Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

JESUS XỨ NAZARETH: BA NGÀY Ở JERUSALEM

Tại ngày lễ Vượt Qua 33 SCN, Jesus và Antipas đến Jerusalem gần như đồng thời.

Không ai biết chính xác khi nào Jesus đến Jerusalem. Luke ấn định việc Jesus bắt đầu truyền đạo bằng việc được John làm lễ rửa tội, khoảng 28-29 SCN, cho rằng ông khoảng 30, như vậy ông mất trong khoảng 29 và 33 SCN. John cho rằng việc truyền đạo của ông chỉ kéo dài một năm; Matthew và Luke nói đến ba năm. Jesus có thể đã bị giết vào khoảng 30, 33 hoặc 36. Nhưng sự tồn tại lịch sử của ông được khẳng định không chỉ trong Phúc âm mà còn trong sử do Tacitus và Josephus soạn, cũng đề cập đến John the Baptist. Ít nhất, chúng ta biết rằng Jesus có đến Jerusalem vào ngày lễ Vượt Qua sau khi Pilate đến làm thái thú (26) và trước khi ông ra đi (36), trong thời trị vì của Tiberius (chết năm 37) và Antipas (trước 39) và thời gian Caiaphas làm giáo trưởng (18-36): chắc chắn nhất là giữa 29 và 33. Tính cách của Pilate được khẳng định bởi cả Josephus lẫn Philo Judaeus xứ Alexandria, và sự tồn tại của ông được khẳng định bằng một bảng khắc chữ được tìm thấy ở Caesarea.

 

Jesus dẫn đầu đám rước đến Bethany trên Núi Olives, từ đây có thể nhìn thấy cảnh tượng ngoạn mục của núi tuyết lấp lánh của Đền Thờ. Ông phái các Tông đồ vào thành phố mang về một con lừa – không phải con lừa của chúng ta mà con vạm vỡ của các nhà vua. Các Sách Phúc âm, nguồn tham khảo duy nhất của chúng ta, mỗi cuốn đưa ra một phiên bản hơi khác nhau về sự kiện xảy ra trong ba ngày tiếp theo. ‘Tất cả điều này được thực hiện’, Matthew giải thích, ‘để những lời thánh giáo của các đấng tiên tri được thành tựu’.

Đấng Cứu Thế được tiên tri là sẽ vào thành phố trên lưng lừa, và khi Jesus đến gần, những người theo ông trải lá cọ trước bước đi của ông và tung hô ông là ‘Con Trai David’ và ‘Vua Israël’. Ông ắt hẳn bước vào thành phố, như nhiều khách viếng, qua cổng phía nam gần Hồ Siloam và sau đó bước lên Đền Thờ bằng cầu thang bề thế của Cung Vòm Robinson. Các Tông đồ của ông, những dân tỉnh lẻ Galilee chắc chưa hề được tham quan thành phố, bị choáng ngợp trước vẻ hoành tráng của Đền Thờ: ‘Thưa thầy, hãy ngắm khối đá và các tòa nhà đẹp đẽ xiết bao!’ Jesus, vốn đã quen thuộc với Đền Thờ, trả lời, ‘Ngươi có thấy những tòa nhà vĩ đại kia không? Rồi đây sẽ không còn khối đá nào chồng lên khối đã nào mà không bị ném xuống.’

Jesus bày tỏ tình yêu và nỗi bất mãn đối với Jerusalem nhưng ông nhìn thấy trước sự gớm ghiếc của sự tàn phá. Các sử gia cho rằng những lời tiên tri này được viết thêm sau này, bởi vì Sách Phúc âm được soạn sau khi Titus đã phá hủy Đền Thờ. Song Jerusalem đã từng bị đập phá và xây lại trước đây, nên có thể Jesus đang nghĩ về những truyền thống chống-Đền thờ phổ biến.‘Cứ phá hủy Đền Thờ này và ta sẽ xây một đền thờ khác không làm bởi tay người,’ ông nói thêm, vang vọng những lời đầy cảm hứng có tính tiên tri của Isaiah. Cả hai đều nhìn thấy vượt quá thành phố thực tại đến một Jerusalem ở thiên đường có mãnh lực làm rung chuyển thế giới, song Jesus hứa chính mình sẽ xây lại Đền Thờ trong ba ngày, có lẽ để chứng tỏ rằng chính sự bại hoại, chứ không phải Ngôi Nhà Thánh, là điều mà ông chống đối.

Ban ngày, Jesus giảng đạo, và chữa bệnh tại Hồ Bethesda ngay phía bắc Đền và tại Hồ Siloam ở phía nam, ở hai nơi đó tấp nập khách hành hương Do Thái đến thanh tẩy trước khi bước vào Ngôi Nhà Thánh. Bạn đêm ông trở lại tá túc ở nhà bạn ở Bethany. Vào sáng thứ hai, ông đi vào thành phố lần nữa nhưng lần này ông đến gần Cổng Hoàng gia của Đền Thờ.

Vào ngày lễ Vượt Qua, Jerusalem là nơi đông người nhất và nguy hiểm nhất. Quyền lực được thiết lập trên tiền bạc, chức tước và mối liên hệ với La Mã. Nhưng người Do Thái không chia sẻ với người La Mã sự tôn trọng các thế lực quân sự hoặc tiền bạc lạnh lùng. Sự tôn kính ở Jerusalem dựa vào gia đình (những chức sắc Đền Thờ và các ông hoàng dòng Herod), sự uyên bác (các thầy giảng Pharisee) và nhân tố bất ngờ về cảm hứng thần thánh. Ở Thành Thượng, băng qua sa mạc từ Đền Thờ, các ông lớn sống trong các lâu đài kiểu La-Hy với những đặc điểm Do Thái: Khu Cư ngụ Cao cấp được khai quật ở đó cho thấy những phòng tiếp khách rộng lớn và những hồ thanh tẩy. Ở đó toạ lạc những cung điện của Antipas và giáo trưởng

Joseph Caiaphas. Nhưng quyền hành thực sự ở Jerusalem nằm trong tay thái thú Pontius Pilate, người thường cai trị tỉnh lỵ của mình từ Caesarea trên bờ biển nhưng luôn đến Jerusalem thị sát trong ngày lễ Vượt Qua, cư trú ở Thành lũy của Herod.

Antipas không phải là thành viên hoàng gia Do Thái duy nhất có mặt ở Jerusalem. Helena, Nữ Hoàng xứ Adiabene, một vương quốc nhỏ trong vùng thuộc bắc Iraq ngày nay, đã cải sang đạo Do Thái và chuyển đến sống ở Jerusalem, xây dựng một cung điện trong thành phố David, hiến tặng giá đèn bằng vàng bắc qua khung cửa của Điện Thờ và cứu tế lương thực những khi mất mùa. Nữ Hoàng Helena ắt hẳn cũng ở đó trong ngày Vượt Qua, có lẽ mang một kiểu nữ trang được phát hiện gần đây ở Jerusalem: một hạt ngọc trai to cẩn trong vàng với hai bông tai bằng ngọc thạch cẩn trong vàng.

Josephus ước đoán có đến hai triệu rưỡi người Do Thái dự lễ. Con số này quả là phóng đại nhưng ở mỗi quốc gia đều có người Do Thái, từ Parthia và Babylonia đến Crete và Libya. Cách duy nhất để tưởng tượng đám đông này là nhìn Mecca trong ngày lễ Haj (ngày lễ linh thiêng nhất của người Hồi giáo, hành hương đến thánh địa Mecca ít nhất một lần trong đời). Tại lễ Vượt Qua, mỗi gia đình phải hiến tế một con cừu vì thế thành phố ken cứng cừu kêu be he – 255,600 con được hiến tế. Có nhiều việc phải làm: khách hành hương phải nhúng trong hồ thanh tẩy mỗi lần họ đến gần Đền Thờ cũng như mua cừu hiến tế ở Cổng Hoàng gia. Không phải ai cũng được phép ở lại thành phố. Hàng ngàn người phải tìm chỗ trọ trong các ngôi làng lân cận, như Jesus, hoặc cắm lều quanh tường thành. Khi mùi thịt cháy và khói hương xực nức – và những hồi kèn, báo hiệu giờ cầu nguyện và hiến tế, vang dội khắp thành phố, mọi thứ đều tập trung vào Đền Thờ, trong khi bọn lính tráng La Mã lo lắng theo dõi từ trên Pháo đài Antonia.

Jesus giờ bước vào Cổng Vòm Hoàng cung sừng sững, trung tâm náo nhiệt, đầy màu sắc và ngồn ngộn sức sống, với khách hành hương tụ tập để bố trí chỗ họp mặt, để gặp gỡ bạn bè, và đổi tiền ra đồng bạc Tyrian dùng để mua vật hiến tế: cừu, chim bồ câu, hoặc, bò đối với người giàu. Đây không phải thuộc phạm vi Đền Thờ cũng không phải khu vực bên trong Đền mà là khu vực công cộng dành cho mọi người trong toàn bộ phức hợp, được thiết kế để phục vụ như một quảng trường. Chính tại nơi đây Jesus tấn công ban quản lý Đền Thờ: ‘Ngôi nhà này, với tên tuổi như thế, đã trở thành hang ổ của bọn trộm cắp rồi sao?’ ông nói, lật đổ bàn của các người đổi tiền trong khi trích dẫn và chuyển tải những lời tiên tri của Jeremiah, Zachariah và Isaiah đến với người nghe. Hành động của ông lôi kéo sự chú ý nhưng không quá đáng để có thể kích động sự can thiệp của bảo vệ Đền hay binh lính La Mã.

Sau một đêm nữa ở Bethany, ông trở lại Đền Thờ vào sáng hôm sau để tranh luận với bọn chỉ trích. Phúc âm coi người Pharisee là kẻ thù của Jesus, nhưng quan điểm này chắc chắn phản ánh tình hình 50 năm sau đó khi tác giả soạn sách. Người Pharisee thuộc nhóm giáo phái dân túy hơn và mềm dẻo hơn, có một số giáo điều tương tự với lời Jesus giảng dạy. Kẻ thù thực sự của Jesus là những chức sắc Đền Thờ. Những người dòng Herod giờ thách thức ông về việc đóng thuế cho La Mã, nhưng ông trả lời rất khéo léo, ‘Hãy trả lại cho Caesar những gì của Caesar và trả lại cho Chúa Trời những gì thuộc về Ngài.’ (Ý nói vì đồng tiền có in hình Caesar do La Mã phát hành nên đóng thuế tức là trả lại cho Caesar).

