JUSTINIAN VÀ HOÀNG HẬU GÁI DIỄN: BYZANTINE JERUSALEM
Năm 518, ở tuổi 35, Justinian bỗng thấy mình là nhà cai trị thực sự của đế chế miền Đông khi chú mình Justin được đưa lên ngôi. Vị hoàng đế mới già nua là một nông dân dốt chữ xứ Thracia, phải nhờ cậy vào người cháu lanh lợi của mình là Peter, nhận tên mới là Justinian.
Một trong những quyết định sớm nhất của Justinian trong thời cai trị của chú ông là hủy diệt vương quốc Do Thái Ả Rập Yemen. Vào đầu thế kỷ 5, các Vua xứ Yemen (Himyara) đã cải sang Do Thái giáo. Năm 523, để đáp ứng với mối đe doạ Byzantine, vua người Do Thái Joseph – Dhu Nuwas Zurah Yusuf – tàn sát người Cơ đốc ở Yemen và cưỡng chế các tỉnh láng giềng cải sang đạo Do Thái. Justinian ra lệnh cho vua Cơ đốc giáo Kaleb xứ Axum (Ethiopia) xâm chiếm Yemen. Vua Joseph bị đánh bại vào năm 525 và phải tự tử bằng cách lao xuống biển trên lưng ngựa. Vậy mà nhiều người Do Thái vẫn ở lại Yemen và đạo Do Thái vẫn không biến mất ở Ả Rập: nhiều bộ tộc của nó vẫn còn là Do Thái trong thời kỳ Muhammad; người Do Thái ở Yemen sẽ bắt đầu định cư ở Jerusalem vào thế kỷ 19 và di dân đến Israël sau năm 1948. Đến năm 2010 chỉ còn một làng người Do Thái ở lại Yemen.
Ông không lên đến đỉnh cao quyền lực một mình: người tình của ông Theodora là con gái của một người huấn luyện gấu trong đội đua ngựa Xanh Lam, lớn lên giữa những nài ngựa đầm đìa mồ hôi, nhà tắm mờ ám và đấu trường gấu đẫm máu của sân đua ngựa Constantinople. Khởi nghiệp là một gái diễn vui nhộn trước tuổi dậy thì, bà được cho là một thành viên hoạt náo có năng khiếu vận động mà tiết mục biểu diễn đặc biệt là đang là giang rộng chân trên sân khấu trong khi các con ngỗng mổ hạt lúa mạch từ ‘cái đài hoa nóng bỏng này’. Những chi tiết nhục dục chắc chắn là phóng đại bởi sử gia triều đình, vốn ắt hẳn thầm bất mãn với việc phải nịnh hót trong công việc thường nhật của mình. Dù sự thật là thế nào, Justinian thấy mình không thể kềm chế được trước sức sống của cô và phải thay đổi luật lệ để có thể cưới được cô. Mặc dù những mưu mô của cô khiến cuộc sống ông thêm phức tạp, nhưng Theodora thường tiếp thêm nghị lực mà ông thiếu. Khi ông gần như đánh mất Constantinople trong những vụ nổi loạn Nika và đang tính đào thoát, bà nói thà là chết trong bộ áo tím hoàng gia còn hơn sống mà không có nó. Liền đó bà phái những vị tướng đến tiêu diệt bọn nổi loạn.
Nhờ những chân dung hiện thực của họ trong Nhà Thờ San Vitale ở Ravenna, chúng ta biết được Justinian mặt mỏng và không mấy thân thiện với nước da hơi đỏ, trong khi Theodora, thanh tú, xanh tái và lạnh giá, với cặp mắt sáng rực và đôi môi mím chặt, nhìn chằm chằm vào chúng ta, những dây ngọc trai điểm tô mái đầu và ngực bà. Dù cho họ xuất thân thế nào, cả hai đều nghiêm túc một cách khắt khe, không thương tiếc đối với đế chế và tôn giáo của mình.
Justinian, vị hoàng đế cuối cùng nói tiếng Latinh ở miền Đông, tin rằng sứ mạng đời ông là phục hồi đế chế La Mã và thống nhất lại vương quốc Cơ đốc giáo: một thời gian ngắn trước khi ông ra đời, vị hoàng đế cuối cùng của La Mã đã bị một tộc trưởng Đức đuổi ra khỏi thành phố. Mỉa may thay, việc này càng làm thăng hoa uy thế của các giám mục La Mã, chẳng bao lâu sẽ được biết đến như những giáo hoàng, và những khác biệt giữa đông và tây. Justinian đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc trong công cuộc xiển dương đế chế Cơ đốc giáo của mình bằng chiến tranh, lòng tin và nghệ thuật. Ông tái chinh phục Ý, bắc châu Phi và nam Tây Ban Nha, mặc dù ông đương đầu nhiều lần với cuộc xâm lược của Ba Tư có lần gần như tràn khắp miền Đông. Cặp đôi hoàng đế xiển dương đế chế Cơ đốc giáo của mình như là ‘nơi ban phước đầu tiên và vĩ đại nhất của cả nhân loại’, dập tắt nạn đồng tính, bọn đa thần giáo, bọn ngoại giáo, người Samaritan và Do Thái. Justinian hạ thấp đạo Do Thái không còn là tôn giáo được cấp phép và ngăn cấm hành lễ Vượt Qua nếu rơi đúng vào ngày Phục Sinh, cải nhà thờ Do Thái sang nhà thờ Cơ đốc giáo, cưỡng chế rửa tội những người Do Thái và trưng dụng lịch sử Do Thái: năm 537, khi Justinian dâng cúng Thánh đường có mái vòm Hagia Sofia lộng lẫy đến nín thở ởConstantinople, ông được cho là đã phát biểu, ‘Solomon, ta đã qua mặt ngươi.’
Năm 543, Justinian và Theodora bắt đầu xây dựng một vương cung thánh đường, Tân Thánh đường St Mary Mẹ của Chúa, dài gần 400 bộ và cao 187 bộ, với tường dày 16 bộ, quay lưng về Núi Đền và được thiết kế để khống chế địa điểm của Solomon.
Phức hợp này đã mất dấu nhiều năm liền, nhưng nền móng của nó, trải dài từ Khu Do Thái dưới tường thành hiện nay ra đến bên ngoài Thành phố Cổ, được phát hiện trong các cuộc khai quật của nhà khảo cổ Nahman Avigad vào năm 1973. Justinian xây dựng tiếp một loạt các khung vòm dọc theo con dốc để nâng đỡ sức nặng của nó. Chữ khắc này được tìm thấy trong đó: ‘Và đây là công trình do lòng quảng đại của Đại Đế Flavius Justinianus nhân từ nhất của chúng ta.’
Khi tướng Belisarius của Justinian chinh phục kinh thành Vandal của Carthage, ông tìm thấy ở đó giá đèn, bị Titus lấy cắp từ Đền Thờ. Sau khi đám rước đưa nó qua Constantinople trong lễ Khải Hoàn của Belisarius, nó được đưa về Jerusalem, ắt hẳn để tô điểm cho nhà thờ mới St Mary của Justinian.
