman.

Nhà thương thuyết Anh, Sir Mark Sykes, đã từng du lịch phương Đông và do đó đã trở thành một chuyên gia sừng sỏ. Tài năng thực sự của ông là một tính cách sôi nổi đầy tham vọng quá thu hút đến nổi cấp trên của ông sẵn sàng cho phép ông tùy ý nhúng tay vào bất cứ chính sách gì ở phương đông. Sykes và người Pháp cùng cấp François Georges-Picot, người đã từng giữ chức lãnh sự ở Beirut, thỏa thuận rằng Pháp sẽ nhận Syria và Lebanon, còn Anh nhận Iraq và một phần Palestine. Sẽ có một liên minh Ả Rập dưới quyền giám sát của Anh và Pháp – và Jerusalem sẽ được quốc tế hóa dưới quyền của Pháp, Anh và Nga. Như vậy cũng hợp lý vì cả ba đế chế này đều đã nỗ lực kiểm soát Jerusalem trong 70 năm qua – and it allowed for an Arab state of sorts. Nhưng nó sớm lỗi thời vì Anh bên trong cũng thèm muốn Jerusalem và Palestine cho riêng mình.

Vào ngày 5/6/1916, Sherif Hussein, không biết tin về thỏa thuận Sykes-Picot nhưng biết được rằng người Ottoman sắp sửa lật đổ mình, nên giơ cao ngọn cờ đỏ tại Mecca và phát động cuộc Quật khởi Ả Rập. Ông tự xưng là ‘Vua của Toàn Ả Rập’, một tước hiệu đánh động đến người Anh, khiến họ phải thuyết phục ông ta hạ xuống là ‘Vua của Vùng Hejaz’ (vùng lãnh thổ phía tây của Saudi Arabia ngày nay). Đây chỉ là khởi đầu: có ít dòng họ trong lịch sử được đội quá nhiều vương miện của nhiều vương quốc trong một thời gian ngắn như vậy. Vua Hussein bổ nhiệm mỗi con trai mình chỉ huy những đạo quân nhỏ nhưng kết quả về quân sự thật nản lòng và việc khởi nghĩa ở Syria không hề thành hiện thực. Người Anh thấy khó khăn trong việc tìm cách nào khiến các thành viên Sherif hoạt động hiệu quả hơn. Vì vậy, vào tháng 10, Ronald Storrs, người sau này sẽ trị vì Jerusalem, và người phụ tá, Lawrence, đến Arabia.

 

LAWRENCE XỨ ARABIA: NHÀ SHERIF – ABDULLAH VÀ FAISAL

Lawrence quan sát kỹ lưỡng bốn người con trai của nhà vua để tìm ra người cai trị lý tưởng của Ả Rập, và ông nhanh chóng nhận ra người con thứ hai và thứ ba, Abdullah và Faisal, là hai người có tiềm năng. Ông loại ra Abdullah vì ‘quá khôn ngoan’ còn Abdullah loại Lawrence vì là ‘một sinh vật kỳ lạ’, nhưng lúc mà Lawrence nhìn kỹ Hoàng tử Faisal, ông gần như muốn xỉu: ‘cao lớn, duyên dáng, năng động, gần như đã là vua. Tuổi 31, rất nhanh nhẹn và luôn bận rộn. Nước da sáng, mái tóc đen, cặp mắt huyền sống động. Trông như một người Âu, và là thần tượng của nhiều người.’

Lawrence thổ lộ rằng Faisal là ‘một nhân vật đáng ngưỡng mộ, nhưng cũng yếu đuối, dốt nát – tôi phục vụ hắn vì lòng thương hại’.

