NASSER VÀ HUSSEIN: ĐẾM NGƯỢC ĐẾN CHIẾN TRANH
Sinh ra trong chốn mờ mịt, Nasser là mẫu người lý tưởng của chính khách Ả Rập – một sĩ quan trẻ bị thương trong cuộc bao vây của Israël năm 1948 và quyết tâm phục hồi niềm kiêu hãnh Ả Rập. Ông trở thành nhà lãnh đạo được nhân dân yêu chuộng nhất trong nhiều thế kỷ, nhưng ông cũng cai trị như một nhà độc tài, được mật vụ tiếp tay. Được biết dưới biệt hiệu El Rais – Ông Chủ – trên khắp thế giới Ả Rập, Nasser quảng bá chủ nghĩa toàn-Ả Rập xã hội chủ nghĩa tạo cảm hứng cho dân tộc mình thách thức sự thống trị của phương Tây và thắng lợi của người Do Thái và nâng cao hy vọng ngất trời là thảm bại của họ sẽ được báo thù.
Nasser ủng hộ những cuộc đột kích của Palestine chống Israël. Việc lãnh đạo của quốc gia Ả Rập hùng mạnh nhất của ông, Ai Cập, khiến Israël báo động. Năm 1956, ông thách thức uy thế của các đế chế Anh-Pháp bằng cách quốc hữu hóa Kênh đào Suez và hậu thuẫn cuộc nổi dậy giành độc lập của nhân dân Algeria chống thực dân Pháp. London và Paris, quyết tâm hủy diệt ông, bí mật liên minh với Ben-Gurion. Cuộc tấn công thành công của Israël vào Sinai, do Tham mưu trưởng Dayan lên kế hoạch, tạo cho Anh-Pháp cái cớ để xâm chiếm Ai Cập, bề ngoài là để tách hai nước láng giềng thù địch ra. Tuy nhiên, Anh và Pháp thiếu sức mạnh để duy trì cuộc phiêu lưu đế chế cuối cùng này: Mỹ buộc họ rút lui. Lập tức ngay sau đó, Vua Hussein sa thải Glubb khỏi chức vụ tư lệnh quân đội mình. 1956 là hoàng hôn của nền đế chế Trung Đông Anh và bình minh của sự trỗi dậy Hoa Kỳ.
Nasser nhắm đến hai vương quốc Hashemite, nơi tính cực đoan của chủ nghĩa toàn-Ả Rập càng ngày càng được ưa chuộng trên đường phố và trong hàng ngũ sĩ quan. Năm 1958, em họ của Hussein là Faisal II xứ Iraq bị sắt hại trong một vụ đảo chính quân sự. Gia đình đã từng là vua xứ Ả Rập, Hejaz, Syria, Palestine, Iraq – và Hussein giờ là vì vua dòng Hashemite cuối cùng. Nasser chính thức xáp nhập Ai Cập với Syria trong Cộng hòa Ả Rập Thống nhất, bao vây Israël và thống trị Jordan, nhưng Cộng hòa này, đã hai lần tan rã và hai lần xáp nhập, vẫn còn mong manh.
Vua Husseine giờ đang tranh đấu để sống còn, bị đè bẹp giữa Ai Cập và Syria của Nasser quá khích, giữa người Ả Rập và Israël, và giữa những tham vọng triều đại của riêng mình và những đắng cay mà nhân dân Palestine cảm thấy là ông đã phản bội họ. Khi Nasser âm mưu lật đổ nhà vua, Jerusalem và Bờ Tây liên tiếp nối lên chống lại triều đại Hashemite.
Năm 1959, Yasser Arafat, một cựu binh của cuộc chiến 1948, thành lập một phong trào giải phóng hiếu chiến có tên Fatah – Chinh phục. Năm 1964, Nasser tổ chức một hội nghị thượng đỉnh ở Cairo thành lập Bộ Tư lệnh Ả Rập Thống nhất cho cuộc chiến sắp tới chống Israël và thành lập Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) dưới sự lãnh đạo của Ahmed al-Shuqayri. Tháng năm đó ở Jerusalem, Vua Hussein miễn cưỡng mở Hội nghị Palestine, nhằm phát động PLO. Tháng 1 sau đó, Fatah của Arafat tiến hành một vụ đột kích nhỏ vào Israël từ Jordan. Đó là một thảm bại và thương vong duy nhất là một du kích Palestine bị người Jordan bắn chết. Nhưng hoạt động của Fatah bắt được sự tưởng tượng của người Ả Rập và đánh dấu khởi đầu chiến dịch của Arafat đặt chính nghĩa Palestine tại trung tâm chính trường toàn cầu. Sự trỗi dậy của những người quá khích hông vắt súng lục, mặc quân phục kaki, đội khăn xếp của lực lượng Fatah làm lu mờ hình ảnh những Đại gia cao ngạo, đã bị vị mufti và cuộc chiến 1948 gây tai tiếng. Như một dấu hiệu của thời thế, con trai Sari của Anwar Nusseibeh gia nhập Fatah.
