CÁI CHẾT CỦA VỊ SULTAN
Vào ngày 2/9/1192, sultan và vua đồng ý với Hiệp ước Jaffa, sự chia cắt Palestine đầu tiên: vương quốc Cơ đốc nhận một cơ hội sống với Acre là kinh đô, trong khi Saladin nắm giữ Jerusalem, và cho phép người Cơ đốc toàn quyền đến Mộ Thánh.
Trên đường trở lại Jerusalem, Saladin gặp người em Safadin. Họ cùng cúi hôn mặt đất để cảm tạ Thượng Đế và cầu nguyện ở Vòm Đá. Mặc dù Richard từ chối đi thăm Jerusalem của người Hồi, các hiệp sĩ của ông tụ tập ở đó để hành hương và được Saladin đón tiếp. Vị sultan cho họ thấy Thập Giá Thực, nhưng sau đó thánh tích tột đỉnh này bị thất lạc – và biến mất mãi mãi. Khi cố vấn nhà vua Hubert Walter đến Jerusalem, ông luận bàn với Saladin về Richard. Theo quan điểm của Saladin, Richard thiếu khôn ngoan và kềm chế. Nhờ Walter, Saladin cho phép các thầy tu Latinh trở lại Mộ Thánh. Khi hoàng đế Byzantine Isaac Angelus cũng yêu cầu điều đó cho Chính thống giáo, Saladin quy định rằng họ phải chia sẻ cùng nhau dưới sự giám sát của mình và bổ nhiệm Sheikh Ghanim al-Khazraji làm Quản đốc Nhà Thờ, một vai trò còn được thi hành tận ngày nay bởi các hậu duệ của ông, dòng họ Nusseibeh.
Hai kình dịch không hề gặp nhau. Vào ngày 9/10, Richard giong buồm về châu Âu.
Trên đường về, Richard bị bắt và chuyển giao cho hoàng đế Đức Henry VI, và ông bị tống giam hơn một năm trời, cho đến khi nước Anh nộp đủ số tiền chuộc lớn. Ông tiếp tục đánh nhau với vua Pháp, mang về nhà một số chiến binh Saracen và bí quyết làm ra Lửa Hy Lạp. Năm 1199, bao vây một lâu đài Pháp nhỏ, ông bị giết bởi một phát tên của cung thủ. Steven Runciman viết, ‘Ông là một đứa con trai tồi, một người chồng tổi và một vị vua tồi nhưng là một chiến binh quả cảm và phi thường.’
Saladin bổ nhiệm thư ký Ibn Shaddad làm giám sát các dự án của ông ở Jerusalem, rồi lên đường về Damascus.
Ở đó, những niềm vui gia đình đang chờ đợi ông – ông có đến 17 con trai – nhưng giờ đây ông đã 54 và đã mệt mỏi. Con trai ông Zahir bịn rịn không đành rời xa cha, dường như linh cảm họ sẽ không bao giờ gặp nhau lần nữa: xúc động, anh cứ nói lời chia tay, rồi quay ngựa lại để hôn từ biệt cha lần nữa. Tại hoàng cung, Ibn Shaddad trông thấy Saladin đang chơi đùa với một trong các con trai bé con của mình dưới cổng ngoài hoa viên trong khi các ông lớn người Frank và các amir đang đợi để được vào yết kiến.
Một vài ngày sau, sau khi tiếp đón đoàn người đi hành hương Mecca về, ông bị một cơn sốt nặng, ắt hẳn là do viêm phổi. Các thầy thuốc trích máu ông, nhưng bệnh ông càng nặng hơn. Khi ông đòi nước ấm, ông thấy nước mang đến sao quá lạnh. ‘Trời đất ơi!’ ông kêu lên. ‘Bộ không ai có thể đem đến nước đúng ý ta hay sao!’ Vào bình minh ngày 3/3 1193, ông mất khi đang nghe đọc Kinh Koran. ‘Nếu được, tôi và nhiều người khác sẵn sàng thế mang cho ngài,’ Ibn Shaddad viết, và suy gẫm:
Rồi những năm tháng này và những kẻ tham dự này rồi sẽ ra đi
Như thế tất cả họ chỉ từng là những giấc mơ
MUAZZAM ISA: MỘT JESUS KHÁC
Các con trai của Saladin trải qua sáu năm tiếp theo nồi da xáo thịt với những cấu kết luôn thay đổi, được người chú Safadin sắc sảo hoà giải. Ba con trai lớn nhất Afdal, Zahir và Aziz nhận được Damascus, Aleppo và Egypt, trong khi Safadin cai trị Outrejourdain và Edessa.
