ALEXANDER ĐẠI ĐẾ
Trong vòng ba năm sau khi vua cha băng hà vào năm 336 TCN, Alexander đã hai lần đánh bại vua Ba Tư Darius III, buộc y phải rút quân về đông. Lúc đầu Alexander không truy đuổi, mà hành quân dọc theo bờ biển hướng về Ai Cập và ra lệnh cho Jerusalem đóng góp lương thảo cho quân đội ông. Giáo trưởng lúc đầu từ chối. Nhưng không được lâu: khi Tyre kháng cự ông, Alexander vây hãm thành phố và khi nó thất thủ, ông đóng đinh tất cả người còn sống sót trong thành.
Alexander ‘cấp tốc hành quân đến Jerusalem’, sử gia Do Thái Josephus viết sau đó rất lâu, cho rằng nhà chinh phục được các giáo trưởng trong lễ phục tím và đỏ tía và tất cả cư dân Jerusalem thì lễ phục trắng tinh chào đón tại cổng thành. Họ rước ông vào Đền Thờ làm lễ hiến tế Chúa Trời Do Thái. Câu chuyện trên có lẽ do tưởng tượng mơ mộng: chắc chắn hơn là giáo trưởng, cùng với các lãnh đạo dân Samaritan xứ Samaria bán-Do Thái đến trình diện Alexander tại bờ biển ở Rosh Ha Ayim nơi ông đóng quân và rằng, bắt chước Cyrus, ông công nhận quyền được sống theo luật lệ của họ.
Người Samaritan đã phát triển giáo phái bán-Do Thái riêng rẽ của họ, dựa trên Do Thái giáo được tạo ra trước khi đưa vào những luật lệ mới thuộc Babylon. Dưới đế chế Ba Tư, Samaria được cai trị bởi các thống đốc thuộc dòng dõi Sanballat. Việc họ tách ra khỏi Jerusalem khuyến khích họ xây dựng Đền Thờ của riêng mình trên Núi Gerizim và họ có mối thù truyền kiếp với người Do Thái và Jerusalem. Như tất cả những hiềm khích giữa các gia đình, nó thường xuất phát từ những khác biệt nhỏ nhoi. Người Samaritan trở thành những công dân hạng hai, bị người Do Thái khinh bỉ xem là tà giáo. Cho nên khi Jesus giảng về ‘người Samaritan tốt lành’, đó được coi như một phát biểu gây kinh ngạc. Có khoảng 1,000 người Samaritan còn sống ở Israël: rất lâu sau khi tập tục hiến tế Do Thái đã bị hủy bỏ, trong thế kỷ 21 người Samaritan hàng năm vẫn còn hiến tế cừu trên Núi Gerizim trong ngày lễ Vượt Qua.
Sau đó ông dấn tới chinh phục Ai Cập, tại đó ông thiết lập thành phố Alexandria trước khi thẳng tiến về đông, và không bao giờ quay trở lại.
Sau khi kết liễu đế chế Ba Tư và mở rộng bá quyền đến tận Pakistan, Alexander bắt đầu kế hoạch vĩ đại của mình, xáp nhập Ba Tư và Macedon thành một siêu cường duy nhất để thống trị thế giới. Dù không hoàn toàn thành tựu, ông vẫn biến đổi thế giới nhiều hơn bất kỳ nhà chinh phục nào trong lịch sử nhờ công cuộc truyền bá phiên bản của ông về Hellenikon – văn hóa, ngôn ngữ, thi ca, tôn giáo, thể thao và triều đại Homer của Hy Lạp – từ các sa mạc ở Lybia cho đến các chân đồi ở Afghanistan. Phong cách sống Hy Lạp đã trở thành phổ biến tựa như phong cách Anh trong thế kỷ 19 hoặc phong cách Mỹ trong thế giới ngày nay. Từ giờ trở đi, thậm chí các kẻ thù Do Thái độc thần của nền văn hóa mang tính triết lý và đa thần này cũng không thể không nhìn thế giới qua lăng kính mang bản chất Hy Lạp.
