Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
Chương 15

❊ ❊ ❊

CONSTANTINE ĐẠI ĐẾ: CHRIST, VỊ THẦN CHIẾN THẮNG

Năm 312, Constantine xâm lăng Ý và tấn công đối thủ của mình là Maxentius ngay bên ngoài La Mã. Đêm trước trận đánh, Constantine nằm mơ nhìn thấy trước mắt ‘trên bầu trời dấu hiệu của thập giá ánh sáng’ in chồng lên mặt trời với khẩu hiệu: ‘Với dấu hiệu này nhà ngươi sẽ chinh phục!’ Vì thế sáng ra ông cho trang trí trên tấm khiên binh lính biểu tượng Chi-Rho, hai ký tự đầu tiên của chữ ‘Christ’ bằng tiếng Hy Lạp chồng lên nhau (hình dưới). Ngày hôm sau trong Trận Cầu Milvian, ông đánh thắng phe miền Tây. Trong thời kỳ coi trọng các điềm triệu và khải thị, Constantine tin rằng mình có được sức mạnh nhờ ‘Đấng Toàn năng’ của đạo Cơ đốc ban cho.

 

1

Các ký tự CHI and RHO (ΧΡ) – của chữ Hy Lạp ΧΡΙΣΤΟΣ (Christos) trong đó nét xổ thẳng xuống của rho giao với tâm điểm của chi.

Constantine là một quân nhân thô cộc, một người có tầm nhìn tâm linh, một nhà chuyên chế hiếu sát và một kẻ khoa trương chính trị xung sát xông đến quyền lực nhưng, một khi đã lên đến đỉnh cao siêu việt, ông hình dung một đế chế được thống nhất dưới một tôn giáo, một hoàng đế. Ông là tập hợp của những xung khắc – ông cổ bạnh, mũi khoằm và bệnh hoang tưởng của ông đôi khi nổ bùng thành những vụ sát hại bạn bè và người thân. Ông để tóc đến vai, chưng diện vòng trang sức màu mè và y phục có đính đá quí, và thích phô trương quyền lực bằng những đám rước, những cuộc tranh luận giữa các triết gia và giám mục và những dự án về thẩm mỹ kiến trúc và đột phá tôn giáo. Không ai biết tại sao ông bám lấy đạo Cơ đốc tại thời điểm đó, mặc dù, như những ai tự tin một cách lạnh lùng, ông tôn thờ mẹ mình, Helena, một người cải đạo từ rất sớm. Nếu việc cải đạo của cá nhân ông cũng kịch tính như của Paul trên đường đến Damascus, việc bám lấy đạo Cơ đốc về mặt chính trị có tính cách tuần tự. Quan trọng hơn, Christ đã mang về thắng lợi trong trận chiến, và đó là thứ ngôn ngữ mà Constantine hiểu được: Christ Chiên Con đã trở thành thần chiến thắng. Không phải là Constantine giống như chiên con trong bất kỳ trường hợp nào: chẳng bao lâu ông thể hiện mình như là người Đồng đẳng với các Tông đồ. Không có gì đáng nói trong việc ông tự đề cao mình là một tư lệnh quân sự được thần linh hộ mạng. Các hoàng đế La Mã, như các vua Hy Lạp, luôn đồng nhất mình với các đấng bảo hộ thiêng liêng. Cha của Constantine thờ cúng Mặt Trời Bất khuất, một bước tiến đến tôn giáo độc thần. Nhưng việc chọn lựa Christ là không thể tránh được – nó phụ thuộc đơn thuần vào tính tùy hứng nhất thời của Constantine. Năm 312, đạo Ma-ni và Mithraism phổ biến không kém đạo Cơ đốc. Constantine cũng có thể đã dễ dàng lựa chọn một trong hai tôn giáo này – và châu Âu ngày nay có thể là những quốc gia đều theo đạo Mithraism hoặc Ma-ni.

Thoạt đầu, Constantine đồng nhất Mặt Trời Bất khuất với Chúa Trời của đạo Cơ đốc, in hình thập giá trên một số đồng tiền, hình Mặt Trời trên một số khác, và giữ nguyên chức vịPontifex Maximus (Giáo chủ) của đa thần giáo. Năm 321, Constantine tuyên bố ngày chủ nhật – ngày của Mặt Trời (Sunday) – là phiên bản ngày Sabbath của Cơ đốc giáo. Đạo Mithraism là một tôn giáo bí ẩn của Ba Tư mà một số binh lính La Mã theo. Về phần đạo Ma-ni, nhà tiên tri Mani người Parthia dạy rằng sự tồn tại là một cuộc đấu tranh trường kỳ giữa ánh sáng và bóng tối, cuối cùng sẽ được Jesus Christ phán xét và khai sáng. Bấy giờ chỉ còn lại chữ viết để mô tả một thế giới quan xem cuộc đời như là trận quyết đấu giữa thiện và ác.

 

Năm 313, Constantine và Hoàng đế phương Đông Licinius ban bố sự khoan dung và đặc quyền cho các tín đồ Cơ đốc bằng Chỉ dụ Milan. Nhưng chỉ đến năm 324 Constantine, giờ đã 51 tuổi, mới đánh bại Licinius để thống nhất đế chế. Ông ra sức áp đặt sự thuần khiết Cơ đốc lên khắp lãnh thổ của mình và cấm những tục hiến tế đa thần giáo, mãi dâm thiêng liêng, hành lạc tôn giáo tập thể, và những cuộc biểu diễn giác đấu, thay thế bằng trò đua ngựa. Năm đó, ông dời kinh đô về phía đông, thành lập Đệ nhị La Mã tại địa điểm của một thị trấn có tên Byzantium trên Sông Bosphorus, một cửa ngõ giữa châu Âu và châu Á (hình dưới). Nơi này sẽ sớm được biết dưới tên Constantinople với giáo trưởng riêng, giờ đây bắt tay với giám mục La Mã và các giáo trưởng Alexandria và Antioch tạo thành những quyền lực thống trị Cơ đốc giáo. Tín ngưỡng mới thích hợp với phong cách vương trị mới của Constantine. Ngay từ những ngày đầu thời kỳ James, Giám sát viên Jerusalem, Cơ đốc giáo đã phát triển một hệ cấp bậc gồm các trưởng lão (presbyteroi) và các giám sát / giám mục (episkopoi) có nhiệm vụ coi sóc giáo khu. Constantine nhận thấy rằng Cơ đốc giáo, với hệ thứ bậc của nó, song hành với cách tổ chức của đế chế La Mã: có một hoàng đế, một nhà nước, một tín ngưỡng.