Song ông không xưng mình là đấng Cứu Thế, nhấn mạnh đến Shema, kinh cầu căn bản của Do Thái dâng đến một Chúa Trời duy nhất, và tình thương đối với đồng bào mình: ông là một người rất Do Thái. Nhưng rồi ông cảnh báo các đám đông phấn khích về ngày Khải Huyền sắp đến tất nhiên sẽ xảy ra ở Jerusalem: ‘Các người không ở xa nước Chúa.’ Trong khi người Do Thái có những quan điểm khác nhau về sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế, hầu hết đều đồng ý rằng Chúa Trời sẽ chủ trì vào ngày tận thế, và sau đó là sự ra đời của vương quốc của Đấng Cứu Thế tại Jerusalem: ‘Ở Zion hãy trỗi kèn lên để triệu tập các thánh,’ Thánh thi Solomon đã tuyên bố như thế, được viết không lâu sau khi Jesus mất, ‘hãy loan báo ở Jerusalem tiếng nói của một người mang đến tin lành vì Chúa Trời của Israël đã có lòng thương xót.’ Vì thế những tín đồ của ông hỏi ông: ‘Kể cho chúng tôi đâu là dấu hiệu của thời điểm thầy đến và dấu hiệu ngày tận thế?’ ‘Hãy trông chừng vì các ngươi sẽ không thể biết lúc nào Chúa Trời sẽ đến,’ ông trả lời, nhưng rồi ông lại buột miệng về ngày Khải Huyền đang đến: ‘Quốc gia sẽ nổi lên để chống lại quốc gia, và vương quốc chống lại vương quốc, và khắp nơi đói kém và bệnh dịch và động đất,’ trước khi họ nhìn thấy ‘Con của Người sẽ đến trong những tầng mây trên trời với quyền năng và sự vinh quang vĩ đại’.

Bước đi đầu tiên có tính khích động của Jesus ắt hẳn đã đánh động tới thái thú La Mã và giáo sĩ cao cấp, mà ông cảnh báo, có thể không nhận được sự tha thứ trong Ngày Cuối Cùng: ‘Các ngươi loài rắn độc, các ngươi loài hiểm ác, làm sao các ngươi có thể thoát khỏi bị đày đọa dưới địa ngục?’

Jerusalem lúc nào cũng căng thẳng trong dịp lễ Vượt Qua nhưng các giới thẩm quyền thậm chí còn bồn chồn hơn ngày thường, Mark và Luke còn phát biểu, trong một hai phiên bản không được để ý đến, rằng đã vừa mới xảy ra một hình thức bạo loạn nào đó của người Galilee ở Jerusalem, bị Pilate đàn áp, sau khi tàn sát 18 người Galilee xung quanh ‘tháp canh Siloam’ phía nam Đền Thờ. Một trong những kẻ làm loạn có Barabbas, mà Jesus sẽ sớm gặp, ‘đã phạm tội sát nhân trong vụ bạo loạn’. Các giáo sĩ có chức sắc quyết định sẽ không nương tay cho một người Galilee nào khác dám tiên đoán họ sẽ bị hủy diệt trong một Ngày Khải Huyền đến gần: Caiaphas và Annas, giáo sĩ cao cấp trước đây có ảnh hưởng, bàn luận điều gì cần làm. Chắc chắn sẽ tốt hơn, Caiaphas lập luận theo Phúc âm của John, ‘rằng một người nên chết đi cho dân chúng và toàn quốc gia không bị tiêu diệt’. Họ vạch kế hoạch.

Ngày hôm sau Jesus chuẩn bị cho lễ Vượt Qua tại Phòng Trên – the Cenacle, hoặc Coenaculum – trên ngọn đồi phía tây của Jerusalem (về sau được biết dưới tên Núi Zion). Tại bữa ăn chiều cuối cùng, Jesus nghe phong thanh rằng một Tông đồ của ông, Judas Iscariot, đã phản bội ông chỉ vì 30 đồng tiền bạc, nhưng ông vẫn không thay đổi kế hoạch là đi bộ vòng quanh thành phố đến các rặng ô liu yên tĩnh ở Vườn Gethsemane ở phía bên kia Thung lũng Kidron kể từ Đền Thờ. Judas lẻn đi. Chúng ta không biết liệu y phản bội Jesus vì giáo lý – do quá cực đoan hay không đủ cực đoan – hoặc vì tham tiền hoặc đố kỵ.

Judas trở lại với một đội vũ trang gồm những giáo sĩ có chức sắc, bảo vệ Đền và binh lính La Mã. Vì trời tối nên không ai nhận ra Jesus ngay, vì thế Judas phản bội ông bằng cách nhận diện ông bằng ôm hôn và lãnh bạc thưởng. Dưới ánh đuốc hỗn loạn diễn ra khi các Tông đồ rút kiếm, Peter xén đứt vành tai của một tên hầu của giáo sĩ và một gã trai vô danh chạy đi trong đêm, thân thể trần truồng, một nét chấm phá quá kỳ cục, nghe như thật. Jesus bị bắt và các Tông đồ giải tán trừ hai người đi theo từ đằng xa.

Giờ gần như nửa đêm. Jesus, bị canh giữ bởi binh lính La Mã, được dẫn đi quanh các bức tường phía nam xuyên qua Cổng Siloam đến lâu đài của nhân vật Annas nhiều thế lực tuy không giữ chức vụ gì ở Thành Thượng. Annas khống chế Jerusalem và là hiện thân của mạng lưới hà khắc, loạn luân của dòng họ giữ Đền Thờ. Chính y trước đây là giáo trưởng, cha vợ của Caiaphas giữ chức giáo trưởng hiện thời và có không ít hơn năm người con trai sẽ là giáo sĩ cao cấp. Nhưng y và Caiaphas bị hầu hết người Do Thái khinh bỉ cho là bọn hợp tác (với La Mã), đồi bại, ác ôn, chỉ chạy theo tiền bạc. Jesus, trái lại, đã đánh lên một hợp âm được mọi người yêu mến và có người ngưỡng mộ ngay trong hàng giáo phẩm Sanhedrin. Việc xét xử thầy giảng vô úy và được dân chúng yêu quí này sẽ phải được tiến hành lén lút, ban đêm.

Khoảng đầu nửa đêm một chút, khi các lính gác đốt lửa trong sân (và đệ tử Peter của Jesus đã ba lần chối là không hề quen biết thầy mình), Annas và con rể tập họp những thành viên trung thành trong Hội đồng Sanhedrin – nhưng không phải tất cả, vì ít nhất có một người, Joseph xứ Arimathea, ngưỡng mộ Jesus và chắc chắn không bao giờ tán thành việc bắt giữ Jesus. Jesus bị giáo trưởng thẩm vấn: ông có đe doạ phá hủy Đền Thờ và xây nó lại trong ba ngày hay không? Ông có tự xưng mình là Đấng Cứu Thế không? Jesus không nói gì nhưng cuối cùng nhìn nhận, ‘ngươi sẽ trông thấy Con Chúa Trời ngồi bên phải đầy quyền năng, và từ mây trên trời hạ xuống’.

‘Y đã nói ra lời phạm thánh,’ Caiaphas nói.

‘Y đáng tội chết,’ đám đông đáp lại, dù đã khuya họ còn tụ tập ở đó. Jesus bị bịt mắt và suốt đêm bị mắng nhiếc trong sân cho đến bình minh, khi hoạt động thực sự có thể bắt đầu. Pilate đang đợi.

 

PONTIUS PILATE: VỤ XỬ ÁN JESUS

Thái thú La Mã, được binh lính canh gác và đám đông theo dõi, mở phiên xử tại Praetorium (Toà án Binh) trên một bệ cao ở bên ngoài Thành lũy của Herod, bộ chỉ huy La Mã gần Cổng Jafta ngày nay. Pontius Pilate là một người thô lỗ, kỷ luật thép, hung hăng ở tận xứ Judaea xa xôi. Y đã bị dân chúng ở Jerusalem ghét bỏ, tai tiếng vì ‘tội nhận hối lộ, bạo lực, ăn cắp, đàn áp, bóc lột, hành hình thẳng tay và tàn bạo dã man’. Thậm chí một trong những hoàng thân dòng Herod gọi y ‘là người hay thù oán với một tính khí hung dữ’.

Y đã từng làm người Do Thái bất bình vì ra lệnh cho binh sĩ diễn hành vào Jerusalem, phô trương các tấm khiêng có vẽ chân dung hoàng đế. Herod Antipas dẫn phái đoàn yêu cầu xóa bỏ hình vẽ đó. Luôn ‘cứng ngắt và tàn bạo’, Pilate từ chối. Khi số người Do Thái chống đối tăng lên, y xua binh lính nhưng các đại biểu liền nằm xấp trên mặt đất, ngửa cổ cho họ chém. Pilate đành phải xóa bỏ những hình ảnh xúc phạm. Gần đây hơn y đã tàn sát bọn nổi loạn Galilee mà ‘máu của họ Pilate đã hòa lẫn với máu của vật họ hiến tế’.

‘Ngươi có phải là Vua của người Do Thái?’ Pilate hỏi Jesus. Suy cho cùng, những tín đồ theo Jesus đã tung hô ông là vua khi ông bước vào Jerusalem. Nhưng ông trả lời, ‘Là nhà ngươi nói,’ và từ chối nói thêm điều gì. Nhưng Pilate biết chắc ông là người Galilee. ‘Ngay khi ông biết Jesus là người thuộc địa phận pháp lý của Herod’, Pilate liền giải tù nhân của mình đến Herod Antipas, người cai trị Galilee, và có mối quan tâm đặc biệt với Jesus. Chỉ đi bộ một quãng ngắn là đến lâu đài của Antipas. Herod Antipas, Luke nói, ‘vô cùng hớn hở’ vì y đã muốn gặp người kế vị của John the Baptist từ lâu rồi’ và y hi vọng sẽ được chứng kiến một phép lạ nào đó của ông’. Nhưng Jesus khinh bỉ ‘con cáo’, người đã giết John, nhiều đến nỗi ông thậm chí không thèm giả đò trả lời y.