Người Palestine đang mất kiên nhẫn với Husseine. Khi Thống đốc Nusseibeh từ chối một lệnh của nhà vua, nhà vua sa thải ông và bổ nhiệm một người Jordan thay thế. Vào tháng 9 1965, theo bước chân ông nội, Hussein bí mật gặp ngoại trưởng Israël, Golda Meir, đề nghị rằng một ngày nào đó ‘chúng ta có thể buông xuống vũ khí và dựng lên một tượng đài ở Jerusalem đánh dấu thời kỳ hòa bình giữa chúng ta’.
Khi Ben-Gurion về hưu vào năm 1963 sau khi làm thủ tướng, người kế vị ông là Levi Eshkol, 68 tuổi, ra đời gần Kiev. Ông không phải là Ben-Gurion. Vào đầu năm 1967, Syria tấn công phía bắc Israël, dẫn đến một cuộc hỗn chiến trong đó không lực Syria bị tiêu diệt trên bầu trời Damascus. Syria hậu thuẫn nhiều cuộc đột kích của Palestine hơn vào Israël.
Liên Xô cảnh báo Nasser – hóa ra sai lầm – là Israël lên kế hoạch tấn công Syria. Vẫn còn chưa rõ tại sao Moscow đưa ra tin tình báo sai lầm này và tại sao Nasser lại chịu tin vào đó khi ông có cả nhiều tuần lễ để xác minh hay phủ nhận. Với toàn bộ sức mạnh của Ai Cập, uy tín và sức thu hút của chủ nghĩa Toàn-Ả Rập, Nasser đã bị bẽ mặt bởi những trận đột kích giáng trả của Israël và lâm vào tình thế nguy hiểm vì đưa Syria đến miệng hố chiến tranh. Ông chuyển quân vào bán đảo để cho thấy mình sẽ không tha thứ một cuộc tấn công vào Syria.
Vào ngày 15/5, ngài Eshkol và tham mưu trưởng, Tướng Rabin, gặp nhau tại King David ở Jerusalem trước cuộc diễu binh nhân ngày Lễ Độc Lập: họ phản ứng cách nào trước đe doạ của Nasser? Ngay hôm sau, Ai Cập yêu cầu LHQ rút những nhân viên gìn giữ hòa bình ra khỏi Sinai. Nasser ắt hẳn hy vọng leo thang cuộc khủng hoảng trong khi vẫn có thể tránh được chiến tranh. Nếu đúng như thế, thì động thái của ông quả là vụng về hoặc bừa bãi. Khi các nhà lãnh đạo Ả Rập và dân chúng ngoài đường phố reo hò nhà nước Do Thái sắp diệt vong, Eshkol run rẩy căng thẳng. Một cơn hoảng loạn bao trùm khắp Israël. Chỉ sống nhờ cà phê và hút thuốc lá không ngừng đến 70 điếu một ngày, biết rằng sự sống còn của Israël đè nặng lên vai mình, Tướng Rabin bắt đầu suy sụp.
RABIN: SUY SỤP TRƯỚC TRẬN ĐÁNH
Nasser đánh giá cục diện khi triệu tập nội các và cật vấn phó tổng thống và quyền quân sự tối cao, Thống chế Abdel-Hakim al-Amer, một người ảo tưởng, thích hưởng và phê thuốc, là người bạn lâu năm nhất của tổng thống.
NASSER: Giờ với việc chúng ta tập trung quân trên Sinai cơ hội chiến thắng là 50-50. Nếu chúng ta khép lại Eo Tiran, chiến thắng sẽ là 100 phần trăm. Lực lượng vũ trang có sẵn sàng chưa, Abdel Hakim (Amer)?’
AMER: Theo tôi đã sẵn sàng, Ông Chủ! Mọi thứ đều hoàn hảo.
Vào ngày 23/5, Nasser khép lại Eo Tiran, con đường biển đến cảng then chốt Eilat của Israël. Syria động viên cho chiến tranh. Vua Hussein duyệt lại lực lượng. Rabin và các tướng lĩnh khuyên Eshkol phát động trận đánh phủ đầu vào Ai Cập nếu không sẽ bị tiêu diệt. Nhưng Eshkol từ khước cho đến khi ông đã sử dụng hết các lựa chọn giải pháp chính trị: ngoại trưởng của ông Abba Eban thi hành hoạt động ngoại giao nhẫn nại để ngăn ngừa chiến tranh – hoặc tranh thủ được hậu thuẫn nếu chiến tranh đến. Vậy mà Rabin cứ giày vò vì nghĩ mình làm chưa đủ để cứu Israël. Ông đã chín ngày gần như không ăn uống, không ngủ, hút thuốc không ngừng và thể xác rã rời.