 

6a9dd76fc3ad1878792ef985383c24aa21c240ac

Vậy mà ông chỉ vừa mới kết chặt quyền tối cao của mình với tôn giáo đế chế thì ông phát hiện ra Cơ đốc giáo bị chia rẽ: Phúc âm mơ hồ về bản chất của Jesus và mối quan hệ của ông với Chúa Trời. Jesus có phải là con người có tính cách thần thánh nào đó hoặc là Chúa Trời cư ngụ trong cơ thể một con người? Giờ Giáo hội đã được thành lập, Cơ đốc giáo học trở nên tối quan trọng, hơn cả chính sự sống, bởi vì việc định nghĩa đúng Christ sẽ khẳng định con người có thể được cứu rỗi để bước vào thiên đường hay không. Mức độ sôi nổi và quyết liệt trong tranh cãi những vấn đề này cũng tương đương như trong thời đại thế tục ngày nay chúng ta tranh cãi về giải trừ vũ khí hạt nhân hoặc tình trạng ấm lên toàn cầu. Giờ Cơ đốc giáo trở thành tôn giáo quần chúng trong một thời đại mộ đạo cuồng tín và những câu hỏi này được tranh luận ngoài đường phố cũng như trong hoàng cung. Khi Arius, một giáo sĩ ở Alexandria giảng trước đám đông sử dụng những điệp ngữ thông dụng, lập luận rằng Jesus lệ thuộc vào Chúa Trời và do đó có nhân tính nhiều hơn là thánh tính, điều này khiến nhiều người băn khoăn vì họ thường coi Christ có thánh tính hơn là nhân tính. Khi thống đốc khu vực ra sức dẹp đuổi Arius, các tín đồ theo ông nổi loạn ở Alexandria.

Năm 325 Constantine, tức giận điếng người vì vụ hỗn loạn giáo điều này, triệu tập các giám mục đến dự Hội đồng Nicaea và ra sức áp đặt cách giải quyết của mình: rằng Jesus vừa thánh vừa người, ‘có cùng bản chất’ với Chúa Cha. Chính tại Nicaea (ngày nay là Isnik ở Thổ Nhĩ Kỳ), mà Macarius, Giám mục của Aelia Capitolina (trước đây là Jerusalem), gợi sự chú ý của Constantine đến số phận của thị trấn nhỏ bé bị lãng quên của ông. Constantine hiểu biết Aelia, ắt hẳn đã viếng thăm nó lúc lên 8 khi có mặt trong đoàn tùy tùng của Hoàng đế Diocletian. Giờ tha thiết muốn chào mừng sự thành công của mình ở Nicaea và phóng chiếu sự vinh hiển thiêng liêng của đế chế mình, ông quyết định phục dựng thành phố và kiến tạo điều mà Eusebius (Giám mục Caesarea và nhà viết tiểu sử hoàng đế) gọi là ‘Tân Jerusalem được xây dựng đối kháng với Cựu Jerusalem quá tiếng tăm’. Constantine ủy thác một nhà thờ biến Jerusalem thành cái nôi của Tin Lành. Công trình được đẩy nhanh tiến độ do những rối loạn nội bộ chết chóc trong hoàng tộc.

 

CONSTANTINE ĐẠI ĐẾ: SÁT HẠI TRONG GIA ĐÌNH

Ngay sau thắng lợi của Constantine, vợ ông Fausta tố cáo trưởng nam của ông (với người vợ trước) Crispus Caesar xúc phạm tình dục với bà. Có phải bà ta đùa cợt trên tính thuần khiết Cơ đốc mới mà ông đề cao bằng cách khai rằng Crispus đã cố tán tỉnh mình hoặc y là một tên hiếp dâm? Có phải đây thực sự là một vụ vụng trộm đã không được như ý? Crispus ắt hẳn không phải là chàng trai đầu tiên vụng trộm với mẹ kế cũng không phải là người cuối cùng muốn điều đó, nhưng có lẽ hoàng đế vốn đã đố kỵ với những thành tựu quân sự của Crispus. Chắc chắn Fausta có đủ mọi lý do để loại bỏ mối trở ngại này ngăn cản các con riêng của mình lên ngôi.

Dù sự thật là gì, Constantine, phẫn nộ trước sự vô luân của con trai, ra lệnh hành hình anh. Các cố vấn Cơ đốc của hoàng đế chán ghét và người phụ nữ quan trọng nhất trong đời ông, mẹ ông, giờ phải can thiệp. Helena đã từng là tiếp viên người Bithnia và có thể chưa hề kết hôn với cha ông, nhưng bà đã sớm cải sang đạo Cơ đốc và giờ là Augusta – thái hậu – theo đúng danh nghĩa.

Helena thuyết phục Constantine rằng ông đã bị giật dây. Có lẽ bà tiết lộ thực sự là Fausta đã cố quyến rũ Crispus, chứ không phải ngược lại. Chuộc lỗi cho một vụ sát nhân không thể tha thứ này bằng một vụ sát nhân khác, Constantine ra lệnh hành quyết vợ mình, Fausta, vì tội ngoại tình: hoặc bà bị luộc sôi đến chết hoặc bị làm ngạt thở trong phòng tắm hơi đặt nhiệt độ rất cao, một cách giải quyết đặc biệt phi Cơ đốc đối với một vấn đề nan giải rất phi Cơ đốc. Nhưng Jerusalem sẽ được lợi từ vụ sát nhân kép này, [1] vốn hiếm được những kẻ tán dương Cơ đốc giáo đề cập đến vì đâm ra lúng túng.

Constantine Đại Đế không phải là ông thánh – ông sát hại vợ và con trai – nhưng ông bám lấy Cơ đốc giáo và biến đổi Jerusalem, ra lệnh xây dựng Nhà Thờ Mộ Thánh, và ông phái mẹ mình Helena đến giám sát.

Chẳng bao lâu sau đó, Helena, có được toàn quyền làm đẹp thành phố của Christ, lên đường đến Jerusalem. [2] Vinh quang của bà sẽ là hành động ăn năn của Constantine.

 

HELENA: NHÀ KHẢO CỔ ĐẦU TIÊN

Helena, thái hậu thất tuần, có hình trên đồng tiền với gương mặt sắc cạnh, mái tóc tết lại và đội mũ tiara, đến Aelia ‘với tất cả sự năng động của tuổi trẻ’, và số tiền tài trợ kệch sù, để trở thành người kiến tạo sừng sỏ nhất và nhà khảo cổ thành tựu tuyệt diệu nhất.

Constantine biết rằng vị trí Jesus Đóng Đinh và nơi chôn cất nằm bên dưới Đền Thờ của Hadrian với bức tượng của ‘con quỷ cái dơ dáy đó tên là Vệ Nữ thần, một điện thờ tối tăm của những tên sùng bái tượng thần vô hồn’, như lời của Eusebous. Ông đã ra lệnh cho Giám mục Macarius thanh tẩy địa điểm, phá hủy đền thờ đa thần giáo, khai quật nhà mồ gốc bên trong và xây dựng ở đó một vương cung thánh đường, sẽ trở thành công trình ‘diễm lệ nhất thế giới’ với những cấu trúc đẹp đẽ nhất, cột và đá, loại quí báu và lâu bền nhất, được tô điểm bằng vàng.

Helena quyết tâm tìm cho bằng được nhà mồ thực sự. Đền thờ đa thần giáo phải bị đập bỏ, những đá lót phải được nạy lên, đất dọn sạch và địa điểm thiêng liêng được định vị. Việc truy tìm của thái hậu khơi dậy cuộc tìm kiếm đầy sôi nổi và hái ra tiền trong khu vực Aelia nhỏ hẹp. Một người Do Thái, có lẽ trong số những người Do Thái theo Cơ đốc giáo còn ở lại, trưng ra những tài liệu dẫn đến việc phát hiện một hang động được tuyên bố là nhà mồ của Jesus. Helena cũng tìm ra vị trí Đóng Đinh và ngay cả chính cây Thập giá.