Antipas trêu chọc Jesus, yêu cầu ông biểu diễn trò lạ, khoác lên người ông một áo choàng hoàng gia và xưng ông là ‘vua’. Quan tetarch này không có chút ý muốn cứu sống người kế vị của John the Baptist, nhưng y lợi dụng cơ hội để cật vấn ông. Pilate và Antipas từ lâu đã thù ghét nhau nhưng bây giờ họ ‘làm bạn với nhau’. Dù sao đi nữa, Jesus là một vấn đề của La Mã. Herod Antipas trả ông lại cho Pilate. Tại đó, Pilate xử Jesus, hai người cho là kẻ trộm và Barabbas, theo Mark, ‘bị trói chung với những kẻ nổi dậy với gã’. Điều này ám chỉ một nhóm người nổi loạn, có thể bao gồm hai ‘tên trộm cắp’, bị xử chung với Jesus.

Pilate đùa với quyết định thả một trong số các tù nhân này. Một số người trong đám đông xin thả Barabbas. Theo Phúc âm, Barabbas được phóng thích. Câu chuyện nghe không hợp lý: người La Mã thường hành hình những người nổi loạn gây chết người. Jesus bị kết án chịu đóng đinh trong khi, theo Matthew, Pilate ‘lấy nước và rửa tay mình trước đám đông, nói rằng, ta vô can với máu của người công chính này’.

‘Để máu y cho chúng tôi và con cháu chúng tôi chịu,’ đám đông đáp lại.

Còn lâu mới là con người dao động quanh co, gã Pilate cố chấp và dữ tợn trước đây chưa hề thấy cần phải rửa tay trước bất kỳ vụ đổ máu nào. Trong một lần tranh cãi trước đây với người Do Thái, y đã xua binh sĩ mặc thường phục trà trộn vào đám người Jerusalem hòa bình; sau một dấu hiệu của Pilate, họ đã tuốt gươm và giải tán đường phố, tàn sát nhiều người. Giờ đây Pilate, đã đương đầu với bọn nổi loạn Barabbas tuần đó, rõ ràng sẽ không tha bất kỳ vụ nổi dậy nào của các ‘ông vua’ và các ‘tiên trị giả hiệu’ đã hoành hành ở Judaea kể từ khi Herod chết. Jesus có tính kích động theo cách quanh co của ông, và ông không nghi ngờ gì được dân chúng ái mộ. Thậm chí nhiều năm sau đó, Josephus, chính là người Pharisee, cũng mô tả Jesus là một thầy giảng thông thái.

Văn bản ghi chép truyền thống về phiên xử án do đó nghe không có thực. Phúc âm cho rằng các giáo sĩ khăng khăng nói mình không có quyền thông qua bản án tử, nhưng rõ ràng điều này không đúng. Josephus viết rằng giáo trưởng ‘sẽ tuyên án trong những trường hợp tranh cãi, trừng phạt những người bị kết tội’. Phúc âm, được viết hoặc hiệu đính sau khi Đền Thờ bị hủy diệt vào năm 70, đổ tội người Do Thái và tha bổng người La Mã, vì hăng hái chứng tỏ lòng trung thành đối với đế chế. Vậy mà bản án chống Jesus, và chính tiến trình xử phạt, đã nói lên sự thật: đây là hoạt động của người La Mã.

Jesus, như hầu hết các nạn nhân bị đóng đinh, bị đánh bằng roi da đầu có gắn xương hoặc mảnh kim loại, đau đến thấu xương thường khiến nạn nhân chết trước khi bị đóng đinh. Đeo một yết thị ‘VUA CỦA NGƯỜI DO THÁI’ do bọn lính La Mã viết để trêu ghẹo, nhiều người trong số đó gốc Syria-Hy Lạp, và ra máu nhiều sau trận đòn roi, Jesus bị giải đi, ắt hẳn là vào sáng ngày 14 Nisan tức thứ sáu ngày 3/4/33. Cùng với hai tội nhân khác, ông phải vác thanh gỗ ngang của thập giá được sử dụng để đóng đinh mình bước ra khỏi ngục thất trong Thành lũy và qua đường phố của Thành Thượng. Những tín đồ đi theo năn nỉ một Simon nào đó xứ Cyrene giúp vác thanh ngang dùm ông trong khi các người nữ của ông kêu khóc. ‘Hỡi các con gái của Jerusalem,’ ông nói, ‘chớ khóc than cho ta mà hãy khóc than cho chính mình và cho con cái ngươi,’ vì ngày Khải Huyền đang đến gần – ‘ngày đó đang đến rồi’.

Jesus rời Jerusalem lần cuối cùng, rẽ trái qua Cổng Gennath (Vườn) vào khu vực những vườn cây trên đồi, những lăng mộ cắt ra từ đá và ngọn đồi hành hình của Jerusalem, có cái tên rất thích hợp Đồi Sọ: Golgotha.

Đây là lộ trình (đặt tên The Passion) hoàn toàn khác với lộ trình truyền thống (có tên Via Dolorosa). Cổng Gennath, được Josephus đề cập, được nhận diện bởi nhà khảo cổ Israël Nahman Avigad tại phần phía bắc của Khu Do Thái trong một khu vực của Tường thành Thứ Nhất. Trong thời kỳ Hồi giáo, người Cơ đốc đã tin tưởng một cách sai lầm là Pháo đài Antonia là Praetorium nơi Pilate tiến hành xét xử. Các thầy tu dòng Francis thời Trung Cổ phát triển truyền thuyết về những Trạm dừng của Thánh giá dọc theo lộ trình Via Dolorosa, từ địa điểm Antonia đến Nhà Thờ Mộ Thánh – hầu như chắc chắn là lộ trình sai. Golgotha xuất phát từ chữ Aramaic có nghĩa là ‘Sọ người’.

 

JESUS CHRIST: CUỘC KHỔ NẠN

Một đám đông kẻ thù lẫn bạn bè đi theo Jesus ra khỏi thành phố để chứng kiến một việc hành hình có tính kỹ thuật và ghê rợn, luôn là một cảnh tượng đầy mê hoặc. Mặt trời đã lên khi ông đến nơi hành hình chỗ cây cọc thẳng đứng đang đợi ông, như đã từng đợi những người trước ông và rồi đây những kẻ sau ông. Binh lính cho Jesus uống thứ rượu vang pha nhựa thơm truyền thống để ổn định thần kinh, nhưng ông từ chối. Sau đó ông bị đóng chặt vào thập giá và được kéo lên cọc.

Bị đóng đinh, Josephus nói, là ‘cái chết khổ sở nhất” được dàn dựng để hạ nhục nạn nhân một cách công khai.

Hình phạt đóng đinh xuất xứ ở phương đông – Darius Đại Đế đóng đinh các bọn phản loạn Babylon – và người Hy Lạp cũng làm theo. Như chúng ta đã thấy, Alexander Đại Đế đóng đinh người Tyre; Antiochus Epiphane và vua Do Thái Alexander Jannaeus đóng đinh những người Jerusalem nổi loạn; người Carthage đóng đinh những vị tướng cingws đầu. Vào năm 71 TCN việc đàn áp vụ nổi dậy của nhóm nô lệ Spartacus kết thúc bằng việc đóng đinh tập thể. Gỗ sử dụng cho thập giá được cho là lấy từ địa điểm sau này là Tu viện Thánh giá xây dựng từ thế kỷ 11, gần Knesset của Israël ngày nay.

 

Vì vậy Pilate ra lệnh treo tấm yết thị Jesus đeo lên thập giá – VUA CỦA NGƯỜI DO THÁI. Các tội nhân có thể bị buộc hoặc đóng đinh. Phải khéo léo để nạn nhân không chảy máu đến chết. Đinh thường đóng qua cánh tay dưới – không đóng qua lòng bàn tay – và mắt cá chân: xương của một người Do Thái bị đóng đinh đã được tìm thấy trong một ngôi mộ ở phía bắc Jerusalem với một cây đinh sắt dài 4.5 in-xơ còn cắm qua xương mắt cá. Đinh của các nạn nhân bị đóng đinh thường được người Do Thái và Gentile mang quanh cổ như một loại bùa, để xua đuổi bệnh tật, vì thế tập tục người Cơ đốc sau này thờ những di vật liên quan đến đóng đinh thực sự là một truyền thống lâu đời. Những nạn nhân thường bị đóng đinh với thân thế trần truồng – đàn ông thì quay mặt ra, phụ nữ thì úp mặt vào.

Người hành hình là những chuyên gia về việc kéo dài cơn thống khổ hoặc kết thúc nhanh chóng. Mục đích là không giết Jesus quá nhanh để làm gương cho những ai dám thách thức quyền lực La Mã. Ông chắc chắn bị đóng đinh vào thập giá với hai tay giang ra như trong các bức họa Cơ đốc, được nâng đỡ bởi một cái nêm nhỏ đặt dưới mông và một gờ chận dưới hai bàn chân. Việc sắp xếp này có nghĩa là ông có thể sống sót hàng giờ, thậm chí vài ngày. Cách duy nhất để gây ra cái chết nhanh chóng là đập gãy đôi chân, khi đó sức nặng toàn thân chỉ được nâng đỡ bằng cánh tay và nạn nhân sẽ ngạt thở chỉ trong mười phút.

Nhiều giờ trôi qua; kẻ thù của ông chế nhạo ông; người qua đường giễu cợt. Bạn ông Mary xứ Magdala vẫn ở dưới canh chừng cũng với mẹ Mary của ông và ‘người đệ tử ông yêu mến’ không tên, có thể là em trai James của ông. Người ủng hộ ông là Joseph xứ Arimathea cũng đến thăm ông. Cái nóng bức của một ngày đến rồi đi. ‘Ta khát,’ Jesus kêu lên. Các phụ nữ theo ông nhúng miếng xốp vào dấm với nước bài hương, rồi móc vào đầu cây sào đưa tận miệng cho ông mút. Thỉnh thoảng ông có vẻ như tuyệt vọng: ‘Chúa Trời của con, Chúa Trời của con, tại sao ngài đã bỏ rơi con?’ ông kêu lên, trích đoạn kinh thánh thích hợp, Thánh thi 22. Vậy thì ông có ý gì khi nói Chúa đã bỏ rơi mình? Có phải Jesus mong đợi Chúa sẽ phát động Ngày Tận Thế?

Khi ông yếu đi, ông nhìn thấy mẹ mình, ‘Đó là con trai mẹ,’ ông nói, nhờ người đệ tử ông yêu mến chăm sóc cho bà. Nếu đúng là em ông, thì điều này có nghĩa, vì người đệ tử dìu bà đi nghỉ. Đám đông ắt hẳn đã giải tán. Đêm buông xuống.

 

9

Jesus trên Thập giádo van Eyck vẽ. Đây chắc chắn đúng là biện pháp xử tội của người La Mã, được sự tán thành của lãnh đạo Đền Thờ.