Cuộc Quật khởi Ả Rập đang thất bại thậm chí trong lãnh địa Hejaz của nhà Sherif và Lawrence thấy rằng một vài ngàn lính lạc đà của Faisal có thể bị một đại đội Thổ đánh bại. Nhưng nếu họ tập kích những tiền đồn và phá hoại đường ray, họ có thể cầm chân cả một quân đoàn Ottoman. Khi được điều về phục vụ Faisal, Lawrence tiến hành việc này và tạo ra một kiểu mẫu của cuộc nổi dậy hiện đại. Nhưng chính Faisal là người khoác cho Lawrence vẻ huyền thoại, ‘diện cho tôi áo lụa trắng sang trọng, thêu chỉ vàng’. Ông viết cuốn kim chỉ nam tổ chức nổi dậy Ả Rập – tài liệu buộc phải đọc đối với các sĩ quan Mỹ trong chiến trường Iraq và Afghanistan thế kỷ 21 – ‘Nếu bạn ăn mặc như người Ả Rập thì hãy ăn mặc sang trọng nhất. Ăn mặc như một sherif.’ Lawrence không qua khóa huấn luyện quân sự nào và có tinh thần của một thi sĩ khổ hạnh, nhưng ông hiểu rằng ‘khởi đầu và kết thúc của bí quyết điều khiển người Ả Rập là phải không ngừng nghiên cứu họ. Hãy tìm hiểu gia đình họ, họ hàng và bộ tộc họ, bạn bè và kẻ thù họ bằng cách lắng nghe và điều tra gián tiếp.’ Ông học cưỡi lạc đà và sống như một người Bedouin. Nhưng ông không bao giờ quên rằng nhờ những số vàng lớn mà chính phủ Anh cung cấp mới giữ được quân đội của ông gắn kết – ‘đây là thời gian phủ phê nhất mà các bộ tộc từng được biết’ – và thậm chí 50 năm sau họ còn nhớ ông là ‘nhân vật giữ vàng’.

Sự tàn sát và gian khổ của chiến tranh vừa làm ông khiếp sợ vừa làm ông phấn khích. ‘Tôi hy vọng việc này nghe hấp dẫn như nó vốn vậy,’ ông viết một cách sôi nổi sau một trận đột kích thành công. Khi một người của ông sát hại một đồng đội, Lawrence phải tự tay hành hình tên sát thủ, để tránh gây mối thù truyền kiếp giữa dòng họ. Sau một trận tàn sát quân Thổ, ông hy vọng ‘cơn ác mộng này kết thúc khi tôi tỉnh dậy và được sống lần nữa. Việc giết đi giết lại người Thổ thật là kinh khủng.’

Lawrence biết tin về việc chia cắt bí mật vùng Trung Đông của Sykes-Picot và việc ấy làm ông hổ thẹn: ‘Chúng ta đang kêu gọi họ chiến đấu vì chúng ta trên sự dối trá và tôi không thể chịu được.’ Có những lúc ông liều chết trong một cơn tuyệt vọng, ‘hy vọng bị giết khi đang làm nhiệm vụ.’ Ông tự mô tả mình là ‘thân Anh và thân Ả Rập một cách mạnh mẽ’, nhưng ông khinh bỉ chủ nghĩa đế quốc, thích một Arabia độc lập như một lãnh thổ tự trị – nhưng dưới sự bảo hộ của Anh. ‘Tôi nghĩ rằng mình sẽ sống sót và có thể đánh bại không chỉ người Thổ trên chiến trường mà còn đánh bại cả xứ sở của mình cùng các đồng minh của nó trong phòng hội nghị.’

Lawrence tiết lộ cho Faisal biết tin mật của Sykes-Picot đồng thời kế hoạch để sửa chữa nó. Nếu họ muốn tránh một Syria thuộc Pháp, họ phải tự mình giải phóng nó và phải bắt đầu bằng một động thái quân sự ngoạn mục tạo cho họ một thực quyền đối với Syria: Lawrence dẫn dắt lực lượng Faisal vượt qua một hành lang vòng cung ven biển 300 dặm qua sa mạc Jordan khắc nghiệt để đánh chiếm cảng Aqaba.