Chưa có nhà khảo cổ nào từng sánh được với kỳ tích của bà. Bà khám phá ba thập giá bằng gỗ, một bảng yết thị bằng gỗ trên đó có dòng chữ ‘Jesus xứ Nazareth, Vua Do Thái’, và những cây đinh thực sự. Nhưng thập giá nào là thập giá đúng? Người ta cho rằng thái hậu và giám mục đã mang những mảnh gỗ này đến bên giường của một phụ nữ đang hấp hối. Khi cái thứ ba được mang đến, người liệt giường ‘thình lình mở mắt, lấy lại sức lực và bật người ra khỏi giường’. Helena ‘gởi một phần di vật cùng với đinh đóng cho con trai Constantine của mình’, và hoàng đế buộc chúng vào cương ngựa. Từ lúc đó trở đi, mọi tín đồ Cơ đốc đều khao khát có được những thánh tích thường xuất xứ từ Jerusalem, và biểu hiệu thập giá bắt đầu thay thế dấu hiệu Chi-Rho trước đây, trở thành biểu tượng của Cơ đốc giáo.

Việc Helena phát hiện ra Thập giá có thể được thêm thắt sau này, nhưng chắc chắn bà đã thay đổi thành phố mãi mãi. Bà xây dựng các thánh đường Thăng Thiên và Eleona trên Núi Olives. Nhà thờ thứ ba của bà, Nhà thờ Mộ Thánh, mất tám năm để hoàn thành, không chỉ là một tòa nhà mà là một phức hợp gồm bốn phần, mặt tiền hướng về đông, có thể đi vào từ trục giao thông chính, Cardo. (Ngày nay mặt tiền quay ra hướng nam.) Các khách viếng bước lên bậc thang dẫn vào một khuôn viên có mái che dẫn qua ba lối vào Vương cung Thánh đường Martyrium, một ‘nhà thờ có vẻ đẹp kỳ vĩ’, với năm gian bên ngăn bởi các hàng cột, đến lượt mình dẫn vào Vườn Thánh qua một hậu khu. Vườn Thánh là một khuôn viên có cột, ở góc đông-nam là ngọn đồi Golgotha bao bọc bởi một nhà nguyện lộ thiên. Nhà tròn có vòm mạ vàng (Anastasis) mở ra bầu trời để ánh sáng chiếu xuống nhà mồ của Jesus. Vẻ lộng lẫy của nó khống chế khoảng không gian linh thiêng của Jerusalem, chế nhạo Núi Đền, nơi giờ đây Helena san bằng mọi điện thờ đa thần giáo và ‘ra lệnh ném các thứ ô uế tại chỗ’ để minh chứng cho sự thất bại của Chúa Trời Do Thái.

Chúng ta không biết thứ tự chính xác của những công trình và phát hiện này. Eusebius xứ Caesarea, người cung cấp những ghi chép đương thời, chỉ đề cập đến những mệnh lệnh của hoàng đế và hoạt động của Giám mục Macarius trong việc xây dựng Nhà thờ Mộ Thánh (nhưng không nói gì về vai trò của Helena trong việc tìm ra Thập giá). Nhưng ông ta ca tụng bà trong việc xây dựng Nhà thờ Thăng Thiên trên Núi Olives. Chuyện về Helena và Thập giá được Sozomen (cũng là một tín đồ Cơ đốc địa phương) kể lại sau này. Một số đoạn tường thành của Constantine còn có thể được nhìn thấy, bên trong Nhà Thờ Nga Alexander Nevsky.

 

Image

 

Chỉ một ít năm sau, vào 333, một trong những khách hành hương mới đầu tiên, một vị khách nặc danh từ Bordeaux, đã thấy Aelia biến thành một thành phố thánh Cơ đốc nhộn nhịp. Nhà thờ ‘kỳ vĩ’ chưa hoàn thành nhưng tiến độ đẩy nhanh, tuy vậy bức tượng của Hadrian vẫn còn đứng sững giữa những đổ nát của Núi Đền.

Thái hậu Helena thăm viếng tất cả địa điểm mà Jesus lui tới khi còn sống, tạo ra bản đồ lộ trình đầu tiên cho khách hành hương đang dần dần đổ xô về Jerusalem để trải nghiệm tính linh thiêng đặc sắc của nó. Helena đã gần 80 khoảng thời gian bà trở về Constantinople nơi con trai bà giữ gìn những mảnh vụn Thập giá, gởi những mảnh khác và bảng yết thị đến nhà thờ La Mã được đặt tên một cách thích hợp Santa Croce in Gerusalemme (Thập giá ở Gerusalemme: Helena cho chở về một số đất ở Jerusalem để đổ lên đất nhà thờ La Mã nên gọi là trại là Gerusalemme).

Eusebius, Giám mục xứ Caesarea, đố kỵ với tiếng tăm mới nổi lên của Jerusalem, không tin rằng thành phố Do Thái này, ‘sau khi đã sát hại Chúa và cư dân độc ác của nó đã nhận sự trừng phạt thích đáng’, có thể trở thành thành phố của Chúa Trời. Suy cho cùng, người Cơ đốc đã ít chú ý đến Jerusalem trong ba thế kỷ qua. Vậy là Eusebius có một luận điểm: Constantine phải đối phó với di sản của người Do Thái khi người sáng lập Tân Jerusalem phải đổi hướng tính thần thánh của những địa điểm Do Thái về cho những điện thờ mới của mình.

Khi người La Mã tôn thờ nhiều thần, họ khoan dung những vị thần khác, miễn là những vị thần lạ không đe doạ đến nhà nước, nhưng một quốc giáo độc thần lại yêu sách phải công nhận chỉ một chân lý độc nhất, một vị thần độc nhất. Việc bức hại những người Do Thái giết Christ mà những nỗi lầm than của họ minh chứng cho chân lý Cơ đốc, vì vậy trở nên bức thiết. Constantine ra lệnh bất kỳ người Do Thái nào ngăn cản anh em mình cải sang đạo Cơ đốc đều bị thiêu sống ngay lập tức.

Cho tận đến ngày khai mạc Hội đồng Nicaea, Lễ Phục Sinh vẫn còn tổ chức trừng với ngày lễ Vượt Qua, vì chính tại ngày lễ Vượt Qua mà Jesus bị đóng đinh. Giờ vốn căm thù người Do Thái Constantine quyết định thay đổi sự kiện này vĩnh viễn. Constantine chỉ dụ rằng ngày Phục Sinh sẽ được ấn định vào Chủ nhật trăng tròn đầu tiên sau ngày xuân phân. Qui luật này được áp dụng đều khắp cho đến 1582 khi lịch phương Đông và phương Tây táchra.