Hình phạt đóng đinh là một cái chết đến chậm do sốc nhiệt, đói, ngạt thở, khát, và Jesus ắt hẳn mất máu sau trận đánh roi. Thình lình ông thở hắt ra. ‘Thế là hết,’ ông nói, và bất tỉnh. Đã trải qua căng thẳng ở Jerusalem và ngày Sabbath và lễ Vượt Qua đang đến gần, Pilate ắt hẳn đã ra lệnh cho bọn hành hình đẩy nhanh tiến độ. Các binh lính chặt gãy chân của hai tên trộm hoặc nổi loạn, để làm họ ngạt thở, nhưng khi chúng đến bên Jesus thì ông hình như đã chết, vì thế ‘một tên lính lấy giáo đâm vào sườn ông và máu cùng dịch phun ra’. Có thể đúng ra là ngọn giáo đã giết ông.

Joseph xứ Arimathea vội vàng đến xin Pilate cho nhận thi hài. Thường thì nạn nhân bị để cho thối rửa trên thập giá, làm mồi cho diều hâu, nhưng người Do Thái tin tưởng vào việc chôn cất tử tế. Pilate chấp thuận.

Người Do Thái chết không được chôn dưới đất trong thế kỷ đầu tiên mà được quấn trong tấm vải liệm và đặt vào một nhà mồ đá, mà người nhà luôn đi kiểm tra, một phần để xem người quá cố có chết thực không hay chỉ hôn mê: hiếm gặp nhưng không phải không có trường hợp ‘người chết’ tỉnh dậy vào sáng hôm sau. Những thi thể rồi sẽ để như thế trong một năm để khô quắt, sau đó xương cốt sẽ được đặt vào hòm đựng cốt, bên ngoài khắc tên người quá cố, đặt vào mộ đục trong đá.

Gia đình Joseph và Jesus và các đệ tử mang thi thể xuống và nhanh chóng tìm một hầm mộ đã bỏ không trong ngôi vườn gần đó để đặt ông vào. Thi hài được thoa xức chất thơm đắt tiền và quấn vải liệm – như tấm vải liệm thế kỷ 1 được tìm thấy trong một hầm mộ nằm ở phía nam bức tường thành phố trong Cánh Đồng Máu, vẫn còn dính những chùm tóc (nhưng không giống Vải liệm Turin nổi tiếng, mà giờ đây được định niên đại là giữa 1260 và 1390, như vậy nó không phải là tấm vải liệm Jesus như lời đồn thổi). Chắc chắn Nhà thờ Mộ Thánh hiện giờ, chứa địa điểm Jesus bị đóng đinh và nhà mồ, đúng là vị trí thực sự vì truyền thống được giữ nguyên bởi những người Kitô trong suốt ba thế kỷ sau đó. Pilate cho lính canh gác quanh nhà mồ của Jesus theo yêu cầu của Caiaphas e rằng các đệ tử của ông đến đêm sẽ lén vào lấy cắp thi thể đi và rao với dân chúng rằng ‘Người đã sống lại từ cõi chết’.

Cho đến điểm này, câu chuyện về Cuộc Khổ nạn của Jesus – chỉ dựa vào nguồn tư liệu duy nhất của chúng ta, Sách Phúc âm, nhưng không cần có lòng tin mới tin tưởng được vào cuộc sống và cái chết của một nhà tiên tri và nhà thần thông Do Thái. Tuy nhiên, ba ngày sau khi bị đóng đinh, vào sáng chủ nhật, theo Luke, một vài nữ thân nhân và đệ tử của Jesus (bao gồm mẹ ông và Joana, vợ của quản gia nhà Herod Antipas) đến thăm nhà mồ: ‘Họ thấy phiến đá đã lăn đi khỏi cửa nhà mồ và khi bước vào họ không thấy thi thể Chúa Jesus đâu cả... Trong khi đang bối rối thì kìa có hai người đứng bên cạnh họ trong y phục chói lóa và khi họ đâm hoảng sợ thì hai người ấy nói với họ: Tại sao lại đi tìm người sống trong chỗ của người chết? Người không còn ở đây mà đã sống lại.’ Các đệ tử sợ hãi đang ẩn nấp trên Núi Olives trong tuần lễ Vượt Qua, nhưng Jesus xuất hiện vài lần trước mặt họ và mẹ mình, nói với họ, ‘Đừng sợ.’ Khi Thomas tỏ ra nghi ngờ sự Phục Sinh, Jesus chìa ra cho y thấy những vết thương trên bàn tay và trên sườn. Sau một vài ngày, ông dẫn họ lên Núi Olives rồi bay lên trời. Sự Phục Sinh này, vốn biến cái chết thê thảm thành một cuộc khải hoàn của sự sống đối với cái chết, là khoảnh khắc quyết định của niềm tin Kitô, được chào mừng vào ngày chủ nhật của lễ Phục Sinh.

Đối với những ai không chia sẻ niềm tin này, sự thật là điều không thể kiểm chứng được. Matthew tiết lộ điều chắc chắn là phiên bản thay thế đương đại về các sự kiện, ‘thường được người Do Thái kể lại cho đến tận ngày nay’: các giáo sĩ cao cấp ngay lập tức hối lộ các binh lính được cắt đặt canh giữ nhà mồ, bảo họ loan báo với mọi người rằng ‘các đệ tử của ông đã lẻn vào ban đêm lấy cắp thi thể khi chúng tôi đang ngủ’.

Các nhà khảo cổ thiên về ý kiến cho rằng thi thể chỉ đơn giản được chuyển đi và chôn cất bởi bạn bè và người thân trong một nhà mồ cắt trong đá khác nằm đâu đó quanh Jerusalem. Họ đã khai quật được những nhà mồ, với những bình đựng cốt khắc những tên như ‘James em của Jesus’ và thậm chí ‘Jesus con của Joseph’. Những phát hiện này đã phát sinh những tít lớn trên phương tiện truyền thông. Một số đã bị vạch trần là giả mạo nhưng phần đông là những mộ thật ở thế kỷ 1 với những cái tên Do Thái – nhưng không có cái nào liên quan đến Jesus.

Phúc âm Peter, một kinh chép tay của Ngộ giáo có niên đại từ thế kỷ 2 hay 3, được phát hiện vào thế kỷ 19 ở Ai Cập, chứa một câu chuyện bí ẩn về việc chuyển thi thể đi. Phúc âm xưa nhất, Mark, được viết khoảng 40 năm sau vào năm 70 SCN, kết thúc với việc Jesus được đặt trong nhà mồ, không hề đề cập đến việc Phục Sinh. Câu chuyện của Mark về sự phục sinh là bổ sung về sau này. Matthew, viết vào khoảng 80 SCN, và Luke đều dựa vào Mark và một nguồn tư liệu khác không được biết. Luke giảm thiểu vai trò của gia đình Jesus tại sự kiện Đóng Đinh, nhưng Mark đề cập đến mẹ Mary của James, Joses và em gái Jesus. John, Phúc âm muộn nhất, được viết chắc chắn vào cuối thế kỷ, thể hiện một Jesus thần thánh hơn những Jesus khác.

 

Jerusalem tưng bừng làm lễ Vượt Qua. Judas đầu tư số bạc vào bất động sản – Cánh đồng Thợ gốm ở Akeldama phía nam thành phố, trong Thung lũng Địa ngục nghe có vẻ thích hợp đối với y – tại đó ‘y bỗng vỡ bụng và tất cả ruột rà đều tuôn ra’.* Khi các đệ tử ra khỏi nơi ẩn nấp, họ gặp nhau vào lễ Gặt ở Phòng Thượng trên Núi Zion, ‘và thình lình từ trời một cơn gió lớn thổi đến’ – Thánh Linh cho phép họ nói được nhiều ngôn ngữ của các dân tộc đang ở Jerusalem và có khả năng chữa lành bệnh nhân danh Jesus. Peter và John bước vào Đền Thờ qua Cổng Đẹp để cầu nguyện như thường ngày thì một người què tiến tới xin bố thí. ‘Hãy đứng dậy và bước đi,’ họ nói, và người đó làm đúng như vậy.

Sách Hoạt Động của các Tông Đồkể ra như thế, nhưng Matthew có một phiên bản khác: Judas ăn năn ném bỏ số bạc vào trong Đền Thờ, nhưng giáo trưởng (vốn không thể sung nó vào quỹ Đền Thờ vì đó là số bạc nhuộm máu) đầu tư vào Cánh đồng Thợ gốm ‘dùng để chôn cất người lạ’. Sau đó Judas treo cổ tự tử. Akeldama – Cánh đồng Máu vẫn còn là nghĩa địa đến tận thời Trung Cổ.

Các Tông đồ bầu em trai của Jesus làm ‘Giám sát viên của Jerusalem’, lãnh đạo của những thành viên Do Thái này được biết dưới tên Nazarene. Giáo phái này ắt hẳn cũng phát triển vì không lâu sau khi Jesus mất, ‘xảy ra một vụ bức hại lớn chống lại giáo hội ở Jerusalem’. Một trong những tín đồ của Jesus nói tiếng Hy Lạp, Stephen, đã tố cáo Đền Thờ, nói rằng ‘Bậc Tối Thượng không cư ngụ trong các đền thờ xây dựng bằng tay’. Chứng tỏ rằng giáo trưởng có thể xử tội hình, Stephen bị Hội đồng Sanhedrin xét xử và chịu hình phạt ném đá bên ngoài tường thành, có lẽ là ở phía bắc của Cổng Damascus ngày nay. Ông là thánh tử đạo của đạo Cơ đốc. Tuy vậy James và những người Nazarene vẫn tiếp tục hành đạo Do Thái, trung thành với Jesus, cũng giảng dạy và cầu nguyện trong Đền Thờ trong 30 năm tiếp sau đó. Tại đó James được nhiều người ngưỡng mộ là một người Do Thái thánh thiện. Đạo Do Thái của Jesus rõ ràng không có gì đặc biệt hơn đạo của các thầy giảng khác đã đến trước và sau ông.

Kẻ thù của Jesus không khấm khá lắm. Ngay sau hành hình ông, Pilate lại bận bịu một vụ tiên tri giả hiệu khác ở xứ Samaria, tuyên bố trước đám đông kích động rằng y đã tìm thấy bình đựng cốt của Moses trên Núi Gerizim. Pilate phái một đội kỵ binh đến để làm thịt nhiều người nghe theo y. Thái thú đã đẩy Jerusalem đến bờ vực của một vụ nổi dậy công khai; giờ đến lượt người Samaria cũng vạch trần tính tàn bạo của y.