Afdal, giờ đã 22, thừa hưởng Jerusalem mà ông yêu quí. Ông cho xây Thánh đường Omar ngay sát bên Mộ Thánh và cho người bắc Phi định cư trong khu Maghrebi tại đó ông xây dựng Afdaliyya Madrassa cách Bức Tường Tây vài mét.
Afdal, say sưa và bất tài, thấy khó khơi dậy lòng trung thành và Jerusalem bị ném qua ném lại giữa các anh em đấu đá nhau. Ngay khi Aziz chiến thắng cuộc chiến và nổi lên như một sultan, ông liền bị giết khi ra ngoài săn bắn. Các anh em còn lại Afdal và Zahir cấu kết chống lại chú mình, nhưng bị Safadin đánh bại cả hai và ôm trọn đế chế, cai trị như một sultan trong 20 năm. Lạnh lùng, lịch lãm và khó lay chuyển, Safadin không như Saladin: không người đương đại nào dành cảm tinh cho ông, nhưng ai cũng tôn trọng ông. Ông thành công một cách xuất sắc, chắc chắn là người có năng lực nhất trong thời đại mình. Ở Jerusalem, Safadin ủy thác việc xây cổng đôi – Cổng Dây Xích và Cổng Sự Hiện Diện Linh Thiêng, chắc chắn tại vị trí Cổng Đẹp của Thập Tự quân – sử dụng chiến lợi phẩm sắc sảo của địch từ nhà nguyện của Hiệp sĩ Đền Thánh – đến nay vẫn còn là lối vào chính phía tây đến Núi Đền. Nhưng thậm chí trước khi ông trở thành sultan, vào năm 1198, con trai thứ hai của ông, Muazzam Isa (Isa tiếng Ả Rập của từ Jesus), được ban cho đất Syria.
Vào năm 1204, Muazzam lập Jerusalem làm thủ đô, và cung điện của Amaury là nơi ở của mình. Là thành viên được yêu mến nhất của gia tộc kể từ sau bác Saladin, Muazzam là người dễ gần và cởi mở. Khi ông đến thăm các học giả để học tập triết học, ông đơn giản đi bộ đến nhà họ như một sinh viên bình thường. ‘Tôi gặp ông ở Jerusalem,’ sử gia Ibn Wasil nhớ lại. ‘Đàn ông, đàn bà và trẻ em xô đẩy ông và không ai đuổi họ đi. Mặc dù có tính táo bạo và ý thức cao về danh dự, ông không mấy ưa sự phô trương. Ông đi ngựa mà không cần những nghi thức hoàng gia, chỉ đem theo đội hộ tống ít người. Đầu đội chiếc mũ vải vàng, ông đi qua chợ và đường phố mà không cần người dẹp đường cho mình.’
Là một trong những người xây dựng nhiều nhất của Jerusalem, Muazzam phục dựng tường thành, xây 6 tháp canh đồ sộ và biến cải những công trình Thập Tự quân trên Núi Đền thành những điện thờ Hồi giáo.
Vào năm 1209, ông định cư 300 gia đình Do Thái từ Pháp và Anh đến Jerusalem. Khi thi sĩ Do Thái ở Tây Ban Nha là Judah al-Harizi thực hiện chuyến hành hương của mình, ông ca tụng triều đại Muazzam và Saladin cho dù ông thương tiếc Đền Thờ: ‘Chúng tôi ra ngoài mỗi ngày để khóc than cho Zion, chúng tôi sầu não cho các cung điện bị tàn phá, chúng tôi leo lên Núi Olives để nằm xấp người trước Sự Vĩnh Cữu. Lòng dạ dày vò xiết bao khi nhìn thấy những vuông sân linh thiêng của chúng tôi biến thành một đền thờ xa lạ.’ Thình lình, vào năm 1218, những thành tựu của Muazzam bị lâm nguy khi John xứ Brienne, Vua Jerusalem trên danh nghĩa, dẫn đầu Cuộc Thập Tự Chinh thứ 5 tấn công Ai Cập.