 

FALKENHAYN NẮM QUYEN CHỈ HUY: JERUSALEM THUỘC ĐỨC

Sau khi trận tấn kích thứ ba của Jemal vào Ai Cập gặp thất bại, quân Anh phản công ngang qua Sinai. Vào mùa xuân 1917, họ đã hai lần bị đánh bại nặng nề tại Gaza bởi 16,000 quân Đức được pháo binh Áo-Hung yểm trợ. Jemal biết rằng họ sẽ tấn công lần nữa. Palestine giờ âm ỉ mưu tính chống Ottoman. Mật vụ của vị pasha phanh phui một ổ gián điệp Do Thái thân Anh, NILI. Các thành viên của họ bị tra tấn – móng tay bị rút ra, xương sọ bị xiết chặt bằng gọng kềm cho đến khi nứt rạn – và rồi bị treo cổ. Tại Jerusalem, cảnh sát Jemal đang săn lùng một tên gián điệp Do Thái khác, Alter Levine, một thi sĩ, thương gia sinh ở Nga, mà họ cho rằng ông đã dựng lên một loạt các ổ gián điệp núp bóng nhà thổ. Levine xuất hiện tại nhà một người bạn, Khalil Sakakini, một giáo viên đáng kính ở Jerusalem, đồng ý che chở ông. Những ổ gián điệp của phe Zionist khiến Đao Phủ nổi giận. Vì vậy tháng 4 ông triệu tập các lãnh sự nước ngoài đến Pháo đài Augusta Victoria, tại đó ông độc thoại, hăm dọa sẽ trục xuất toàn bộ dân cư ở Jerusalem – và sau vụ ‘trục xuất’ người Armenia sai địa chỉ, điều đó có nghĩa là sẽ có hàng ngàn người chết nữa.

‘Chúng tôi thấy minh bắt buộc phải chiến đấu vì Jerusalem, ‘ Jemal bảo với Enver. Họ mời Thống chế Erich von Falkenhayn, nguyên Tổng Tham mưu Đức chỉ huy trận công kích Verdun, đến Jerusalem và cố vấn cách đánh thắng người Anh. Nhưng Enver qua mặt Jemal và đặt tướng Đức nắm quyền chỉ huy tối cao. ‘Trận Verdun của Falkenhayn là thảm họa của quân Đức’, Jemal cảnh báo Enver, ‘và cuộc công kích Palestine của ông ta sẽ là thảm họa của chúng ta.

Vào tháng 6 1917, Jemal tiu nghỉu gặp Falkenhayn tại ga Jerusalem và họ lúng túng khi đứng chung chụp ảnh trên các bậc thang của Vòm Đá. Falkenhayn lập bộ chỉ huy tại Augusta Victoria. Các quán cà phê của thành phố đầy những binh sĩ Đức và sĩ quan của họ thì chiếm Khách sạn Fast. ‘Chúng ta đã vào Miền Đất Thánh,’ một quân nhân Đức trẻ tuổi điển hình, Rudolf Hoess, viết. ‘Những tên tuổi thân thiết cổ xưa trong lịch sử tôn giáo và những câu chuyện các thánh đều ở chung quanh chúng tôi. Và thật khác xa với các giấc mơ thời trẻ biết bao!’ Binh lính Áo đi qua thành phố; binh lính Áo gốc Do Thái cầu nguyện tại Bức Tường Tây. Jemal Pasha rời thành phố và điều quản các tỉnh lỵ của mình từ Damascus. Vị Kaiser cuối cùng cũng kiểm soát Jerusalem – nhưng đã quá muộn.

Vào ngày 28/6, Sir Edmund Allenby đến Cairo nhậm chức tư lệnh mới của Anh. Đúng một tuần sau, Lawrence và quân nhà Sherif chiếm được Aqaba. Ông chỉ mất bốn ngày đi lạc đà, tàu hỏa và tàu hơi nước để đến được Cairo và báo cáo thắng lợi của mình cho Allenby.

Rất ấn tượng trước nhân vật Anh hốc hác trong y phục Bedouin này, Allenby giao phó cho Lawrence và Lữ đoàn Quân Lạc đà Sherif giữ cánh phải độc lập trong quân đoàn của mình.

Ở Jerusalem, các máy bay Anh ném bom Núi Olives. Phụ tá của Falkenhayn, Đại tá Franz von Papen, bố trí việc phòng thủ và lên kế hoạch phản công. Quân Đức đánh giá thấp Allenby và họ bị một đòn bất ngờ khi vào ngày 31/10/1917, ông phát động cuộc tấn công đánh chiếm Jerusalem.