 

Ở Jerusalem có một cộng đồng Do Thái nhỏ sinh sống, cầu nguyện tại một nhà thờ Do Thái trên Núi Zion, và hơn một thế kỷ qua họ thường lén lút cầu nguyện trên Núi Đền hoang vắng. Giờ đây ‘lũ Do Thái đáng ghét’, như Constantine gọi họ, bị cấm đến Jerusalem trừ mỗi năm một lần họ được phép lên Núi Đền, nơi khách hành hương Bordeaux trông thấy họ ‘than khóc và xé áo sống của mình’ lên ‘tảng đá đục lỗ – đá nền của Đền Thờ, ngày nay nằm bên trong Nhà thờ Vòm Đá Hồi giáo.

Constantine quyết định cử hành lễ kỷ niệm năm thứ 13 lên ngôi của mình tại Jerusalem nhưng còn bận phải giải quyết vụ tranh cãi đã bị giáo sĩ gây rối Arius khuấy động cho dù ông này đã từ giã cõi đời sau một sự cố vỡ ruột già.

Arius đang trên đường đến Constantinople sau một buổi tiếp kiến với Constantine thì ông cảm thấy ‘ruột muốn đi xổ’. Trước khi ông đến được nơi giải quyết, Socrates Scholasticus viết, thì ruột của Arius vỡ ra ngay giữa Quảng trường, bộ đồ lòng của ông gồm ruột, gan và lá lách xuất huyết và tuôn ra ngoài, một mình chứng hùng hồn về cái ác của hành động dị giáo của ông. Vậy mà giáo thuyết của ông vẫn sống sau khi Constantine qua đời, và được người kế vị ông Constantius II hậu thuẫn cho đến khi bị kết tội một lần nữa bởi Theodosius I, người mà vào năm 381 chỉ dụ rằng Jesus đứng ngang hàng với Chúa Cha trong Ba Ngôi Cha, Con và Thánh thần và có cùng bản chất.

 

Khi Constantine ra lệnh cho một nhà thờ Do Thái ‘giải phóng cho Giáo hội khỏi sự báng bổ và giảm nhẹ nổi lo âu của ta’, một lần nữa các đệ tử của Arius thách thức ông, làm lu mờ lễ hội Cơ đốc đầu tiên tổ chức ở Jerusalem, nơi tề tựu các giám mục đến từ khắp nơi trên thế giới. Nhưng hoàng đế bị bệnh nên không thể đến dự. Cuối cùng được rửa tội khi đang hấp hối vào năm 337, ông chia đế chế cho ba người con trai và hai người cháu. Điều duy nhất họ nhất trí là duy trì một đế chế Cơ đốc và ban hành những sắc luật bài Do Thái: năm 339, họ cấm tuyệt kết hôn với người Do Thái, mà họ gọi là ‘một nỗi ô nhục ghê tởm, man rợ’.

Các người thừa kế Constantine đánh nhau trong 20 năm, một cuộc nội chiến mà thắng lợi cuối cùng thuộc về người con thứ hai Constantius. Cơn nội loạn này làm Palaestina mất ổn định. Vào năm 351, một trận động đất ở Jerusalem xua mọi giáo dân Cơ đốc ùa vào Nhà Thờ Mộ Thánh ‘điếng người vì hoảng sợ’. Khi người Do Thái ở Galilee nổi dậy, do một vị vua tiên tri cầm đầu, họ bị em họ của hoàng đế Gallus Caesar tàn sát bừa bãi khiến ngay cả người La Mã cũng buồn nôn. Vậy mà giờ đây người Do Thái tìm được cảm tình tại một nơi đáng kinh ngạc: Hoàng đế quyết định lật đổ Cơ đốc giáo – và kiến tạo lại Đền Thờ Do Thái.

 

JULIAN TÔNG ĐỒ: JERUSALEM PHỤC HỒI

Vào ngày 19/7/362, hoàng đế mới, cháu Julian của Constantine, đang ở Antioch trên đường xâm lược Ba Tư, hỏi một phái đoàn Do Thái: ‘Tại sao các ngươi không hiến tế?’

‘Chúng thần không được phép,’ người Do Thái trả lời. ‘Xin phục hồi thành phố cho chúng thần, xây lại Đền Thờ và Áng thờ’.

‘Ta sẽ nỗ lực với nhiệt tình cao nhất’, Julian đáp, ‘để dụng lên Ngôi Đền của Chúa Trời Tối Thượng.’ Câu trả lời của hoàng đế khiến dân Do Thái vừa sửng sốt vừa hân hoan nhiệt liệt như thế ‘những ngày của vương quốc họ đã đến’.

Julian đảo ngược chính sách bức hại của Hadrian và Constantine, phục hồi Jerusalem về cho người Do Thái, trả lại cho họ tài sản, thủ hồi sắc thuế chống Do Thái và trao quyền đánh thuế và chức vị thái thú phán quan cho trưởng lão Hillel của họ. Người Do Thái ắt hẳn đã đổ về Jerusalem từ khắp nơi trong đế chế La Mã và Ba Tư để chào mừng phép lạ này. Họ nhận lại Núi Đền, chắc chắn là đã dỡ bộ bức tượng Hadrian và Antoninus để dựng lên một nhà thờ Do Thái tạm thời, có lẽ chung quanh những tảng đá mà khách hành hương Bordeaux gọi là Ngôi nhà của Vua Hezekiah.

Julian

Hoàng đế và triết gia Julian lật đổ Cơ đốc giáo, phục hồi đa thần giáo và trả Núi Đền lại cho người Do Thái.

 

Julian là con người dè dặt, có tri thức và vụng về. Một người Cơ đốc có thành kiến nhớ lại ‘chiếc cổ quẹo một bên, lưng gù và vai co rút của ông, mắt dại láo liêng, tướng đi lắc lư, cách hít hơi thở vào chiếc mũi nhô cao trông kênh kiệu, tiếng cười bồn chồn, không kềm chế, cái đầu gật lia lịa và lời nói ngập ngừng’. Nhưng vị hoàng đế râu rậm và vạm vỡ cũng quyết đoán và độc đoán. Ông phục hồi đa thần giáo, ưu ái vị thần bảo trợ cũ của hoàng gia, Thần Mặt Trời, khuyến khích tập tục hiến tế tại các đền thờ đa thần giáo và bãi việc các thầy giảng Galilee (như cách ông gọi Cơ đốc) để làm giảm bớt những tình cách ủy mị, phi La Mã.

Julian chưa từng mong đợi cai trị đế chế. Ông chỉ vừa lên 5 khi Constantius sát hại cha mình và hầu hết người thân trong gia đình; chỉ còn hai người sống sót, Gallus và Julian. Năm 349, Constantius phong Gallus chức danh Caesar (chức danh dành cho người được chỉ định sẽ làm hoàng đế) để rồi trảm thủ ông, một phần vì bất lực trong việc đàn áp cuộc nổi dậy của người Do Thái. Vậy mà ông cần một Caesar ở đế chế phía tây và chỉ còn lại một ứng viên duy nhất. Julian, lúc đó là sinh viên triết học ở Athens, trở thành Caesar, cai trị từ Paris. Có thể hiểu được tại sao ông lo lắng khi vị hoàng đế khó dự đoán triệu tập ông. Hứng khởi sau một giấc mơ về Zeus, ông chấp nhận vương miện hoàng đế do binh sĩ ông trao cho. Khi ông tiến quân về phía đông, Constantius qua đời và Julian bỗng thấy mình nghiễm nhiên là người cai trị toàn đế chế.