Hoàng hậu Isabella của Jerusalem không gặp may mắn trong hôn nhân: người chồng thứ ba của bà Henry xứ Champagne cai trị Acre như vua Jerusalem và có hai con gái với bà – nhưng, trong lúc duyệt binh đoàn Thập Tự quân Đức, ông đãng trí bước lui và rơi ra ngoài cửa sổ. Sau đó bà cưới Amaury xứ Lusignan, Vua xứ Cyprus, rồi cũng chết vì bội thực cá đối trắng vào năm 1205. Khi bà mất, còn gái bà Maria – giờ là bà hoàng Jerusalem – lấy hiệp sĩ John xứ Brienne, và họ có với nhau cô con gái Yolande.
Các Thập Tự quân bao vây cảng Damietta. Safadin, giờ đã tuổi 74, cầm đầu quân đội xuất chinh nhưng mất trước khi ông nghe tin Tháp Dây Xích của Damietta đã thất thủ. Muazzam vội vã từ Jerusalem đến Ai Cập để cứu viện anh Kamil của mình, là vị Sultan mới của Ai Cập. Nhưng hai anh em hoảng loạn và hai lần đề nghị giao Jerusalem cho Thập Tự quân nếu họ chịu từ bỏ Ai Cập. Vào mùa xuân 1219, trong khi đế chế của gia tộc bị lâm nguy, Muazzam ra một quyết định đau lòng là phá hủy tất cả những tường thành của mình ở Jerusalem, lập luận rằng ‘nếu người Frank chiếm được nó, họ sẽ giết hết mọi người ở đó và thống trị Syria’.
Jerusalem bỏ ngỏ và chỉ còn phân nửa người ở – dân cư đã bỏ đi hàng loạt. ‘Đàn bà, con gái và ông lão tụ tập trên Haram, xén tóc và quần áo và vung vãi khắp nơi’ như thể đó là ‘Ngày Phán Xét’. Vậy mà Thập Tự quân từ khước một cách điên rồ lời đề nghị của hai anh em về Jerusalem – và Thập Tự quân cũng tự nó tan rã.
Khi Thập Tự quân đã bỏ đi, Kamil và Muazzam, mới đây đã đoàn kết quá khắng khít trong cơn khủng hoảng tột cùng, lại lao vào trận huynh đệ tương tàn xấu xa để chiếm thế thượng phong. Jerusalem không thực sự phục hồi cho đến thế kỷ 19. Thành phố phải chịu cảnh không có tường thành trong ba thế kỷ. Nhưng nó sắp sửa trao tay một lần nữa trong một thỏa thuận hoà bình mong manh nhất.
HOÀNG ĐẾ FREDERICK II: KỲ QUAN CỦA THỂ GIỚI, QUÁI THÚ NGÀY KHẢI HUYỀN
Vào ngày 9/11/1225, tại thánh đường ở Brindisi, Frederick II, Hoàng đế La Mã Thần Thánh và Vua xứ Sicily cưới Yolande, Hoàng hậu 15 tuổi của Jerusalem. Ngay khi lễ cưới đã xong, Frederic nắm tước vị vua Jerusalem, sẵn sàng lên đường cho cuộc Thập Tự Chinh. Kẻ thù của ông phao tin rằng ông bắt đầu quyến rũ các cô hầu của người vợ mới trong khi vẫn ve vãn các nàng hầu Saracen của mình. Điều này làm khiếp đảm cha vợ John xứ Brienne của ông và làm giáo hoàng bực bội. Nhưng Frederick đã là vị vua hùng mạnh nhất châu Âu – sau này ông được biết dưới danh hiệu Stupor Mundi, Kỳ quan của Thế giới – và ông làm mọi việc theo ý mình.