 

LLOYD GEORGE, BALFOUR VÀ WEIZMANN

Khi Allenby tập kết 75,000 bộ binh, 17,000 kỵ binh và một vài xe tăng mới, Arthur Balfour, ngoại trưởng Anh, đang thương thảo một chính sách mới với một nhà khoa học tại Nga, Tiến sĩ Chaim Weizmann. Đó là một câu chuyện đáng kể: một người nhập cư Nga, lang thang quanh Whitehall (một con đường ở London, trung tâm chính quyền Vương quốc Anh) và tạt vào văn phòng một chính khách hùng mạnh nhất trên thế giới để hàn huyên về Israël và Kinh thánh cổ xưa, tranh thủ sự hậu thuẫn của đế chế Anh cho một chính sách sẽ thay đổi Jerusalem một cách triệt để không kém quyết định của Constantine hay Saladin và định hình nên Trung Đông đến tận ngày nay.

Họ đã gặp nhau lần đầu 10 năm trước nhưng mối quan hệ của họ bấp bênh. Balfour có biệt danh Niminy Piminy và Pretty Fanny vì có đôi má hồng hào và cặp chân mảnh khảnh, nhưng cũng có biệt danh Bloody Balfour vì tính khắt khe khi làm tổng thư ký cho Ireland. Ông là dòng dõi giới cự phú Scotland và đại quý tộc Anh – mẹ ông là em gái vị thủ tướng thời Victoria, Robert Cecil. Ông đã đồng hành với người cậu và DIsraëli đến Hội nghị Berlin vào năm 1902. Một triết gia, nhà thơ xoàng và người mê chơi quần vợt, ông không hề lập gia đình và thích bông lông tếu, lời nói đùa ưa chuộng của ông là ‘không có vấn đề gì quan trọng nhiều và rất ít điều thực sự quan trọng’. Ông chắc chắn được nhớ nhiều nhất vì mối quan hệ của mình với Weizmann và Tuyên bố mang tên ông.

Hai người dường như không thể đến từ những thế giới xa lạ hơn. Weizmann là con trai một người buôn bán gỗ từ một ngôi làng Do Thái nhỏ bé gần Pinsk đã thấm nhuần Zionism ngay từ bé và trốn khỏi Nga để học khoa học ở Đức và Thụy Sĩ. Khi ông 30, ông chuyển đến Manchester dạy hóa học tại đại học.

Balfour và Weizmann gặp nhau lần đầu vào năm 1906. Họ trao đổi ngắn ngủi nhưng khó quên. Chính Balfour là người, khi giữ chức thủ tướng vào năm 1903, đã đề xuất giải pháp giao Uganda cho người Zionist.

Cuộc trao đổi giữa họ không đi đến đâu, nhưng Weizmann đã gặp được chính khách đế chế đầu tiên của mình. Balfour thua trong kỳ tổng tuyển cử và trải qua vài năm mất quyền. Trong khi đó, Weizmann mở chiến dịch xây dựng một đại học Hebrew ở Jerusalem, mà ông đến thăm ngắn ngủi không lâu sau khi gặp Balfour. Các nông trại của người Zionist năng động ở Palestine khiến ông phấn chấn, nhưng Jerusalem làm ông khiếp đảm. Đó là ‘một thành phố sống bằng của bố thí, một khu ổ chuột khốn khổ’, nơi ‘chúng ta không có một tòa nhà ra hồn – tất cả thế giới đều có chỗ đứng ở Jerusalem chỉ trừ người Do Thái. Nó khiến tôi ưu sầu và tôi rời thành phố trước khi đêm buông xuống.’

Khi Thế Chiến bắt đầu, Weizmann được triệu tập đến Bộ Hải Quân gặp bộ trưởng Winston Churchill. Ông này hỏi, ‘Nào, Tiến sĩ Weizmann, chúng tôi cần đến 30,000 tấn acetone.’ Weizmann đã khám phá một công thức mới sản xuất ra acetone, chất dung môi dùng trong việc chế tạo thuốc nổ. ‘Ông có thể làm được không?’ Churchill hỏi. Weizmann có thể và đã làm được.

Một vài tháng sau, vào tháng 12 1914, một người bạn chủ báo dẫn Weizmann đến dùng điểm tâm với Lloyd George, lúc ấy là bộ trưởng ngân khố, và đồng nghiệp của ông Herbert Samuel. Weizmann ngạc nhiên khi nhận xét các chính trị gia này có cảm tình với Zionism.