Việc Julian tái xây dựng Đền Thờ Do Thái không chỉ đánh dấu sự khoan dung của ông mà còn để phủ định việc người Cơ đốc đã nhận mình kế thừa lãnh thổ Israël thực sự, đảo ngược sự chứng nghiệm các lời tiên tri của Daniel và Jesus cho rằng Đền Thờ sẽ sụp đổ, và một dấu hiệu cho thấy ông nghiêm túc trong việc quay ngược chính sách của bác ông. Nó cũng tranh thủ được sự hậu thuẫn của người Do Thái ở Babylon trong thời gian ông lên kế hoạch cho cuộc chiến với Ba Tư. Julian không thấy có gì xung đột giữa đa thần giáo và độc thần giáo Do Thái, tin rằng người Hy Lạp tôn thờ ‘Vị Chúa Trời Tối Thượng’ của người Do Thái như thần Zeus: Yahweh không phải là độc nhất đối với người Do Thái.

Julian chỉ định Alypius, đại diện của ông tại Anh, xây dựng lại Đền Thờ Do Thái. Hội đồng Sanhedrin băn khoăn: điều này quá tốt đẹp để có thể là sự thật? Để trấn an họ, Julian, đang trên đường ra mặt trận Ba Tư, viết ‘Gởi Cộng đồng Do Thái’, lập lại lời hứa của mình. Ở Jerusalem, người Do Thái hân hoan ‘săn tìm những thợ thủ công khéo nhất, gom góp vật tư, phát hoang đất và hăng hái lao vào công việc đến nỗi thậm chí các bà còn khuân hàng đống đất cát và mang vòng cổ của mình để thanh toán các chi phí’. Vật liệu xây dựng được cất giữ trong chỗ gọi là Chuồng Ngựa của Solomon. ‘Khi họ đã dời đi hết những tàn tích của công trình trước đây, họ bắt đầu dọn sạch nền móng.’

Khi người Do Thái nắm quyền kiểm soát Jerusalem, Julian xâm lược Ba Tư với quân đội 60,000 người. Nhưng vào ngày 27/5/363 Jerusalem hứng chịu một trận động đất khiến vật tư xây dựng bị thiêu cháy một phần.

Người Cơ đốc vui sướng trước ‘hiện tượng tuyệt vời này’, mặc dù có thể họ đã tiếp tay thêm dầu vào lửa. Alypius đáng lẽ đã có thể tiếp tục công việc, nhưng Julian đã vượt sông Tigris vào Ba Tư. Ở Jerusalem căng thẳng, Alypius quyết định đợi Julian trở về. Tuy nhiên hoàng đế đã rút quân. Vào ngày 26/6 trong một cuộc đột kích lộn xộn gần Samara, một tên lính Ả Rập (có thể là một tín đồ Cơ đốc) đâm ông vào sườn bằng một ngọn giáo. Bị đâm trúng gan, Julian cố hết sức rút ngọn giáo ra, làm đứt cả gân tay. Các tác giả Cơ đốc cho rằng những lời nói cuối cùng trước khi chết của ông là, ‘Vicisti, Galilaee!’, ‘Galilean! Nhà ngươi đã chinh phục!’ Người kế vị ông, chỉ huy đội cận vệ của ông, phục hồi đạo Cơ đốc, đảo ngược mọi chính sách của Julian và một lần nữa người Do Thái bị cấm khỏi Jerusalem: từ đó trở đi một lần nữa chỉ còn một tôn giáo, một chân lý. Năm 391-2, Theodosius I biến Cơ đốc giáo thành quốc giáo chính thức và bắt đầu cưỡng bách vào đạo.

Không còn gì sót lại về thời kỳ bừng nở ngắn ngủi này của người Do Thái, nhưng có lẽ còn một manh mối nhỏ. Trên cao ở tường thành phía Tây, một dòng chữ khắc tiếng Hebrew đã được phát hiện đọc thấy: ‘Và khi bạn nhìn thấy điều này, tim bạn sẽ hân hoan, và xương cốt bạn sẽ nảy nở như cỏ non.’ Nó ở quá cao trên bức tường so với Đền Thờ Thứ Hai nhưng trong thời kỳ này mặt đất thì cao hơn nhiều. Một số học giả tin rằng dòng chữ này biểu lộ niềm vui của người Do Thái khi Jerusalem được phục hồi. Chắc chắn hơn, nó chỉ đến một nghĩa địa thế kỷ 10: xương cốt được tìm thấy bên dưới địa điểm này.

 

JEROME VÀ PAULA: THÁNH VỊ, TÌNH DỤC VÀ THÀNH PHỐ

Năm 384, một học giả La Mã u uất tên Jerome đến Jerusalem với một đoàn tùy tùng những mệnh phụ Cơ đốc giàu có. Sùng đạo đến mức ám ảnh, họ du lịch dưới sự che đậy một xì-căng-đan tình dục.

Giờ trong độ tuổi cuối tam tuần, chàng Jerome xứ Illyria đã sống như một ẩn sĩ trong sa mạc Syria, luôn bị giày vò bởi sự khao khát tình dục: ‘Mặc dù bạn đồng hành duy nhất của tôi là bọ cạp, tôi quay cuồng trong những điệu nhảy với gái, đầu óc tôi bừng bừng ham muốn.’ Sau đó Jerome làm thư ký cho Damasus I, Giám mục La Mã, ở đó giới quí tộc đã đi theo đạo Cơ đốc. Damasus thấy tự tin để tuyên bố rằng các giám mục La Mã phục vụ với hồng ân kế tục sứ mạng tông đồ trực tiếp từ St Peter, một bước lớn trong công cuộc phát triển của họ thành những giáo hoàng tột đỉnh, không thể sai lầm trong những thời đại tiếp theo. Nhưng giờ đây Giáo hội đã nhận được hậu thuẫn của giới quí tộc như thế, Damasus và Jerome bỗng thấy mình dính vào một số xì-căng-đan rất trần tục: Damasus bị kết tội ngoại tình, bị dán nhãn hiệu ‘kẻ cù tai các phụ nữ trung niên’, trong khi Jerome được cho là dan díu với một góa phụ giàu có Paula, một trong nhiều người như thế đã đi theo đạo Cơ đốc. Jerome và Paula được giải tội – nhưng họ phải rời La Mã và vì thế họ lên đường đến Jerusalem, cũng với con gái Eustochium của bà.