Thống đốc Syria phải vãn hồi trật tự ở Jerusalem. Ông cách chức cả Caiaphas và Pilate, trả họ về La Mã. Việc này quá hợp lòng dân nên dân chúng hớn hở chào đón thống đốc La Mã. Pilate biến mất khỏi lịch sử. Trong lúc đó thì hoàng đế Tiberius đang mệt mỏi với Herod Antipas. Nhưng vẫn chưa đến ngày tàn của triều đại đó: dòng dõi Herod sắp sửa có được một cuộc phục hồi phi thường nhờ vào ông hoàng Do Thái có đầu óc phiêu lưu nhất, người sẽ kết thân với hoàng đế điên cuồng của La Mã và lấy lại Jerusalem.

 

Image

Jerusalem vào thế kỷ thứ nhất và Đoạn Đường Khổ Nạn của Jesus

 

HEROD AGRIPPA: BẠN CỦA CALIGULA

Chàng thanh niên Herod Agrippa lớn lên ở La Mã giữa chốn hoàng gia và trở thành bạn thân nhất của con trai Hoàng đế Tiberius là Drusus. Anh chàng hướng ngoại duyên dáng và tiêu xài xả láng này – cháu nội của Herod Vĩ đại và Mariamme, con trai của đứa con trai bị hành quyết Aristobulos của họ – vay mượn ngập đầu để theo kịp lối tiêu xài của con trai hoàng đế và đám bạn trác táng.

Khi Drusus chết trẻ vào năm 23 TCN, hoàng đế ưu sầu không muốn gặp mặt bạn bè của con trai vắn số và Herod Agrippa, giờ đã cạn túi, lui về Galilee, do Antipas cai trị, người đã cưới chị mình Herodias. Antipas tìm cho anh chàng một công việc buồn tẻ ở Tiberius, nhưng sự buồn tẻ không phải là phong cách của Agrippa nên chàng dông đến Idumea, quê quán của gia đình, và ở đó chàng tính đến việc tự tử. Tuy nhiên, với anh chàng láu cá phóng đãng này, luôn có chuyện gì đó xuất hiện.

Khoảng thời gian Jesus bị đóng đinh, Philip, quan tetrarch cai quản vùng đất phía bắc của gia đình, qua đời. Antipas hỏi xin hoàng đế mở rộng vùng cai quản của mình. Tiberius luôn yêu mến Herod Agrippa; vì thế anh chạy bay đến nơi cư ngụ của hoàng đế ở Capri để phỏng tay trên vùng đất đang khuyết đó trước chú Antipas của mình.

Tiberius chào đón Agrippa, nhưng rồi thất vọng khi nghe tin anh mắc nợ hàng loạt chưa trả quanh Địa Trung Hải. Nhưng anh chàng Agrippa, một tay cờ bạc bẩm sinh, thuyết phục một người bạn của mẹ anh là Antonia cho anh vay tiền và nói giúp dùm mình với hoàng đế. Antonia, người con gái nghiêm túc và tiết hạnh của Mark Anthony, được Tiberius rất quí trọng, xem bà như là một nhà quí tộc lý tưởng. Ông nghe lời khuyên của Antonia và tha thứ cho tên nhãi ranh Do Thái.

Agrippa không dùng tiền vay được để trả nợ mà mua quà cáp hoành tráng tặng một hoàng tử khánh kiệt khác là Caligula, người cùng với bé Gemellus, con của người bạn yểu mạng Drusus của mình, là cặp thừa kế ngôi vua của Tiberius. Hoàng đế còn nhờ anh chàng dòng Herod chăm coi dùm bé Gemellus.

Ngoài ra gã Agrippa cơ hội này cũng trở thành một trong những bạn thân nhất của Gaius Caligula. Caligula được yêu mến vì là con trai của vị tướng Germanicus rất được lòng dân. Giờ đã ở tuổi 24, bắt đầu hói và cao khều, Caligula đã trở nên hư hỏng, phóng đãng và hoàn toàn có khả năng điên khùng, nhưng ông vẫn còn là con cưng của nhân dân và nóng lòng lên kế vị hoàng đế. Caligula và Herod Agrippa ắt hẳn đã chia sẻ một cuộc sống trụy lạc xa xỉ. Khi họ đi ngựa quanh Capri, hai người mơ tưởng về cái chết của Tiberius, nhưng tên đánh xe nghe lóm được trao đổi của họ. Khi Agrippa định bắt giữ y vì tội phao tin, tên đánh xe chạy lên mách hoàng đế. Agrippa bị ném vào ngục và xiềng xích nhưng, được bạn Caligula che chở, anh được phép tắm rửa, tiếp bạn và thưởng thức những món khoái khẩu.

Cuối cùng khi Tiberius mất vào tháng ba năm 37, Caligula, đã ám hại bé Gemellus, lên ngôi hoàng đế. Ông lập tức thả tự do cho bạn mình, tặng anh một xiềng xích bằng vàng để kỷ niệm thời gian ở tù và phong anh làm vua, ban cho lãnh địa của Philip. Đúng là vận số đảo chiều.

Đồng thời chị của Agrippa là Herodias cùng với con ‘cáo’ Antipas mà Jesus ghét, đi đến La Mã để xin hủy bỏ quyết định này và giành lại vương quốc cho mình. Nhưng Agrippa đã dựng chuyện, khẳng định họ đang âm mưu phản loạn. Caligula liền giáng chức Antipas, người đã giết John the Baptist – và sau đó chết ở Lyons – và giao hết đất đai cho Herod Agrippa.

Ông vua mới hiếm khi thăm vương quốc của mình, mà thích ở bên Caligula hơn, người mà thói giết người lạ thường đã nhanh chóng biến y từ một người được ưa chuộng của La Mã thành tên áp bức. Thiếu tiếng tăm quân sự như các vua tiền nhiệm, Caligula muốn củng cố uy thế của mình bằng cách ra lệnh chân dung của mình phải được tôn thờ trên khắp đê chế – và trong Nơi Chí Thánh của Đền Thờ. Jerusalem thách thức; người Do Thái sẵn sàng nổi dậy, cử đại biểu đến gặp Thống đốc Syris báo rằng ‘y phải trước tiên hiến tế toàn bộ quốc gia Do Thái’ trước khi họ sẽ tha thứ cho hành động xúc phạm như thế của y.

Cuộc chiến sắc tộc bùng nổ giữa người Hy Lạp và Do Thái ở Alexandria. Khi hai bên gởi phái đoàn đến Caligula, người Hy Lạp khai rằng người Do Thái là dân tộc duy nhất sẽ không tôn thờ tượng của Caligula.

May thay, Vua Agrippa còn ở La Mã, càng ngày càng thân thiết hơn với Caligula tính khi càng lúc càng thất thường. Khi hoàng đế phát động cuộc viễn chinh đến Gaul, ông vua Do Thái có mặt trong đám tùy tùng của y. Nhưng thay vì giao chiến, Caligula tuyên bố mình thắng lợi trên biển, sưu tập vỏ sò cho cuộc Khải Hoàn của mình.

Caligula ra lệnh cho Petronius, Thống đốc Syria, cưỡng chế lệnh của mình và đè bẹp Jerusalem. Các đại biểu Do Thái do các hoàng thân dòng Herod dẫn đầu khẩn khoản xin Petronius thay đổi ý kiến. Petronius do dự, biết rằng nếu tiến hành thì chiến tranh, nếu từ chối thì chết. Nhưng Vua Herod Agrippa, một con người chỉ ham chơi bời, bỗng thình lình trở thành chiến binh cứu tinh Do Thái gây kinh ngạc mọi người. Ông bạo gan viết một bức thư cho Caligula vì lợi ích của Jerusalem.

Thần, như ngài biết, là người xuất thân Do Thái và thành phố quê quán của thần là Jerusalem trong đó toạ lạc ngôi đền thiêng liêng của Chúa Trời tối cao. Đền thờ này, thưa Hoàng thượng, ngay từ đầu chưa hề nhận bất cứ hình ảnh nào do con người tạo ra, bởi vì đó là nơi linh thiêng của đấng Chúa Trời thực sự. Ông nội của ngài (Marcus) Agrippa đã đến thăm và tỏ lòng tôn kính Đền Thờ và Augustus cũng thế. (Tiếp theo y cám ơn Caligula về những ân huệ mình nhận được nhưng) xin đổi tất cả (những phúc lợi đó) lấy một điều duy nhất – những định chế của tổ tiên không được xáo trộn. Hoặc thần trở thành kẻ phản bội với đất nước hoặc không còn được coi như là người bạn của hoàng thượng như trước đây; không có lựa chọn nào khác.

Cho dù nếu thái độ hiên ngang ‘tự do hay là chết’ này được phóng đại, thì đây cũng là bức thư liều lĩnh viết cho Caligula – nhờ vậy sự can thiệp của nhà vua rõ ràng đã cứu được Jerusalem.

Tại một buổi tiệc, hoàng đế cám ơn Vua Agrippa đã giúp đỡ ông trước khi ông lên ngôi, tỏ ý muốn ban cho nhà vua bất cứ yêu cầu nào. Nhà vua chỉ xin hoàng đế đừng đặt chân dung mình trong Đền Thờ. Caligula đồng ý.

11

Vua Herod Agrippa là kẻ phiêu lưu may mắn và là người Do Thái có quyền lực nhất trong lịch sử La Mã.

 

HEROD AGRIPPA VÀ HOÀNG ĐỂ CLAUDIUS: ÁM SÁT, VINH QUANG VÀ SÂU BỌ

Sau khi hồi phục một căn bệnh lạ vào cuối năm 37, hoàng đế trở nên càng ngày càng mất quân bình. Trong những năm sau đó, các tư liệu cho biết ông phạm tội loạn luân với ba em gái, ban họ cho những người đàn ông khác lạm dụng và bổ nhiệm một con ngựa làm quan chấp chính. Rất khó để kiểm chứng sự thật của những vụ tai tiếng này, mặc dù những hành vi của ông chắc chắn làm giới ưu tú La Mã thù ghét và khiếp sợ. Ông kết hôn với em gái, rồi, khi bà có bầu, người ta cho rằng ông đã rạch bụng lấy hải nhi ra khỏi tử cung bà. Khi hôn các tình nhân, ông trầm ngâm nói, ‘Cái cổ xinh đẹp này sẽ bị cắt bất cứ khi nào ta muốn’ và bảo với các quan chấp chính rằng, ‘Ta chỉ cần gật đầu là cổ nhà ngươi sẽ bị cắt ngay tại chỗ. Nhưng ông không mấy khôn ngoan khi cũng thích đùa với Đội Vệ sĩ Hoàng đế Praetorian oai phong của mình bằng những mật khẩu bất lịch sự như ‘Priapus’ (một vị thần Hi Lạp có dương vật quá khổ và cương cứng vô hạn). Điều đó không thể tiếp tục.