Frederick xứ Hohenstaufen, mắt xanh lá và tóc đỏ, nửa Đức nửa Norman, lớn lên ở Sicily và không ở đâu khác trong châu Âu có một triều đình như của ông ở Palermo, phối hợp các nền văn hóa Norman, Ả Rập và Hy Lạp trong một sự hòa quyện của Cơ đốc giáo và Hồi giáo. Chính môi trường trưởng thành này đã khiến Frederick hóa ra bất thường và ông không ngại khoa trương tính lập dị của mình. Đoàn tùy tùng của ông thường gồm có một hậu cung, một sở thú, 50 người huấn luyện chim ưng (ông đã viết một bộ sách vềNghệ Thuật Săn với Chim Ưng),một đội vệ sĩ Ả Rập, các học giả Hồi giáo và thường một nhà ma thuật và huyền bí thuật. Ông chắc chắn có nhiều đặc tính Levant về mặt văn hóa hơn bất kỳ ông vua nào trong Cơ đốc triều nhưng điều này không khiến ông thôi đánh dẹp thẳng tay các cuộc nổi dậy Ả Rập ở Sicily. Ông trục xuất người Ả Rập khỏi Sicily nhưng xây cất cho họ một thị trấn Ả Rập ở Lucera với thánh đường riêng và một cung điện mà ông thường lui tới. Tương tự ông áp đặt những luật bài Do Thái trong khi vẫn bảo trợ cho các bác học Do Thái, chào đón những người định cư Do Thái và ra lệnh đối xử họ công bằng.
Frederick xem trọng quyền lợi của mình và gia đình một cách rất nghiêm túc: ông thực sự là một tín đồ Cơ đốc chuẩn mực, tin tưởng rằng là hoàng đế minh phải là một nhà cai trị thần thánh theo khuôn mẫu Byzantine và là hậu duệ bao thế hệ những Thập Tự quân và người kế thừa Charlemagne, ông có nghĩa vụ phải giải phóng Jerusalem. Ông đã hai lần tuyên thệ nhận sứ mạng nhưng cứ hoãn lại ngày lên đường.
Giờ là vua Jerusalem, ông lên kế hoạch cuộc viễn chính của mình một cách hăng hái – nhưng tất nhiên theo phong cách của ông. Ông để hoàng hậu Jerusalem có bầu ở lại hậu cung Palermo, hứa với giáo hoàng rằng mình đang lên đường Thập Tự Chinh – nhưng Yolande, tuổi 16, chết sau khi sinh con trai. Vì Frederic là vua Jerusalem qua hôn nhân, con trai ông giờ nắm giữ tước vị. Nhưng ông sẽ không để chi tiết ấy ảnh hưởng đến cuộc viễn chính đang đến gần.
Hoàng đế hi vọng chiếm lại được Jerusalem bằng cách khai thác sự tranh chấp trong dòng họ Saladin. Thật ra vị sultan Kamil đã đề nghị giao cho ông Jerusalem đổi lại việc ông hỗ trợ ông ta chống lại Muazzam, người đang làm chủ thành phố. Frederick cuối cùng cũng xuất binh vào năm 1227, nhưng rồi phát bệnh phải quay về – vì vậy mà Giáo hoàng Gregory IX rút phép thông công của ông, quả là một sự bất tiện đối với một Thập Tự quân. Ông cho các Hiệp sĩ Teutonic và bộ binh đi trước và đến khi ông hợp quân với họ tại Acre vào tháng 9 1228, thì Muazzam đã mất và Kamil đã chiếm lấy Palestine – và tất nhiên đã rút lại đề nghị trước đây của mình.
Tuy nhiên, Kamil giờ đang phải đánh nhau với các con trai của Muazzam cũng như với Frederic và quân đội của ông. Y không thể xử lý cả hai mối đe doạ. Hoàng đế và sultan quá yếu để có thể đánh nhau giành lấy Jerusalem vì thế họ mở những cuộc đi đêm với nhau.
Kamil cũng không chuẩn mực như Frederick. Khi còn trẻ y đã từng được Tim Sư Tử phong chức hiệp sĩ. Trong khi hoàng đế và sultan thương thảo việc phân chia Jerusalem, họ tranh luận về triết học của Aristotle và hình học Ả Rập. ‘Ta thực sự không có tham vọng giữ lấy Jerusalem,’ Frederick bảo với phái đoàn đàm phán của Kamil, ‘ta chỉ muốn bảo vệ danh tiếng của mình với người Cơ đốc.’ Người Hồi tự hỏi có phải đạo Cơ đốc chỉ là ‘một trò chơi đối với ông ta hay không’. Vị sultan gởi cho hoàng đế ‘các nữ vũ công’ trong khi hoàng đế khoản đãi các quan khách Hồi những nữ vũ công Cơ đốc. Giáo trưởng Gerold lên án những gái gú xướng ca và bọn xiếc tung hứng là ‘những người không chỉ bị tai tiếng mà còn không xứng đáng được người Cơ đốc nhắc đến’, nhưng ông bỏ ngoài tai. Giữa các phiên đàm phán, Frederick đi săn với chim ưng và quyến rũ các nhân tình mới, và sáng tác những bài hát rong ướt át.