Chính sự hiện diện của trinh nữ thiếu niên này cũng dường như làm bốc hỏa Jerome, người vốn ngửi thấy mùi nhục dục khắp mọi nơi và bỏ nhiều thời gian trong chuyến đi để viết những giáo luận cảnh báo những tác hại của nó. ‘Nhục dục’, y viết, ‘cù những giác quan và đốm lửa dịu dàng của khoái lạc xác thịt bùng cháy rực.’ Một khi đặt chân tới Jerusalem, Jerome và các nữ triệu phú mộ đạo của mình thấy thành phố mới không khác một nồi lẩu gồm sự thánh thiện, trao đổi, mạng lưới tin đồn và tình dục. Lòng mộ đạo rất hăng say và mệnh phụ giàu có nhất trong số đám người này, Melania (người hưởng lợi tức hàng năm lên đến 120,000 cân vàng), xây dựng tu viện riêng của mình trên Núi Olives. Nhưng Jerome khiếp đảm trước những cơ hội tình dục mở ra do sự pha trộn quá nhiều đàn ông và đàn bà lạ mặt chen chúc với nhau trong cùng một chủ đề về nhiệt tình tôn giáo và hứng thú giác quan: ‘mọi loại cám dỗ đều tích tụ tại đây’, ông viết, và mọi loại người – đĩ điếm, kịch sĩ và những thằng hề’. Thật ra ‘không có loại hành vi xấu hổ nào mà họ không sa đà vào’, một khách hành hương thánh thiện nhưng đôi mắt sắc bén khác, Gregory xứ Nyssa, quan sát. ‘Lừa gạt, ngoại tình, ăn cắp, sùng bái, đầu độc, cãi cọ và sát hại là chuyện thường ngày.’

Sự bảo trợ của hoàng đế, việc xây dựng hoành tráng và dòng người hành hương giờ đây tạo ra một lịch trình lễ hội và nghi thức mới trên khắp thành phố, mà đỉnh cao là lễ Phục Sinh, và một địa lý tâm linh mới của Jerusalem, dựa trên những địa điểm trên hành trình khổ nạn của Jesus. Các tên được thay đổi, các truyền thống bị xáo trộn nhưng ở Jerusalem mọi thứ đều thành vấn đề nếu được mọi người tin là thực.

Zion là tên gốc của thành lũy Thành phố David, phía nam Đền Thờ, nhưng giờ thành đồng nghĩa với Núi Đền. Giờ ‘Zion’ trở thành tên Cơ đốc cho ngọn đồi phía tây. Năm 333, khách Hành hương Bordeaux đã gọi nó là Zion. Năm 390, Giám mục Jerusalem xây dựng nhà thờ Zion bề thế và lộng lẫy, Nhà Thờ Mẹ trên địa điểm Coenaculum. Quà tặng của Jerusalem cho sự tái chế năng động và đánh cắp văn hóa là vô tận – nhưng nó khiến những địa danh trở nên rối ben. Lấy ví dụ này: Cổng Neapolis của Hadrian với cột đá to đùng đứng trước nó giờ trở thành Cổng St Stephen qua vài thế kỷ trước khi người Ả Rập gọi nó là Cổng Cột, và về sau là Cổng Nablus (Neapolis là Nablus ngày nay); người Do Thái gọi nó là Cổng Shechem; người Ottoman gọi nó tên hiện tại, Cổng Damascus. (Cổng St Stephen ngày nay nằm ở phía đông thành phố.)

 

Một nữ tiên phong khác, Egeria, một nữ tu Tây Ban Nha, người đã đến thăm Jerusalem vào thập niên 380, mô tả bộ sưu tập luôn phình ra các thánh tích trong Mộ Thánh * mà giờ đây bao gồm cả chiếc nhẫn của Vua Solomon và bình bằng sừng đựng dầu xức cho David. Những vật này gia nhập cùng với mũ miện gai và cây giáo đâm qua sườn của Jesus.

Tính trình diễn và tính thiêng liêng khiến một số khách hành hương lâm vào trạng thái mê cuồng đặc trưng của Jerusalem: Thập giá Thực phải được canh gác cẩn mật vì khách hành hương thường thừa dịp hôn nó sẽ cắn trộm một miếng. Anh chàng Jerome thô lỗ đó không sao chịu được tất cả trò lố lăng này từ đó ông đến định cư ở Bethlehem để xúc tiến tuyệt phẩm của mình, dịch Kinh thánh bằng tiếng Hebrew (Do Thái cổ) ra tiếng Latinh. Nhưng ông vẫn thăm viếng thường xuyên và không hề e dè bày tỏ những quan điểm của mình. ‘Tìm đường đến Thiên đường ở Anh cũng dễ dàng như ở Jerusalem,’ ông gầm gừ trước cử toạ gồm những khách hành hương Anh mê muội. Khi ông thấy bà bạn Paula cầu nguyện một cách đầy xúc cảm trước Thập giá trong Vườn Thánh, ông len lén tuyên bố bà ta trông như ‘mình nhìn thấy Chúa đang giang tay trên đó’ và hôn nhà mồ ‘như một người khát nước quá lâu và cuối cùng mới tìm được nước’. ‘Nước mắt và lời than vãn của bà’ ồn ào đến nỗi ‘khắp Jerusalem và Chúa được bà khấn nguyện đều biết’.

Ông đánh giá cao một bi kịch diễn ra trên Núi Đền, được lưu giữ trong cảnh hoang tàn để khẳng định những tiên đoán của Jesus. Vào mỗi ngày thứ 9 tháng Ab Jerome hớn hở ngắm nhìn người Do Thái tưởng niệm ngày Đền Thờ bị tàn phá: ‘Những con người thiếu lòng tin đó đã giết tôi tớ của Chúa Trời – lũ khốn khổ đó tụ họp và, trong lúc Nhà Thờ Phục Sinh sáng rực và cờ Thập giá chiếu rọi tới từ Núi Olives, bọn đáng thương đó kêu gào trên những đổ nát của Đền Thờ. Một người lính đòi thêm tiền vì họ xin thêm thời gian để khóc lâu hơn.’ Dù thông thạo tiếng Hebrew, Jerome căm ghét người Do Thái, vì họ nuôi nấng con cái ‘như giun sán’, và hả hê với cuộc trình diễn quái đản nhưng vui thích, khẳng định chân lý thắng lợi của Christ: ‘Còn ai có thể hoài nghi khi chứng kiến cảnh tượng Ngày Khổ đau này ?’ Chính bi kịch cảnh lầm than của người Do Thái đã nhân đôi tình yêu của họ dành cho Jerusalem. Đối với Giáo sĩ Do Thái Berekhah cảnh tượng này là một nghi thức vừa thiêng liêng vừa nhức nhối: ‘Họ lặng lẽ đến và lặng lẽ đi, đến và đi đều trong nước mắt, đều trong bóng tối của đêm đen.’

Vậy mà bây giờ niềm hi vọng Do Thái dâng lên một lần nữa nhờ một Hoàng hậu đến để cai trị Jerusalem.

 

BARSOMA VÀ CÁC THẦY TU BÁN QUÂN SỰ

Các hoàng hậu thường hay bị các sử gia sô vanh mô tả như những ả giang hồ gớm ghê, nham hiểm hoặc là những nữ thánh quang minh, nhưng Hoàng hậu Eudocia đặc biệt khác thường khi được ca tụng vì ngoại hình sắc sảo và bản tính yêu nghệ thuật. Năm 438, người vợ kiều diễm này của Hoàng đế Theodosius II đến Jerusalem và nới lỏng ách cai trị người Do Thái. Đồng thời, một nhà khổ hạnh bài Do Thái cùng cực, Barsoma xứ Nisibis, đến Jerusalem trên một chuyến hành hương thường lệ, dẫn theo một đoàn thầy tu hổ mang bán quân sự.