Lloyd George đề nghị sẽ giới thiệu Weizmann với Balfour mà không biết hai người đã biết nhau. Còn Samuel, người Do Thái làm việc trong nội các Anh, tiết lộ mình đang chuẩn bị một bản ghi nhớ về Sự Trở Về của người Do Thái.

Vào tháng 1 1915, Samuel nộp bản ghi nhớ cho thủ tướng, Herbert Asquith: ‘Đã xuất hiện tình trạng khuấy động trong 12 triệu người Do Thái sống rải rác,’ Samuel viết. ‘Ý tưởng về việc phục hồi miền đất cổ cho dân tộc Hebrew nhận được cảm tình rộng khắp.’ Asquith không mặn mòi gì với số phận người Do Thái nhưng cho rằng sẽ là điều sỉ nhục nếu để những Thánh Địa rơi vào tay người Pháp vô thần.

Lloyd George thì quan tâm nhiều đến người Do Thái, và đã từng đại diện người Zionist với tư cách một luật sư 10 năm trước. Khi Thế Chiến bùng nổ, ông đã biến thành một bộ trưởng chiến tranh năng nổ và một nhà đế quốc lãng mạn, do chịu ảnh hưởng của các tác phẩm cổ điển Hy Lạp và Kinh thánh.

Lloyd George giới thiệu Weizmann với Balfour. Balfour nói đùa, ‘Weizmann không cần giới thiệu.’ Ông tiếp đón Weizmann với câu, ‘Vâng, anh không thay đổi nhiều,’ và rồi trầm ngâm, nói tiếp, ‘Anh biết đấy, khi tiếng súng ngưng, anh có thể nhận được Jerusalem. Đúng là anh đang tranh đấu cho một chính nghĩa vĩ đại. Anh phải đến đây một lần nữa và một lần nữa.’ Họ bắt đầu gặp nhau đều đặn, tản bộ quanh Whitehall về đêm và thảo luận một đất nước Do Thái sẽ đối phó ra sao, do những éo le của số phận, đối với những quyền lợi của công lý lịch sử và quyền lực Anh.

Khoa học và Zionism thậm chí trùng lập nhau nhiều hơn vì Balfour giờ làm bộ trưởng Hải quân và Lloyd George là bộ trưởng quân nhu, hai bộ có liên quan nhiều nhất với chuyên môn của Weizmann về thuốc nổ. Thêm một lần nữa, Kinh thánh, sách của Jerusalem, ảnh hưởng đến thành phố hơn 2,000 năm sau khi nó được viết ra. ‘Nước Anh là một quốc gia Kinh thánh,’ Weizmann viết. ‘Những chính khách Anh của trường phái cổ thấm nhuần tôn giáo. Họ hiểu như một thực tế khái niệm về Sự Trở Về. Nó kêu gọi đến truyền thống và tín ngưỡng của họ.’ Cùng với Mỹ, ‘nước Anh đọc Kinh thánh và suy nghĩ Kinh thánh,’ một phụ tá của Lloyd George nhận xét, ‘là xứ sở duy nhất tại đó ước muốn của dân Do Thái được trở về tổ quốc xưa của mình được coi là một khát vọng không thể bị khước từ.’

Có điều gì đó lẩn khuất trong thái độ của họ đối với người Do Thái: các lãnh đạo Anh có cảm tình thực sự đối với tình cảnh bị đát của người Do Thái Nga, nhất là trong chiến tranh sự áp bức càng tăng lên. Các tầng lớp cao Âu châu đã bị choáng trước sự giàu sụ của các nhà tài phiệt Do Thái như nhà Rothschilds. Tuy nhiên điều này cũng gây cho họ hiểu lầm, vì họ không thể xác định liệu người Do Thái có phải là một chủng tộc cao quý của những người hùng kinh thánh bị bức hại hay không, mỗi người họ đều là Vua David hoặc một Maccabee, hoặc một tổ chức âm mưu hiểm ác, những tên hobbit mũi quặp, thần bí có năng lực gần như siêu phàm. Trong một thời đại tràn lan những học thuyết về tính ưu việt của chủng tộc, Balfour tin rằng người Do Thái là ‘chủng tộc tài năng nhất mà nhân loại từng biết kể từ người Hy Lạp thế kỷ thứ 5 TCN’ còn Churchill nghĩ rằng họ thuộc ‘chủng tộc ghê gớm nhất và tài ba nhất’.