Khi cuộc đàm phán chao đảo, Frederick dẫn quân dọc bờ biển đến Jaffa theo bước chân của Richard trước đây, đe đọa Jerusalem. Vậy mà mẹo này có hiệu quả và vào ngày 11/2/1229, ông đạt được điều chưa từng mơ đến: để đổi lấy 10 năm hoà bình, Kamil nhượng bộ Jerusalem và Bethlehem với một hành lang đi ra biển. Ở Jerusalem, người Hồi làm chủ Núi Đền nhưng cho phép đi lại và thờ cúng tự do dưới quyền giám sát của cácqadi(quan tòa) của họ. Thỏa thuận phớt lờ người Do Thái (hầu hết đã trốn khỏi thành phố), nhưng hiệp ước chia sẻ chủ quyền này vẫn còn là thỏa thuận hòa bình táo bạo nhất trong lịch sử Jerusalem.
Vậy mà cả hai khu vực đều khủng hoảng. Ở Damascus, con trai của Muazzam Nasir Daud ra lệnh quốc tang. Dân chúng khóc gào nức nở khi nghe tin. Kamil nhấn mạnh, ‘chúng tôi chỉ nhượng bộ một số nhà thờ và các tòa nhà bị phá hủy. Các khu vực linh thiêng và Vòm Đá tôn kinh vẫn là của chúng tôi.’ Nhưng hiệp ước có kết quả đối với ông – nhờ đó ông có thể thống nhất đế chế Saladin dưới quyền trị vì của mình. Về phần Frederick, Giáo trưởng Gerold ngăn cấm nhân vật bị rút phép công đến thăm Jerusalem, và các Hiệp sĩ Đền Thánh lên án ông không giành được Núi Đền.
Vào thứ bảy ngày 17 tháng 3,Frederick, được cận vệ người Ả Rập và tùy tùng, binh lính Đức và Ý, Hiệp sĩ Teutonic, và hai giám mục Anh, được đại diện sultan Shams al-Din đón tiếp tại Cổng Jaffa để giao chìa khóa của Jerusalem.
Đường phố vắng ngắt, nhiều người Hồi đã bỏ thành phố ra đi, người Syria Chính thống giáo cau có vì người Latinh lại trỗi dậy – và thời gian của Frederick lại quá ngắn: Giám mục xứ Caesarea đang lên đường để áp đặt lệnh cấm của giáo trưởng và đặt thành phố dưới lệnh cấm.
CUỘC ĐĂNG QUANG CỦAFREDERICK II: JERUSALEM THUỘC ĐỨC
Sau khi qua một đêm trong lâu đài của Thủ lĩnh Hiệp sĩ Cứu tế, Frederick tổ chức lễ Mét trong Mộ Thánh, giờ không còn giáo sĩ mà chỉ chứa đầy những binh lính Đức. Ông đặt vương miện lên áng thờ Calgary rồi đội nó lên đầu, một nghi lễ đăng quang với mục tiêu tự phóng chiếu mình là một vị quân vương lẫm liệt và phổ quát của Cơ đốc triều. Ông giải thích với Henry III nước Anh: ‘Chúng ta là Hoàng đế Cơ đốc đội vương miện mà Đấng Toàn Năng đã ban cho chúng ta từ ngôi báu của Ngài, với hồng ân của Ngài Ngài thăng hoa chúng ta lên cao tột trong số những ông hoàng của thế giới trong ngôi nhà của tôi tớ Ngài là David.’
Frederick không phải là người đánh giá thấp tầm quan trọng của mình: việc đạo diễn hoành tráng và kỳ quái là lễ đăng quang của một vì vua thiêng liêng, một Hoàng đế thần bí của Ngày Tận Thế, trong Nhà Thờ mà ông coi là đền thờ Vua David.
Sau đó, hoàng đế đi tham quan Núi Đền, khâm phục Vòm Đá và al-Aqsa, ca tụngmihrab(hốc tường quay về hướng Mecca để cầu nguyện) diễm lệ của nó, treo lên tận áng thờ của Nur al-Din. Khi ông trông thấy một giáo sĩ tay cầm cuốn Tân Ước tính bước vào al-Aqsa, ông xô ngã y, quát: ‘Đồ con lợn! Nói có Trời nếu có ai trong số các ngươi đến đây lần nữa mà chưa được phép, ta sẽ lấy mắt các ngươi!’