Eudocia là người bảo vệ các tín đồ đa thần giáo và Do Thái vì chính bà theo đa thần giáo. Là cô con gái nổi bật của một học giả Athens, được giáo dục về tu từ học và văn chương, bà đến Constantinople để cầu cứu với hoàng đế sau khi bị các em trai giành lấy quyền thừa kế của mình. Theodosius II là một thiếu niên mềm yếu, bị bà chị Pulcherima vô duyên và mộ đạo của mình lấn lướt. Bà giới thiệu Eudocia với em mình, và hoàng đế ngay lập tức trúng tiếng sét ái tình và cưới nàng làm vợ. Pulcheria khống chế chính quyền của em trai mình, gia tăng sự bức hại người Do Thái, loại bỏ họ ra khỏi quân đội và đời sống công cộng, và gán cho họ vị thứ công dân hạng hai. Năm 425, Theodosius ra lệnh hành hình Gamaliel VI, trưởng lão Do Thái cuối cùng, để trừng phạt ông vì tội xây cất thêm đền thờ Do Thái, và bãi bỏ chức vụ đó mãi mãi. Dần dần, Eudocia củng cố quyền lực và

Theodosius đề bạt bà tước vị Augusta, ngang hàng với chị gái mình. Một hình khảm đá của bà trong một nhà thờ ở Constantinople cho thấy phong cách vương giả của bà, mái tóc đen, vẻ diễm lệ và cánh mũi thanh tú.

Ở Jerusalem, người Do Thái, gánh chịu tình cảnh bị áp bức nặng nề từ Constantinople, cầu xin với Eudocia được đến Thành phố Thánh nhiều hơn, và bà đồng ý là họ có thể công khai đến thăm Núi Đền trong những dịp lễ chính. Đây đúng là tin tuyệt vời, và người Do Thái kêu gọi nhau đến Jerusalem để mừng Lễ Tabernacles ‘vì vương quốc chúng ta sẽ được thiết lập’.

Tuy nhiên, niềm vui của người Do Thái làm ông khách khác đến thăm Jerusalem chán ghét. Đó là Barsoma xứ Nisibis, một thầy tu xứ Syria vốn là một cá thể trong một chủng loài mới, bọn người cầm đầu tu viện hiếu chiến. Trong thế kỷ 4, một số nhà khổ hạnh bắt đầu phản bác những giá trị thế tục của xã hội và sự hào nhoáng của thứ bậc tăng lữ. Họ xây cất những tu viện trong sa mạc để quay về với những giá trị của người Cơ đốc buổi đầu. Những ẩn sĩ tin rằng hiểu thể thức đúng cho bản chất Cơ đốc là không đủ, mà còn cần phải sống công chính, vì thế họ sống độc thân, kham khổ, vị tha và giản dị trên sa mạc Ai Cập và Syria.

Những kỳ công tự phạt roi phô trương tính thần thánh được tôn vinh, những tiểu sử của họ được viết ra, nơi ẩn cư của họ được thăm viếng và sự thiếu thốn cam khổ của họ là điều kỳ diệu. Hai Thánh Simon sống hàng thập kỷ tận trên cột cao 30 bộ. Daniel, một người cũng sống trên cột, được hỏi liệu ngài đại tiện làm sao: khô cứng, như bọn cừu, ông trả lời. Thật ra, Jerome nghĩ họ quan tâm đến sự bẩn thỉu nhiều hơn là sự thánh thiện. Nhưng các thầy tu này còn lâu mới an tĩnh. Jerusalem, hiện giờ đang bị bao vây bởi những tu viện mới và chứa nhiều tu viện của riêng nó, đang hoàn toàn dưới quyền sinh sát của những toán người cuồng tín đánh nhau trên đường phố này.

Barsoma, được cho là quá thần thánh đến nỗi ông không bao giờ ngồi hoặc nằm xuống, thấy bị xúc phạm trước cảnh sống lại của bọn Do Thái và Samaria ‘sùng bái thần tượng’ nên quyết tâm tẩy trừ chúng khỏi Palaestina. Y và bọn thầy tu thuộc hạ tàn sát người Do Thái và đốt rụi đền thờ của họ. Hoàng đế ngăn cấm bạo lực vì muốn ổn định trật tự, nhưng Barsoma phớt lờ ông ta. Giờ đây, ở Jerusalem, Barsoma cùng với đội quân xung kích tu sĩ trang bị gươm dao và chày vồ giấu bên dưới lớp áo choàng thầy tu, phục kích người Do Thái trên Núi Đền, ném đá và giết nhiều người, ném xác họ vào các hầm chứa nước và ngoài sân. Người Do Thái đánh trả, bắt được 18 kẻ tấn công và giao nộp cho thống đốc Byzantine kết án chúng tội sát nhân. ‘Những tên giặc cướp này dưới trang phục đáng kinh của thầy tu’ được giải đến Eudocia, bà hoàng hành hương. Chúng bị kết tội sát nhân nhưng khi chúng lôi kéo Barsoma vào, y tung tin là các tín đồ Cơ đốc cao quí đang bị thiêu sống. Đám đông tụ tập về phe Barsoma, nhất là khi y nêu ra trận động đất đúng lúc vừa rồi chính là dấu hiệu thần thánh tán thành.

Nếu hoàng hậu lên kế hoạch hành hình bọn Cơ đốc khát máu này, những người về hùa với Barsoma sẽ la làng, sau đó ‘chúng ta không ngại sẽ thiêu sống bà hoàng cùng đoàn tùy tùng’. Barsoma khủng bố các viên chức bắt họ làm chứng là những nạn nhân Do Thái không bị thương tích gì: họ chết là do nguyên nhân tự nhiên. Một trận động đất lại giáng xuống càng làm tăng cơn hoảng loạn lan truyền. Thành phố hoàn toàn mất kiểm soát. Eudocia không có nhiều lựa chọn trừ ra phải chấp nhận. ‘500 thầy tu bán quân sự tuần tra khắp đường phố và Barsoma loan báo rằng ‘Thập giá đã thắng’, và tiếng hô được lặp lại khắp thành phố ‘như tiếng gầm rú của sóng’ trong khi các bộ hạ xức dầu thánh cho y bằng chất nhựa thơm đắt tiền, và bọn sát nhân được thả tự do.

Dù có vụ bạo loạn này, Eudocia vẫn yêu quí Jerusalem, ủy thác xây cất một loạt nhà thờ mới, và bà trở lại Constantinople nặng chĩu những thánh tích mới. Nhưng chị dâu Pulcheria của bà đang âm mưu hủy diệt bà.

 

EUDOCIA: HOÀNG HẬU CỦA JERUSALEM

Theodosius gởi Eudocia một quả táo miền Phrygia. Bà tặng nó cho người được bà bảo trợ, Paulinus, Chánh Văn phòng, và ông này không biết bèn biếu lại hoàng đế. Theodosius, cảm thấy bị xúc phạm, hỏi rõ bà vợ. Bà nói dối, khăng khăng mình đã không trao tặng ai món quà của chồng mà đã ăn nó. Nghe thế, hoàng đế trưng ra trái táo. Lời nói dối trắng trợn này khiến Theodosius tin rằng những gì bà chị bấy lâu nay tỉ tê với mình là đúng: Eudocia đang dan díu với Paulinus. Paulinus bị hành hình năm 440, nhưng cặp đôi hoàng gia thỏa thuận phương cách để Eudocia rút khỏi kinh đô trong danh dự. Ba năm sau, bà về Jerusalem để cai trị Palaestina theo quyền hạn của mình.