Nhưng thời cơ là tất cả trong chính trị. Vào tháng 12 1916 chính phủ Asquith sụp đổ, Lloyd George trở thành thủ tướng, và ông bổ nhiệm Balfour làm ngoại trưởng. Họ sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết để chiến thắng cuộc chiến. Tại thời khắc sinh tử này trong trận chiến lâu dài và khủng khiếp chống quân Đức, thái độ đặc biệt của họ đối với người Do Thái trộn lẫn với sự trùng hợp đặc biệt của các tình huống năm 1917 thuyết phục Lloyd George và Balfour rằng Zionism là thiết yếu giúp nước Anh đạt đến chiến thắng.

Vào mùa xuân 1917, Mỹ bắt đầu tham chiến và Cách mạng Nga lật đổ Sa hoàng Nicholas II. Mối quan tâm chính của Vương quốc Anh là kêu gọi Nga tiếp tục đứng vào hàng ngũ của Đồng minh. Balfour, chuẩn bị công du Mỹ, bảo với các đồng sự của mình rằng ‘đại đa số người Do Thái ở Nga và Mỹ đều tỏ vẻ ưng thuận với Zionism.’ Nếu Anh có thể đưa ra lời tuyên bố ủng hộ Zionism, ‘chúng ta sẽ có thể tiến hành tuyên truyền cực kỳ hữu dụng cả ở Nga lẫn ở Mỹ.

Nếu Nga và Mỹ không đủ khẩn trương, người Anh biết tin rằng người Đức đang xem xét một tuyên bố về Zionist của riêng mình. Suy cho cùng, Zionism là một ý tưởng thuộc Đức-Áo và người Zìonist đặt căn cứ ở Berlin cho tận năm 1914.

Khi Jemal Pasha, nhà độc tài của Jerusalem, viếng thăm Berlin vào tháng 8 1917, y gặp những người Zionist Đức, và tể tướng Ottoman, Talaat Pasha, miễn cưỡng đồng ý xúc tiến ‘một ngôi nhà quốc gia Do Thái’. Trong khi đó, trên biên giới Palestine, Tướng Allenby đang bí mật chuẩn bị tấn công.

Vào ngày 9/11, Balfour ban hành Tuyên bố của mình, phát biểu: ‘Chính quyền Vương quốc Anh đồng thuận việc thiết lập ở Palestine một lãnh thổ quốc gia cho dân tộc Do Thái, được hiểu rõ ràng là không có gì sẽ được thực hiện có thể gây thiệt hại cho các quyền lợi tôn giáo và dân sự của các cộng đồng phi Do Thái đang hiện diện.’

Tuyên bố nhằm mục đích tách rời người Do Thái Nga khỏi chủ nghĩa Bôn-se-vich nhưng ngay chính cái đêm nó được ban hành, Lênin chiếm lấy quyền lực ở Peterburgs. Nếu Lênin ra tay sớm hơn vài ngày, Tuyên bố Balfour có thể không bao giờ được ban hành.

Khi Allenby đột nhập vào Palestine, Lloyd George hô hào kêu gọi đánh chiếm Jerusalem như một món quà Giáng Sinh cho nước Anh.

 

5

Chaim Weizmann miệt mài tranh đấu cho giấc mơ trở về đất cũ của người Do Thái, đã lôi kéo được những người có thế lực nhất của đế chế Anh, Lloyd George, Churchill và Balfour, đến với Zionism, trong khi Lawrence xiển dương chính nghĩa Ả Rập.

❀ ❀ ❀

[1] Họ lấy tên của triều đại từ Hashem, nội tổ của Nhà Tiên Tri. Họ là dòng dõi của Muhammad qua con gái ông Fatimah và cháu nội Hassan, từ đó có tước hiệu Sherif (hay Sharif, tiếng Ả Rập có nghĩa là ‘Cao quý’).Họ xưng là Hashemite, còn người Anh gọi họ là Sherifian).

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.