Vào nửa đêm ngày 24 tháng 1 năm 41, Caligula, có Herod Agrippa tháp tùng, đang từ nhà hát đi ra qua một lối đi được bảo vệ bỗng một Vệ sĩ Praetorian rút gươm và hét lên, ‘Hãy nhận cái này!’ Lưỡi gươm chém trúng vai của Caligula, gần như cắt ông ra làm hai, nhưng ông vẫn quát to,’Tao vẫn còn sống.’ Bọn đồng loã la lên, ‘Chém tiếp đi,’ và thế là ông rồi đời. Bọn cận vệ gốc German (Đức bây giờ) của ông cướp bóc khắp đường phố, còn bọn Vệ sĩ Hoàng đế Praetorian thì lùng sục cung điện trên đồi Palatine và giết chết vợ Caligula và đập nát óc con nhỏ của ông. Viện Nguyên Lão lập tức ra sức phục hồi nền cộng hòa, chấm dứt chế độ chuyên chế của các hoàng đế.

Herod Agrippa cho người canh giữ thi thể Caligula, câu giờ bằng cách tuyên bố hoàng đế vẫn còn sống chỉ bị thương, trong khi đó ông dẫn một toán vệ sĩ Praetorian vào cung điện. Họ chú ý thấy có gì lay động sau bức màn và phát hiện ra nhà học giả khập khiễng và nói lắp, Claudius, chú của Caligula và là con trai của người bạn gia đình Antonia của Agrippa. Họ cùng nhau tung hô ông là hoàng đế, mang ông đến căn cứ trên một tấm khiêng. Claudius, một nhà cộng hòa, khăng khăng từ chối vinh dự, nhưng nhà vua Do Thái khuyên ông nhận vương miện và thuyết phục Viện Nguyên Lão giao vương miện cho ông ta. Không có người Do Thái nào, trước hoặc sau, thậm chí trong thời hiện đại, có quyền lực mạnh đến thế. Vị hoàng đế mới Claudius, cho thấy mình là nhà cai trị khôn ngoan và kiên định, ban thưởng cho người bạn Jerusalem và toàn thể vương quốc của Herod Vĩ đại, cũng như phong ông chức chấp chính tối cao. Thậm chí em trai của Agrippa cũng nhận được một vương quốc.

Herod Agrippa đã bỏ Jerusalem ra đi như một tên vô dụng không tiền; ông trở về là vua của Judaea. Ông làm lễ hiến tế trong Đền Thờ, và đọc Đệ Nhị Luật một cách thành khẩn cho dân chúng tụ tập lắng nghe. Người Do Thái xúc động khi ông khóc vì xuất thân lai tạp của mình và hiến tặng chiếc xiềng xích bằng vàng, một biểu tượng của sự may mắn, cho Đền Thờ. ‘Thành phố thánh,’ mà ông xem như ‘thành phố mẹ’ không chỉ của Judaea mà của người Do Thái trên khắp châu Âu và châu Á, được tranh thủ nhờ nhân vật Herod mới này, có in hình trên đồng tiền tôn vinh ông là ‘Vua Agrippa Vĩ đại, Bạn của Caesar’. Bên ngoài Jerusalem ông sống như một ông vua La-Hy, nhưng khi về thành phố ông xử sử như một người Do Thái và hiến tế mỗi ngày trong Đền Thờ. Ông tô điểm và củng cố Jerusalem đang mở rộng, bổ sung tường thành thứ ba bao quanh khu ngoại ô mới Bezetha – phần phía bắc của nó đã được khai quật.

Nhưng tuy vậy Agrippa vẫn phải cố hết sức mới quản lý được thành phố Jerusalem đầy căng thẳng: ông bổ nhiệm ba giáo trưởng liên tiếp nội trong hai năm và ra sức chống lại người Do Thái Cơ đốc. Việc này có thể xảy ra đồng thời với việc Claudius cấm đạo Kitô của người Do Thái gay gắt ở La Mã – họ bị trục xuất vì tội làm mất trật tự ‘do sự xúi giục của Chrestus’ (Christ). ‘Giờ khoảng thời gian này’, theo Sách Hoạt Động của các Tông đồ, ‘Herod nhà vua giang thẳng bàn tay để quấy nhiễu một số nhà thờ,’ và cho lệnh trảm thủ John (không phải em của Jesus mà là một đệ tử có cùng tên). Ông cũng ra lệnh bắt giữ Peter và dự tính sẽ hành hình đầu ngày lễ Vượt Qua. Nhưng Peter sống sót: Người Cơ đốc tung hô việc này như một phép lạ nhưng các nguồn tư liệu khác cho rằng nhà vua đơn giản chỉ thả ông ra, có thể như một món quà tặng đám đông dân chúng.

Việc dựng lên hoàng đế La Mã đã khiến Agrippa đâm ra kiêu ngạo, khi ông triệu tập một hội nghị thượng đỉnh gồm các nhà vua khu vực đến Tiberias mà không hỏi ý La Mã. Người La Mã bị đánh động và ra lệnh các vua giải tán. Claudius cho ngừng việc xây dựng thêm công sự ở Jerusalem. Sau đó, Agrippa thiết triều như một vị vua thần linh kiểu Hy Lạp mặc long bào phủ vàng ở triều đình Caesarea. Ở đó ông ngã bệnh đau quặn thắt dạ dày: ‘ông bị giun sâu ăn thịt’, Sách Hoạt Động các Tông đồ nói. Dân Do Thái mặc y phục sám hối ngồi cầu nguyện cho ông mau lành bệnh nhưng vô ích. Agrippa có uy tín và sự tinh tế có thể hòa giải nhưng phe Do Thái ôn hòa, quá khích và người La Mã; chết đi là mất con người duy nhất có thể cứu được Jerusalem.

 

HEROD AGRIPPA II: BẠN CỦA NERO

Cái chết của nhà vua tháo tung những cuộc bạo loạn. Mặc dù con trai ông Agrippa II chỉ mới 17 tuổi, Claudius muốn giao anh vương quốc, nhưng các cận thần khuyên anh ta quá trẻ để có thể trị vì một gia sản thừa kế đầy bất ổn. Vì vậy hoàng đế phục hồi chế độ cai trị bởi những đại diện La Mã và giao cho em trai của nhà vua quá cố, Vua Herod xứ Chalcis quyền bổ nhiệm các giáo trưởng và quản lý Đền Thờ. Trong 25 năm tiếp theo, Jerusalem được điều hành bởi sự phối hợp mơ hồ giữa các đại diện La Mã và các ông vua dòng Herod nhưng họ không thể nào dẹp yên sự bất ổn gây ra do một loạt những lang băm tiên tri, những xung đột sắc tộc giữa người Hy Lạp, Do Thái và Samaritan, và độ cách biệt giữa giới thống trị giàu có thân La Mã và dân nghèo Do Thái mộ đạo lớn dần.

Các tin đồ Cơ đốc Do Thái, người Nazarene, do em James của Jesus lãnh đạo, và các trưởng lão của họ, còn sống tại Jerusalem nơi các đệ tử chính gốc thờ cúng như người Do Thái trong Đền Thờ. Nhưng Jesus còn lâu mới là thầy giảng cuối cùng dám thách thức trật tự La Mã. Josephus liệt kê một loạt các tiên trị giả mạo xuất hiện hết lượt này đến lượt khác, phần đông đều bị La Mã hành hình.

Những đại diện La Mã không giúp giải quyết vấn đề. Như Pilate, phản ứng của họ đối với việc nở rộ các tiên tri là tàn sát những người đệ tử đi theo đồng thời vắt kiệt tỉnh lỵ để thu lợi. Một năm, tại lễ Vượt Qua ở Jerusalem, có một tên lính La Mã vạch mông mình ra trước mặt người Do Thái, gây ra một cơn bạo loạn. Quan đại diện đem binh lính đến dẹp khiến đám đông chen nhau chạy vào một ngõ hẹp khiến hàng ngàn người bị dẫm đạp ngạt thở. Một vài năm sau đó, khi cuộc chiến bùng nổ giữa người Do Thái và Samaritan, người La Mã đóng đinh nhiều người Do Thái. Cả hai phe đều cầu cứu đến La Mã. Người Samaritan có thể đã thắng kiện nhưng chàng Herod Agrippa trẻ tuổi, vốn được giáo dục tại La Mã, tranh thủ được bà vợ có uy quyền của Claudius, Agrippina: hoàng đế không chỉ hậu thuẫn người Do Thái mà còn ra lệnh khiển trách và hành hình quan bảo dân La Mã phạm tội tại Jerusalem. Như vua cha với Caligula, Agrippa II không chỉ được Claudius thương mến mà còn được lòng người kế vị ông là Nero. Khi chú ông Herod xứ Chalcis mất, Agrippa được phong làm vua của thái ấp Lebanon với quyền hành đặc biệt đối với Đền Thờ ở Jerusalem.

Ở La Mã, hoàng đế lão suy Claudius bị Agrippina đầu độc, được cho là bằng một đĩa nấm độc.

Claudius không gặp may mắn trong hôn nhân: ông giết một bà vợ và một bà vợ khác giết ông. Ông hành hình người vợ không chung thủy còn nhỏ tuổi Mesalina vì tội phản trắc rồi cưới cô cháu gái của mình, Julia Agrippina, em gái Caligula. Caligula nâng đỡ Nero, con trai đời chồng trước của em gái mình, làm người thừa kế. Claude cũng ép Nero nhận đồng thừa kế với con trai riêng của mình Britannicus, được đặt tên để kỷ niệm cuộc chinh phục nước Anh của ông. Khi lên đăng cơ, Nero mưu sát Britannicus.

 

Hoàng đế mới thiếu niên Nero ban thưởng Agrippa thêm nhiều lãnh thổ ở Galilee, Syria và Lebanon. Agrippa tỏ lòng biết ơn bằng cách đổi tên kinh đô của mình Caesarea Philippi thành Neronias và phô trương mối quan hệ nồng ấm với Nero trên mặt đồng tiền với dòng chữ ‘Philo-Caesar’ (Yêu quí Caesar).