Cho dù sau đó Pulcheria ra sức hãm hại bà, cử Saturnius, Bá tước trong Đội Vệ sĩ Hoàng đế, hành hình hai thành viên trong đoàn tùy tùng của bà. Eudocia tức tốc cho người mưu sát Saturnius. Một khi tình hình âm mưu cung cấm này chùng xuống, bà được tự do thực thi theo ý mình: bà xây dựng cung điện cho chính mình và tòa giám mục, nhà tế bần ngày sát bên Mộ Thánh, sống sót qua nhiều thế kỷ. Bà xây dựng tường thành đầu tiên kể từ thời Titus, bao quanh Núi Zion và Thành phố David – những đoạn tường thành của bà đến nay vẫn còn thấy được ở cả hai nơi. Những cột trụ của nhà thờ nhiều bậc của bà quanh Hồ Siloam vẫn còn đứng trong nước ở đó.

Eudocia lấy cảm hứng từ Thánh thi 51: ‘Làm tốt trong sự vui sướng của ngươi cho Zion: xây dựng tường thành Jerusalem.’ Bà được sự cố vấn của thầy tu tiếng tăm gốc Amenia Euphemius mà người được ông bảo trợ Sabas đã xây dựng Tu viện đẹp đẽ một cách ám ảnh Mar Saba Monastery, ngày nay cư trú 20 thầy tu, trong vùng núi Judaea không xa Jerusalem. Armenia, trong miền Caucasus, đã từng là vương quốc đầu tiên cải sang đạo Cơ đốc vào năm 301 (sau vụ cải đạo huyền thoại của Vua Abgar xứ Edessa), tiếp theo là xứ láng giềng Georgia (được biết dưới tên Iberia) vào năm 327. Eudocia được tiếp nối bởi người được bà bảo trợ, Peter người xứ Georgia, con trai của vua xứ Iberia, xây dựng một tu viện bên ngoài tường thành. Đây là khởi đầu cho sự hiện diện của người miền Caucasus ở Jerusalem đến tận ngày nay.

 

Đế chế giờ lại rối rắm bởi những tranh cãi bùng phát trở lại về Cơ đốc giáo học. Nếu Jesus và Chúa Cha có ‘cùng bản chất’, thế thì làm sao Christ có thể phối hợp cả hai nhân tính và thánh tính? Năm 428, Nestorius, Giáo trưởng mới của Constantinople, nhấn mạnh một cách cộc lốc khía cạnh con người và bản chất nhị nguyên của Jesus, tuyên bố rằng Mary Đồng Trinh không nên được coi là Theotokos, Người Có Mang Chúa, mà chỉ là Christokos, Người Có Mang Christ. Các kẻ thù của ông, phe Nhất Thể, khăng khăng cho rằng Christ có độc nhất một bản chất vừa là phàm vừa là thánh. Phái Nhị Thể chống lại phái Nhất Thể đối thủ giữa chốn triều đình và trong hẻm tối của Jerusalem và Constantinople với tất cả bạo lực và căm thù của các hooligan bóng đá Cơ đốc. Mọi người, Gregory xứ Nyssa nhận xét, đều đồng ý: ‘Nếu bạn nhờ một người đổi hộ tiền lẻ, y sẽ giảng cho bạn một miếng triết lý liên quan đến Sự Thọ Sinh và Sự Bất Thọ Sinh; nếu bạn hỏi giá một ổ bánh mì, y sẽ trả lời “Chúa Cha thì trọng hơn và Chúa Còn thì khinh hơn”; hoặc nếu bạn hỏi liệu nước tắm đã sửa soạn xong chưa, câu trả lời bạn nhận được là Chúa Con được tạo ra từ hư không.’

Khi Theodosius mất, hai mệnh phụ đương đầu nhau qua biên giới của Cơ đốc giáo học.

Pulcheria, người đã nắm quyền ở Constantinople, hậu thuẫn phái Nhị Thể, nhưng Eudocia, như hầu hết người Cơ đốc phương Đông, theo phái Nhất Thể. Pulcheria thẳng thừng trục xuất bà khỏi Giáo hội. Khi Juvenal, Giám mục Jerusalem, ủng hộ Pulcheria, những người Jerusalem Nhất Thể động viên nhóm thầy tu xung kích của mình đuổi ông ta ra khỏi thành phố, một tình trạng gây go mà ông ta sẽ khai thác. Đạo Cơ đốc từ lâu đã được bốn tòa giám mục kinh đô cai trị – La Mã và các giáo trưởng phương Đông. Nhưng các giám mục Jerusalem vẫn luôn vận động xin nâng bậc trưởng giáo. Giờ Juvenal tranh thủ được điều này khi cái giá của lòng trung thành khiến ông suýt mất mạng. Cuối cùng vào năm 451, tại Hội đồng Chalcedon,Pulcheria cưỡng chế một thỏa hiệp: trong Sự Hợp nhất của Hai Bản thể, Jesus là ‘hoàn hảo trong thánh tính, và hoàn hảo trong nhân tính’. Eudocia đồng thuận và hòa giải với Pulcheria. Sự thỏa hiệp đã kéo dài đến tận ngày nay trong Giáo hội Chính thống giáo, Thiên Chúa và Tin Lành, nhưng nó có tì vết: Phái Nhất Thể và phái Nestoria, vì những lý do hoàn toàn đối nghịch nhau, bác bỏ nó và tách khỏi Chính thống mãi mãi.

Tại một thời điểm khi đế chế La Mã phương Tây đang bị Attila Hung nô khủng bố và đang lao nhanh về sự sụp đổ định mệnh, lão bà Eudocia đang ngồi làm thơ Hy Lạp và xây dựng vương cung thánh đường St Stephen, giờ đã tuyệt tích, nhưng ngay phía bắc Cổng Damascus vào năm 460 bà được an táng bên cạnh các thánh tích của thánh tử đạo thứ nhất.

❀ ❀ ❀

[1] Với việc giết con trai mình, Constantine gia nhập vào câu lạc bộ ghê tởm gồm những ông vua sát tử trong đó có Herod Vĩ Đại, Ivan the Terrible, Peter Đại Đế, Suleiman the Magnificent. Riêng Herod, Hoàng đế Claudius và Henry VIII cũng hành hình vợ mình.

[2] Nhưng bà không phải là phu nhân đầu tiên của hoàng gia có mặt ở đó. Eutropia, bà mẹ theo Cơ đốc giáo của Fausta, cũng đã lưu lại Jerusalem, có lẽ để giám sát các kế hoạch của hoàng đế, thì nghe tin con gái mình bị giết. Bà chia sẻ số phận của con gái và gần như bị xóa tên khỏi lịch sử.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.