Hoàng đế Frederick II, được biết dưới biệt hiệu Stupor Mundi – Kỳ Quan Thế Giới đối với một số người, Kẻ Chống-Christ đối với người khác – đang bước vào Thành phố Thánh.
Người bảo vệ Hồi không biết phải làm gì với thủ lĩnh tóc đỏ này: ‘Nếu y là một nô lệ, y sẽ không có giá đến 200 dinar,’ một người trong số họ lẩm bẩm. Đêm đó Frederick nhận xét là không nghe tiếng hô của các muezzin; ông hỏi người đại diện của vị sultan, ‘Sao đêm qua không nghe các muezzin loan báo giờ cầu nguyện?’
‘Tôi căn dặn các muezzin không kêu gọi vì tôn trọng ngài,’ vị đại diện đáp.
‘Vậy là ngươi sai rồi,’ Frederick nói. ‘Mục đích chính của ta khi ngủ qua đêm ở Jerusalem là để nghe các muezzin và tiếng họ vang lên ca tụng Thượng Đế giữa đêm khuya.’ Khi các muezzin phát lời kêu gọi cầu nguyện buổi trưa, ‘tất cả tôi tớ và nội thị của ông cũng như thầy dạy của ông’ đều nằm sấp để cầu nguyện.
Sáng hôm đó, Giám mục xứ Caesarea đến với lệnh cấm. Hoàng đế rời đội quân đồn trú của mình trong Tháp David và hướng về Acre nơi ông đối mặt với sự hiềm khích vô ơn của các ông lớn và Hiệp sĩ Đền Thánh. Giờ trước sự công kích của giáo hoàng ở Ý, hoàng đế hoạch định một chuyến khởi hành bí mật, nhưng vào bình minh ngày ⅕ đám đông dân chúng Acre, thu nhặt bộ đồ lòng bị loại bỏ trên Phố Đồ tể, thi nhau ném vào ông nào ruột rà, nào phèo phổi.
Ông không nán lại Jerusalem lâu và không hề quay lại, nhưng Frederick vẫn chính thức là ông chủ của Jerusalem trong 10 năm. Frederick giao Tháp David và hoàng cung cho các Hiệp sĩ Teutonic. Ông ra lệnh thủ lĩnh của họ, Hermann xứ Salza và Giám mục Peter xứ Winchester, tu sửa Tháp (một số công trình còn tồn tại đến ngày nay) và củng cố Cổng St Stephen (ngày nay là Damascus). Người Frank lấy lại nhà thờ và nhận lại những sở hữu cũ’. Người Do Thái lần nữa bị cấm cửa. Không có tường thành, Jerusalem không được an toàn: nhiều tuần sau, những imam của Hebron và Nablus dẫn 15,000 nông dân vào thành phố trong khi người Cơ đốc chui rúc trong Tháp. Acre phái một đạo quân đến đánh đuổi bọn xâm chiếm Hồi giáo và Jerusalem trở lại của người Cơ đốc.
Frederick và Kamil duy trì mối quan hệ bạn bè: vị sultan gửi tặng hoàng đế một mô hình thiên văn có chạm đá quí, vừa là đồng hồ vừa là bản đồ chuyển động của bầu trời – và một con voi; Frederick gửi tặng Kamil một gấu bắc cực. Frederick bỏ ra phần thời gian còn lại của đời mình trong cuộc chiến dai dẳng với giáo hoàng đế bảo vệ quyền thừa kế ở Đức và Pháp. Chính các giáo hoàng là người mạ lỵ ông là Quái vật của Ngày Khải Huyền. Con trai cả của ông Vua Henry của người La Mã phản bội ông; Frederick tống giam y suốt đời, bổ nhiệm Conrad làm Vua Jerusalem, con trai ông với Yolande, làm người kế vị ông ta. Kỳ quan chết vì bệnh tiêu chảy vào năm 1250, và được chôn cất ở Palermo. Conrad chết trẻ, vương miện Jerusalem được con trai còn nhỏ của Conrad là Conradin thừa kế, nhưng rồi cũng bị chặt đầu lúc 16 tuổi. Nhưng tiếng tăm của Frederick vẫn tăng lên: khi thời gian đi qua, những người cấp tiến ca ngợi tính khoan thứ mang tính hiện đại của ông; trong khi Hitler và Quốc xã ngưỡng mộ ông là một siêu nhân theo kiểu mẫu của triết gia Đức Nietzsche.