Tuy nhiên, những quan đại diện của Nero đều tham ô và vụng về. Một tên tệ nhất là Antonius Felix, một người nô lệ Hy Lạp được giải phóng mà, như sử gia Tacitus viết ‘thực hiện mọi hành vi tàn ác và dục vọng, nắm quyền lực của một ông vua với bản năng của một tên nô lệ’. Vì y là anh em với thư ký của Claudius và của Nero (trong một thời gian), người Do Thái không còn cách kêu cứu La Mã. Những em gái đầy tai tiếng của Vua Agrippa hiện thân cho sự bại hoại của giai cấp thống trị. Drusilla, ‘người có sắc đẹp vượt trội mọi phụ nữ’, được gã cho vua Ả Rập Azizus xứ Emesa, nhưng Felix mê say đắm nàng. Nàng khổ sở vì bị gã ép và muốn thoát khỏi ác ý của bà chị nàng là Berenice, bèn trốn về sống với Felix. Berenice, vốn là Hoàng hậu xứ Chalcis (kết hôn với cậu mình), bỏ người chồng mới nhất, Vua xứ Cilicia, để sống với ông anh: người La Mã đồn có sự loạn luân. Felix vắt kiệt tiền bạc của Judaea trong khi ‘một loại cướp mới’ có tên Sicarii bắt đầu ám sát những người tai to mặt lớn Do Thái tại những lễ hội ngay giữa Jerusalem – thành công đầu tiên của họ là giết được một cựu giáo trưởng. Đối đầu với việc tàn sát vì sắc tộc và các vụ tiên tri giả mạo nổi lên, Felix vừa ra sức giữ yên tình hình vừa vơ vét làm giàu.

Giữa cơn hỗn loạn này, giáo phái nhỏ của Jesus giờ bị chia tách làm hai giữa các lãnh đạo Do Thái ở Jerusalem và những tín đồ không phải Do Thái trong thế giới La Mã rộng lớn hơn. Giờ đây con người quá khích năng động nhất trong các tin đồ Jesus, người mà hơn ai hết, sẽ gầy dựng một tôn giáo mới có qui mô thế giới, trở về để lên kế hoạch cho tương lai đạo Cơ đốc.

 

PAUL XỨ TARSUS: NGƯỜI SÁNG LẬP CƠ ĐỐC GIÁO

Jerusalem đang bình phục sau cơn oằn oại bạo lực gần đây nhất. Một người Do Thái ở Ai Cập đã vừa dẫn một đám người lên Núi Olives, loan báo, nghe như âm vang lời của Jesus, rằng mình sẽ làm sụp đổ những tường thành và chiếm lấy Jerusalem. Nhà tiên tri giả mạo này cố tràn vào thành phố, nhưng cư dân Jerusalem tiếp tay cùng lính La Mã đẩy lùi bọn tín đồ. Sau đó binh đoàn viễn chính của Felix gần như giết sạch họ. Binh lính săn lùng tên ‘phù thủy’ cầm đầu, ngay khi Paul đến thành phố mà ông biết quá rõ.

Cha của Paul là người Pharisee làm ăn phát đạt đủ để trở thành công dân La Mã. Ông gởi con mình – ra đời gần như cùng lúc với Jesus nhưng ở Cilicia (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) – đến học tập trong Đền Thờ ở Jerusalem. Khi Jesus bị đóng đinh, Saul, như ông được gọi lúc đó, ủng hộ việc ‘đe dọa và tàn sát’: ông giữ áo choàng cho những người ném đá Stephen ‘và cho rằng ông ta đáng chết’. Một người làm công quả, con người Pharisee gốc La Mã nói tiếng Hy Lạp này, phục dịch với tư cách một đặc vụ tình nguyện cho giáo trưởng cho đến khi, khoảng năm 37, trên đường đến Damascus ông trải nghiệm ‘sự khải thị’ của mình: ‘ Thình lình một ánh sáng từ trời chiếu sáng quanh người ông’ và ông nghe có tiếng nói ‘đến với ông: Saul, Saul, tại sao ngươi bức hại ta?’ Christ sống lại ủy nhiệm ông là Tông đồ 13 có nhiệm vụ giảng tin lành cho những người không phải Do Thái.

James và tin đồ Cơ đốc ở Jerusalem nghi ngờ một cách có thể hiểu được người mới cải đạo này, nhưng Paul cảm thấy bức bách phải thực hiện thông điệp mình nhận được với tất cả năng lượng như bị ám ảnh của mình: ‘Khốn khổ cho tôi nếu tôi không giảng Phúc âm.’ Cuối cùng, ‘James, em của Chúa Jesus’ công nhận đồng chí mới này. Trong 15 năm tiếp theo, nhân vật kích động không thể trấn áp này đi về phương đông, giảng những giáo điều theo phiên bản của riêng mình về Phúc âm Jesus, bác bỏ cực lực tinh độc quyền của người Do Thái. ‘Tông đồ cho người Gentile’ (người không phải Do Thái) tin tưởng rằng ‘vì chúng ta’ Chúa Trời đã khiến Jesus ‘thành một người nhận tội, dù không hề phạm tội, để trong ông, chúng ta có thể trở thành người công chính của Chúa Trời’. Paul tập trung chú ý vào sự Phục Sinh, mà ông thấy như chiếc cầu nối giữa nhân loại và Chúa Trời. Jerusalem của Paul là Vương Quốc Thiên Đường, không phải là Đền Thờ thực sự; ‘Israël’ của ông là bất kỳ ai theo Jesus, không phải là quốc gia Do Thái. Ông là, theo nhiều phương diện, tân kỳ một cách lạ lùng, bởi vì, trái với đặc tính khắt khe của thế giới cổ đại, ông tin tưởng vào tình thương, bình đẳng và không phân biệt sắc tộc: Hy Lạp và Do Thái, đàn ông và phụ nữ, tất cả đều là một, tất cả đều có thể được cứu rỗi chỉ bằng lòng tin vào Christ. Các bức thư của ông khống chế Tân Ước, tạo thành một phần tư bộ sách. Tầm nhìn của ông là vô biên, vì ông muốn cải tạo mọi người.

Jesus đã tranh thủ được một ít tín đồ không Do Thái, nhưng Paul đặc biệt thành công trong tập thể người không Do Thái và những người gọi là kính sợ Chúa, những người không Do Thái này đã tuân thủ những lĩnh vực của đạo Do Thái nhưng không cần cắt bao qui đầu. Những người Syria cải đạo đầu tiên của Paul là những người đầu tiên được biết dưới tên ‘tín đồ Cơ đốc’. Khoảng năm 50, Paul trở lại Jerusalem để thuyết phục James và Peter cho phép những người phi Do Thái vào đạo. James đồng ý một thỏa hiệp, nhưng những năm sau đó ông hay tin Paul khiến những người Do Thái quay sang chống lại giáo luật của Moses.

Một người đơn độc thuần khiết độc thân, Paul đã sống sót qua những vụ đắm tàu, cướp giật, đánh đập và ném đá trên hành trình của mình, vậy mà không có gì khiến ông xao nhãng khỏi sứ mạng của mình – là tái tạo hình ảnh người Galilee Do Thái quê mùa thành đấng Jesus Christ, người cứu rỗi nhân loại hứa hẹn sẽ sắp sửa trở lại trong Lần Xuất Thế Thứ Hai – Vương Quốc của Thiên Đường. Thỉnh thoảng ông vẫn là một người Do Thái và có thể đã trở về Jerusalem đến năm lần, nhưng đôi khi ông coi Do Thái giáo như một kẻ thù mới. Trong văn bản Kitô sớm nhất, Thư Đầu Tiên của ông gởi người Thessalonia (người phi Do Thái ở Hy Lạp đã cải sang Cơ đốc giáo), ông sỉ vả thậm tệ người Do Thái vì tội giết Jesus và các nhà tiên tri của mình. Ông cho rằng tục cắt bao qui đầu, Giao ước của dân Do Thái với Chúa Trời, là một nghĩa vụ của Do Thái nhưng không thích hợp cho người ngoài: ‘Hãy coi chừng loài chó; hãy coi chừng kẻ cắt bì giả.

Vì chính chúng ta là kẻ cắt bì thật, là kẻ cậy thánh linh Ðức Chúa Trời và nương uy phong trong Ðấng Jesus Christ.’

Bây giờ thì James và các trưởng lão ở Jerusalem bất mãn với Paul. Họ đã quen biết với Jesus bằng da bằng thịt, vậy mà Paul khăng khăng: ‘Ta đã chịu đóng đinh với Christ. Cuộc sống ta sống bây giờ không phải là cuộc sống của ta mà là cuộc sống Christ sống trong ta.’ Ông tuyên bố, ‘Tôi mạng dấu vết của Jesus in trên cơ thể tôi.’ James, con người thánh thiện đáng kinh đó, kết án ông chối bỏ đạo Do Thái. Thậm chí Paul không thể phớt lờ em ruột của Jesus. Năm 58, ông đến để làm hoà với triều đại Jesus.

 

CÁI CHẾT CỦA JAMES NGƯỜI CÔNG CHÍNH: TRIỀU ĐẠI JESUS

Paul cùng đi với James đến Đền Thờ để thanh tẩy mình và cầu nguyện như một người Do Thái, nhưng ông bị một số người Do Thái đã nhìn thấy ông giảng đạo trên những chuyến đi nhận ra và túm lấy ông. Đội bách binh La Mã, được giao nhiệm vụ giữ gìn trật tự trong Đền Thờ, phải giải cứu trước khi ông bị treo cổ. Khi Paul một lần nữa lên tiếng giảng đạo, người La Mã cho rằng ông là ‘tên phù thủy’ Ai Cập trốn tránh, vì thế ông bị bắt trói và giải đến lâu đài Antonia để chịu phạt roi. ‘Anh phạt roi một người La Mã có đúng luật không?’ Ông hỏi. Tên lính chưng hửng khi biết rằng tên mê sảng mắt hoang dại này là một công dân La Mã chính cống có quyền kháng cáo lên Nero phán xử. Người La Mã cho phép giáo trưởng và Hội đồng Sanhedrin thẩm vấn Paul trước một đám đông giận dữ đang theo dõi. Câu trả lời của ông quá xúc phạm đến nỗi ông suýt bị treo cổ lần nữa. Bọn bách binh La Mã khiến đám đông bình tâm khi ra lệnh giải ông về Caesarea.