Vào ngày 13/6/323, tám năm sau khi chinh phục thế giới được biết đến vào thời bấy giờ, Alexander qua đời ở Babylon vì sốt cao hay vì bị đầu độc, ở tuổi 33. Những chiến binh trung thành của ông lần lượt diễu qua chiếc giường ông nằm mà đầm đìa nước mắt. Khi họ hỏi ông sẽ trao đế quốc của mình cho ai, ông trả lời: ‘Cho người hùng mạnh nhất.’
PTOLEMY: CƯỚP BÓC TRONG NGÀY SABBATH
Trận so tài để tìm ra người hùng mạnh nhất là cuộc chiến 20 năm giữa các tướng lĩnh của Alexander. Jerusalem bị quăng ném giữa các chúa tể Macedon này, khiển ‘những điều xấu ác nhân lên trên mặt đất’. Trong cuộc so tài giữa hai kình địch hàng đầu, Jerusalem sang tay qua lại sáu lần. Cô nàng bị Antigonos độc nhãn cai trị 15 năm, cho đến năm 301 thì y bị giết trong một trận đánh và người đắc thắng, Ptolemy, đến bên ngoài tường thành để tuyên bố chủ quyền đối với Jerusalem.
Ptolemy là anh em họ với Alexander, một cựu tướng lĩnh đã từng chinh chiến từ Hy Lạp đến Pakistan, tại đó ông đã chỉ huy hạm thuyền Macedon trên sông Ấn. Ngay sau khi Alexander băng hà, ông được ban cho xứ Ai Cập. Khi nghe tin đám đưa tang của Alexander Đại Đế đang trên đường về Hy Lạp, ông vội vã vượt qua Palestine để chặn lại và mang thi hài ông trở về an táng tại kinh thành của ông, Alexandria. Người bảo vệ cho tay cự phách Hy Lạp trở thành người giữ lửa của ông. Ptolemy không chỉ là một chủ tướng: chiếc cằm nhọn và mũi thấp của một chiến binh trong hình in trên đồng tiền trái ngược với tính tinh tế và lương tri thông thường của ông.
Giờ Ptolemy bảo với người Jerusalem rằng ông muốn vào thành phố trong ngày lễ Sabbath để hiến tế Thần Do Thái. Người Do Thái cả tin vào ‘thiện ý’ này và thế là Ptolemy chiếm lấy thành phố, nhờ đó mới phát hiện được mức cuồng tín trong việc hành lễ của người Do Thái. Nhưng khi mặt trời lặn (thời khắc lễ Sabbath kết thúc), người Do Thái chiến đấu lại. Thế là binh lính Ptolemy càn quét khắp thành phố – ‘nhà cửa bị vơ vét, phụ nữ bị hãm hiếp; và phân nửa dân thành phố bị cầm tù’. Ptolemy cắt đặt lực lượng đồn trú tại Pháo đài Baris, do Nehemiah xây dựng ở phía bắc Đền Thờ, và lưu đày hàng ngàn người Do Thái đến Ai Cập. Tại đó ông thành lập một cộng đồng Do Thái nói tiếng Hy Lạp trong kinh thành tráng lệ Alexandria của ông. Ở Ai Cập, Ptolemy và những người kế vị ông trở thành những Pharaoh; ở Alexandria và vùng Địa Trung Hải họ là những vì vua Hy Lạp. Ptolemy Soter – ‘vị Cứu Tinh’ như cách ông được gọi – công nhận các thần linh bản xứ, Isis và Osiris, và những truyền thống vua chúa Ai Cập, xiển dương triều đại mình như những vị vua thần thánh Ai Cập đồng thời là những quân vương Hy Lạp á thần. Ông và các con chinh phục Cyprus, Cyrenaica và rồi Anatolia và các đảo Hy Lạp. Ông hiểu rằng không những cần sự hoành tráng mà còn cần văn hóa mới tạo cho ông tính hợp pháp và sự vĩ đại. Vì thế ông biến Alexandria thành một kinh đô Hy Lạp vĩ đại nhất thế giới, giàu sụ và tinh tế, thiết lập các viện Bảo tàng và Thư viện, chiêu mộ các học giả Hy Lạp và cho xây dựng Tháp Hải đăng Pharos, một trong Bảy Kỳ Quan Thế giới. Đế chế ông kéo dài 300 năm đến tận hậu duệ cuối cùng – Cleopatra.