Năm 1238, Sultan Kamil qua đời, ném triều đại Saladin lún sâu hơn vào những xâu xé nội bộ, và tình hình càng trầm trọng hơn với cuộc thập tự chinh mới dưới sự lãnh đạo của Bá tước Thibault xứ Champagne. Khi các Thập Tự quân bị đánh bại, con trai của Muazzam, Nasir Daud, phi ngựa về Jerusalem và bao vây Tháp David trong 21 ngày cho đến khi nó thất thủ vào ngày 7/12/1239. Rồi ông phá hủy tất cả tường thành công sự mới xây, và các ông hoàng đang hiềm khích nhau của dòng họ Saladin cùng nhau tuyên thệ trên Núi Đền sẽ sống chung hòa bình. Nhưng mối xung đột trong gia quyến và sự xuất hiện của Thập Tự Chinh của Anh dưới quyền chỉ huy của em trai Henry III, Richard, Bá tước xứ Cornwall, một lần nữa buộc Jerusalem phải đầu hàng trước người Frank. Lần này các Hiệp sĩ Đền Thánh trục xuất người Hồi và chiếm lại Đền Thánh: Vòm Đá và al-Aqsa một lần nữa trở thành nhà thờ. ‘Tôi trông thấy những thầy tu đang quản lý Tảng Đá Thiêng,’ Ibn Wasil nhớ lại. ‘Tôi nhìn thấy trên đó nhiều chai rượu thánh dành cho lễ Mét.’ Hiệp sĩ Đền Thánh bắt đầu củng cố Thành phố Thánh – nhưng không đủ nhanh: để trấn áp những đối thủ trong gia quyến, vị sultan mới Salih Ayyub đã thuê một bầy rợ Tác-ta cướp bóc, những tay ngựa du mục vùng Trung Á bị đế chế Mông Cổ mới nổi lên dồn về phía nam. Nhưng ông ta không kềm chế được chúng. Trước sự khiếp đảm của người Cơ đốc xứ Acre, 10 vạn rợ Tác-ta ào ạt tiến về Jerusalem.
BARKA KHAN VÀ RỢ TÁC-TA: ĐẠI THẢM HOẠ
Vào ngày 11/7/1244, rợ Tác-ta do Barka Khan dẫn đầu phí ngựa vào Jerusalem, vừa đi vừa chém giết trên đường phố, xông vào tu viện Armenia và tàn sát thầy tu và nữ tu. Họ đập phá nhà thờ và nhà dân, cướp bóc Mộ Thánh và phóng hỏa nó. Tiến đến nhóm giáo sĩ đang làm lễ Mét, rợ Tác-ta chặt đầu và moi ruột họ ngay tại áng thờ. Thi hài các nhà vua Jerusalem bị đào lên, các quách tinh xảo bị đập nát; tảng đá trước nhà mộ của Jesus bị đập nát vụn. Người Frank, bị vây hãm trong Tháp, cầu cứu Nasir Daud. Ông này thuyết phục Barka cho phép quân đồn trú ra đi an toàn.
6,000 người Cơ đốc rời đi định đến Jaffa, nhưng khi thấy cờ Frank trên tường thành, tưởng rằng cứu viện đã đến, nhiều người bèn quay lại. Bọn Tác-ta tàn sát 2,000 trong số đó. Chỉ non 300 người Cơ đốc đến được Jaffa. Khi họ đã hoàn toàn phá hủy thành phố, rợ Tác-ta phóng ngựa bỏ đi.[1] Bốc khói nghi ngút và tan hoang Jerusalem sẽ không thuộc về Cơ đốc lần nữa cho đến năm 1917.