Kỳ công của Paul có thể đã gây tiếng xấu cho người Cơ đốc Do Thái. Năm 72, giáo trưởng Ananus, con trai của Annas người đã xử Jesus, ra lệnh bắt giữ James, xử ông trước Hội đồng Sanhedrin và ném ông qua bức tường Đền Thờ, ắt hẳn từ đỉnh cao nhất nơi anh ông bị Sa tăng cám dỗ. Sau đó James bị ném đá và nhận một phát chày vồ ân huệ. Josephus, đang sống ở Jerusalem, tố cáo Ananus là ‘đồ man rợ’, cho biết phần đông dân Do Thái đều kinh hoàng: em của Jesus được nhiều người tôn kính. Vua Agrippa II lập tức cách chức Ananus. Nhưng các tín đồ Cơ đốc vẫn tiếp tục là một triều đại: Jesus và James được kế vị bởi em họ hoặc em cùng cha khác mẹ, Simon.

Trong khi đó, Paul đến Caesarea với tư cách một tù nhân: Felix quan đại diện tiếp nhận Paul đồng thời với bà vợ dòng Herod của mình, hoàng hậu Drusilla trước đây, và đề nghị sẽ tha ông nếu ông chịu hối lộ. Paul từ chối. Felix giờ đang gặp nhiều lo lắng thúc bách. Cuộc chiến đã bùng phát giữa Do Thái và Syria. Ông tàn sát một số lớn người Do Thái và bị triệu về La Mã, để lại Paul trong ngục thất. Herod Agrippa II và và em gái ông Berenice, nguyên hoàng hậu của cả Chalcis lẫn Cilicia (và được cho là người tình loạn luân của ông), đến thăm Caesarea để nghênh đón quan đại diện mới, người đã mang vụ Cơ đốc lên nhà vua, cũng như Pilate đã mang Jesus cho Antipas trước ông.

Paul giảng Phúc âm Kitô cho cặp hoàng gia đang cúi mình trịnh trọng lắng nghe, khéo léo diễn giải thông điệp của mình cho phù hợp với ông vua ôn hòa: ‘Ta biết ngài là một người am hiểu tất cả tập tục Do Thái. Hoàng thượng Agrippa, ngài có tin vào các tiên tri không? Ta biết ngài tin.’

‘Gần như ông đã thuyết phục được ta vào đạo Cơ đốc,’ nhà vua trả lời. ‘Người này có thể đã được trả tự do nếu ông ta đã không chống án lên Caesar.’ Nhưng Paul đã chống án lên Nero – nên ông ta phải đi đến Nero.

 

JOSEPHUS: ĐẾM NGƯỢC ĐẾN CÁCH MẠNG

Paul không phải là người Do Thái duy nhất chờ đợi Nero phán xét. Felix cũng giải một số giáo sĩ xui xẻo của Đền Thờ đến hoàng đế xét xử. Bạn của họ, một người 26 tuổi có tên là Joseph ben Matthias, quyết định đến La Mã để cứu các bạn giáo sĩ của mình. Được biết nhiều hơn dưới tên Josephus, ông cáng đáng mọi việc – chỉ huy nổi dậy, người được hoàng gia Herod bảo trợ, một quan triều – nhưng trên hết, ông sẽ trở thành sử gia kiệt xuất của Jerusalem.

Josephus là con trai một giáo sĩ, xuất thân từ dòng dõi Maccabee, một điền chủ ở Judaea, lớn lên ở Jerusalem, nơi đó ông được khâm phục vì học vấn và sự minh triết. Khi là thiếu niên ông đã thực tập ba giáo phái Do Thái chủ yếu, thậm chí gia nhập một số giáo sĩ tu khổ hạnh trong sa mạc, trước khi trở về Jerusalem.

Khi đến La Mã, Josephus liên lạc với một kịch sĩ Do Thái được hoàng đế độc địa nhưng yêu sân khấu ưu ái. Nero đã giết vợ mình và yêu say đắm Poppaea, một mỹ nhân đã có chồng với mái tóc đỏ và làn da xanh tái. Khi trở thành hoàng hậu, Poppaea gây cho Nero sự tin cẩn đến nỗi ông giết luôn người mẹ nham hiểm Agrippina của mình. Vậy mà Poppaea cũng trở thành một trong những người ‘kính sợ Chúa’ mang nửa dòng máu Do Thái. Qua giới thiệu của người bạn nghệ sĩ, Josephus diện kiến hoàng hậu, giúp trả tự do cho những bạn mình. Josephus đã làm rất tốt, nhưng khi ông và các bạn trở về đến nhà, họ thấy Jerusalem sôi sục ‘phong trào khởi nghĩa chống lại La Mã.’ Tuy vậy cuộc nổi dậy không phải là không tránh được: việc Josephus quen biết được với Poppaea cho thấy con đường tiếp xúc giữa La Mã và Jerusalem còn rộng mở. Hàng năm thành phố đông kịt những khách hành hương Do Thái mà không thấy có nhiều biểu hiện hỗn loạn cho dù chỉ có một đội quân La Mã hỗ trợ (khoảng 600 – 1200 người) hiện diện ở Antonia. Thành phố Đền trù phú tồn tại ‘trong không khí hoà bình và thịnh vượng’, được điều hành bởi một giáo trưởng Do Thái được vua Do Thái chỉ định. Chỉ đến lúc này Đền Thờ cuối cùng mới hoàn tất việc xây dựng, đem đến tình trạng thất nghiệp cho 18,000 thợ xây dựng. Vì thế Vua Agrippa tạo ra việc làm cho họ bằng cách giao phó việc xây dựng những con phố mới.

Bất cứ thời nào, nếu hoàng đế chăm chỉ hơn một chút, quan đại diện công minh hơn một chút, họ có thể vãn hồi trật tự giữa các phe phái Do Thái. Trong khi đế chế được điều hành bởi những người Hy Lạp có năng lực của Nero, thì việc hoàng đế chỉ biết đóng kịch và tranh đua điền kinh, thậm chí những thanh trừng đẫm máu, cũng có thể tha thứ được. Nhưng khi nền kinh tế bắt đầu suy sụp, sự bất tài của Nero lan xuống đến xứ Judaea, nơi giờ đây không có hành vi ô nhục nào mà quan đại diện bỏ qua không làm. Ở Jerusalem, quan đại diện tại vị hoạt động việc bảo kê, nhận tiền hối lộ của các nhà có chức quyền mà đàn em du đảng của họ cạnh tranh với bọn Sicarii để khủng bố dân chúng. Không có gì ngạc nhiên khi xuất hiện một tiên tri khác, cũng có tên Jesus, la lớn lên giữa Đền Thờ, ‘Khổ sở cho Jerusalem!’ Được xét là điên khùng, y bị đánh roi nhưng không bị hành hình. Vậy mà Josephus kể lại không nhiều tình cảm chống La Mã.

Vào năm 64, La Mã bốc cháy. Nero chắc hẳn đã giám sát việc chữa cháy và y mở cửa vườn cho những người mất nhà cửa đến trú ngụ. Nhưng bọn âm mưu loan tin chính Nero đã phóng hỏa để có thể xây dựng một cung điện lớn hơn và y đã phớt lờ việc chữa cháy vì mãi mê khảy đàn lia. Còn Nero thì đổ tội cho giáo phái nửa Do Thái, tức bọn Cơ đốc, đã làm hoả hoạn tràn lan. Y bắt nhiều người trong số đó thiêu sống, cho thú hoang xé xác hoặc đóng đinh. Trong số nạn nhân có hai người bị bắt ở Jerusalem nhiều năm trước: Peter được cho là bị đóng đinh lật ngược đầu; còn Paul bị trảm thủ. [1] Hành động bức hại tín đồ Cơ đốc của Nero khiến y có chỗ đứng trong Sách Khải Huyền Cơ đốc, bộ cuối cùng trong kinh sau này trở thành Tân Ước.

‘Những lối tra khảo tinh tế’ do y nghĩ ra cho người Cơ đốc không cứu được y. Ở cung, y đá hoàng hậu đang mang bầu Poppaea ngay giữa bụng, vô tình giết chết bà. Khi hoàng đế giết kẻ thù thực sự ngoài đời thì y tưởng tượng là mình đang thăng hoa sự nghiệp diễn xuất, trong khi quan đại diện mới nhất của y ở Judaea, Gessius Florus, vênh váo diễu hành trút cơn giận dữ của mình lên khắp nước. Thảm họa bắt đầu ở Caesarea: người Hy Lạp gốc Syria hiến tế một con gà trống bên ngoài một nhà thờ Do Thái: người Do Thái phản kháng. Florus được hối lộ để hậu thuẫn người Hy Lạp và rồi hành quân xuống Jerusalem, yêu cầu Đền Thờ nộp 17 ta-lăng thuế. Khi y xuất hiện ở Praetorium (toà án binh) vào mùa xuân 66, bọn thiếu niên Do Thái gom các đồng xu ném vào y. Binh lính gốc Syria và Hy Lạp của Florus tấn công đám đông. Florus yêu cầu các chức sắc Đền Thờ hãy giao nộp bọn du đãng, nhưng họ từ chối. Bọn lính chạy tứ tán, lùng sục mọi nhà và tàn sát dân cư. Florus phạt roi và đóng đinh tù nhân, kể cả những ông lớn Do Thái vốn là công dân La Mã. Đây là giọt nước làm tràn ly: Các chức sắc lãnh đạo Đền Thờ không còn có thể nhờ cậy vào sự bảo vệ của người La Mã. Những hành vi tàn bạo của binh lính thuộc địa hỗ trợ của Florus làm bùng cháy tinh thần phản kháng của dân Do Thái. Khi đoàn kỵ binh La Mã nện vó ngựa trên đường phố một cách điên cuồng, họ thậm chí tấn công em gái Vua Agrippa, Hoàng hậu Berenice. Cận vệ của bà phải bọc bà lại mang vào Cung Maccabean, nhưng bà cương quyết giải cứu Jerusalem.

❀ ❀ ❀

[1] Trong năm 2009, các nhà khảo cổ thuộc giáo triều phát hiện một ngôi mộ được ẩn giấu bên dưới Nhà Thờ Thánh Paul bên ngoài tường thành La Mã, từ lâu nổi tiếng là địa điểm an táng Paul. Hài cốt được xác định niên đại bằng các-bon là vào khoảng thế kỷ 1 đến thế kỷ 3 – đó có thể thực sự là di cốt của Paul.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.