Vào năm 1248, Vua Louis XI dẫn đầu một cuộc Thập Tự Chinh hiệu quả cuối cùng và thêm một lần nữa, Thập Tự quân hi vọng chiếm lại Jerusalem bằng cách chinh phục Ai Cập. Vào tháng 11 1249 Thập Tự quân tiến vào Cairo, tại đó Sultan
Salih Ayyub vừa mất. Vợ góa của ông, vị sultana, Shajar al-Durr, nắm quyền, triệu hồi người con riêng của chồng Turanshah từ Syria về. Thập Tự quân đã đi quá xa và bị quân mamluk, trung đoàn thiện chiến gồm những chiến binh nô lệ, đánh tan. Louis bị bắt. Nhưng vị sultan mới Turanshah phớt lờ công lao của các chiến binh này: vào ngày 2/5/1250, giữa lúc y đang mở tiệc chiêu đãi mừng chiến thắng, có sự tham dự của nhiều tù binh Thập Tự, thì quân mamluk, được một người to lớn tóc vàng tên Baibars, khi đó mới 27 tuổi, cầm đầu, ùa vào, kiếm tuốt ra.
Baibars chém vị sultan, y chạy về phía sông Nile máu tuôn trên bước chân khi quân mamluk bắn tên vào người y. Y đứng giữa sông, mình đầy thương tích, van xin tha mạng nhưng một tên mamluk đã bì bõm bước về phía y, cắt lấy đầu y và chém toang ngực y. Trái tim y được cắt ra và đưa cho Vua Louis của Pháp xem tại bữa tiệc; ẳt hẳn nhà vua ăn uống hết ngon.
Thế là kết thúc triều đại Saladin ở Ai Cập, một sự sụp đổ xô đẩy Jerusalem, giờ nửa vắng vẻ, nửa tan hoang, vào 10 năm hỗn loạn bị ném qua lại giữa các tướng quân và hoàng thân quốc thích khác nhau giành giật quyền lực * trong khi một bóng đen đáng sợ đang buông xuống vùng Trung Đông.
Có lúc, Jerusalem được cai trị từ Syria, có lúc từ Cairo nơi Shajar al-Durr tự phong là sultana trong quyền hạn của mình. Đây là thành tựu duy nhất của nữ giới Hồi giáo và là khởi nguồn của nhiều truyền thuyết. Khi là một hầu thiếp trẻ, cô đã lọt vào cặp mắt của sultan bằng cách diện một chiếc áo kết hoàn toàn bằng ngọc trai, từ đó có tênShajar al-Durr, Cây Ngọc Trai.
Giờ bà cần một người nam hậu thuẫn vì thế bà lấy một sĩ quan mameluk, Aibeg, người sẽ trở thành sultan. Nhưng cặp vợ chồng sớm chia tay nhau và bà cho người đâm ông khi đang tắm. Sau 80 ngày cai trị người mamluk hạ bệ bà. Trước khi trốn thoát, bà nghiền tất cả kim cương nổi tiếng của mình thành bột để không phụ nữ nào sở hữu được chúng. Khi bà bị bắt, các hầu thiếp của Aibeg (có lẽ phẫn nộ vì không được thừa hưởng số nữ trang) đập bà đến chết bằng những chiếc guốc của họ.
Vào năm 1258, người Mông Cổ, dân tộc theo Saman giáo từ vùng Viễn Đông đã chinh phục đế chế rộng lớn nhất mà thể giới từng biết, cướp phá Baghdad, tàn sát 80,000 người và giết hại vị kha-lip. Họ chiếm Damascus và phi ngựa xa tận Gaza, trên đường cướp phá Jerusalem. Đạo Hồi cần một vị thủ lĩnh vô địch hung dữ để đánh bại chúng. Người đứng lên chấp nhận thách thức là Baibars.

Saladin và gia tộc ông tái Hồi giáo hóa Jerusalem, thường sử dụng chiến lợi phẩm của Thập Tự quân. Người Hồi coi Vòm Thăng Thiên, được xây dựng năm 1200 trên Núi Đền, là địa điểm chuyến Dạ Hành của Muhammad. Nhưng chính người Mamluk mới thực sự tạo ra Khu Hồi giáo ngày nay. Sultan Nasir al-Muhammad xây Chợ Bông Vải theo phong cách Mamluk đặc biệt; Sultan Qaitbay ủy thác xây dựng giếng nước này trên Núi Đền.

❀ ❀ ❀
[1] Lũ Tác-ta này cuối cùng bị dòng dõi của Saladin đánh bại vào năm 1246. Say sưa trong chiến thắng, Barka Khan bị bêu đầu, thủ cấp ông được treo ở Aleppo. Nhưng con gái ông cưới một thủ lĩnh Mamluk Baibars, vị sultan tương lai; các con trai của ông trở thành những amir hùng mạnh.