Với thủ tướng phân vân, bộ tham mưu đang an thần, các tướng lĩnh trên bờ vực nổi loạn và quốc gia trong cơn hoảng loạn, không có gì sai trong cơn chấn thương của Israël. Ở Washington, Tổng thống L. B. Johnson từ chối hậu thuẫn việc tấn kích của Israël; ở Moscow, Thủ tướng Alexei Kosygin mạnh mẽ khuyến cáo Nasser rút khỏi cuộc chiến. Ở Cairo, Thống chế Amer, hô hào ‘Lần này chúng ta sẽ là người phát động cuộc chiến, chuẩn bị tấn công Negev. Vừa đúng lúc, Nasser ra lệnh Amer ngưng lại.
Ở Amman, Vua Hussein thấy mình không có lựa chọn nào khác trừ về phe của Nasser: nếu Ai Cập tấn công, ông phải ủng hộ anh em Ả Rập của mình; ngược lại, nếu Ai Cập thua, ông sẽ bị xem là một kẻ phản bội. Vào ngày 30/5, Hussein, mặc quân phục thống chế và vắt một khẩu Magnum.357, lái phi cơ riêng bay đến Cairo, tại đó ông gặp Nasser
‘Vì chuyển thăm của ngài là bí mật,’ Nasser nói, đứng chồm lên nhà vua thấp bé, ‘điều gì xảy ra nếu chúng tôi bắt giữ ngài?’ ‘Khả năng này tôi không hề nghĩ tới,’ Hussein trả lời, đồng ý đặt 56,000 quân của mình vào tay Tướng Riyad của Ai Cập. Nhà vua tuyên bố, ‘Tất cả quân đoàn Ai Cập giờ đang bao vây Israël.’ Israël đối mặt với cuộc chiến trên ba mặt trận. Vào ngày 28/5, Eshkol đọc diễn văn trên đài chỉ làm dân chúng thêm hoang mang. Ở Jerusalem, hầm trú bom được đào, cuộc diễn tập không kích được tiến hành. Người Israël sợ bị hủy diệt, một vụ Holocaust khác. Eban đã cạn kiệt giải pháp ngoại giao và các tướng lĩnh, chính trị gia và công luận đã mất tin cậy vào Eshkol. Ông buộc phải gọi đến quân nhân đáng kính nhất của Israël.
DAYAN NẮM QUYỀN CHỈ HUY
Vao ngày ⅙, Moshe Dayan tuyên thệ nhậm chức bộ trưởng quốc phòng và Menachem Begin cũng tham gia Chính quyền Quốc gia mới với chức bộ trưởng không giữ bộ nào. Dayan, luôn mang chiếc mạng đen che mắt đặc hiệu của mình, là đệ tử của Ben-Gurion và không ưa Eshkol, vốn là người trong chốn riêng tư thường gọi ông bằng biệt danh Abu Jildi, một tên cướp Ả Rập độc nhãn lươn lẹo.
Là học trò của Wingate, tham mưu trưởng trong cuộc chiến Suez và giờ đây là một nghị sĩ, Dayan là một con người tương phản – một nhà khảo cổ và ăn cắp cổ vật, một người nắm sức mạnh quân sự đầy thù hằn và một người tin vào sự hợp tác khoan dung, một người chinh phục Ả Rập và một người yêu quý văn hóa Ả Rập. Vị tướng đồng liêu của ông, Ariel Sharon, cho rằng Dayan ‘sẽ tỉnh dậy với 100 ý tưởng. Trong đó có đến 95 ý tưởng là nguy hiểm; 3 là tồi; hai ý tưởng còn lại là xuất sắc.’
Dayan tỏa ra nét thu hút của một người Do Thái linh hoạt kiểu mới không vì ông tuân theo qui luật, mà vì ông phá bỏ chúng với năng lực và sức thu hút, theo lời của Peres. Ông là người cô độc không bạn bè, một tên khoa trương không thể dò xét được và một tay sát gái. Đô đốc Nelson an ủi bà xã Ruth của ông: ‘Chị phải làm quen với điều đó. Cuộc sống riêng tư và công khai của các vĩ nhân thường được diễn tiến trên hai mặt phẳng song song không bao giờ gặp nhau.’
Khi Eban báo cáo là người Mỹ không tán thành hành động quân sự, nhưng cũng không có động thái ngăn cản nó, Dayan cho thấy mình đã nắm bắt được chiến lược một cách hoàn hảo. Ông nhấn mạnh rằng Israël phải đập Ai Cập ngay tức thì trong khi tránh chạm trán với Jordan. Chỉ huy Jerusalem của ông Uzi Narkiss thách thức ông: nếu Jordan tấn công Núi Scopus thì sao? ‘Trong trường hợp đó,’ Dayan trả lời khô khan, ‘anh hãy cắn môi và giữ vững phòng tuyến!’
Nasser tưởng mình đã thắng một cuộc chiến không đẫm máu nhưng quân Ai Cập vẫn tiếp tục lên kế hoạch tấn công vào Sinai. Quân Jordan, được lữ đoàn Iraq hậu thuẫn, vạch Chiến dịch Tariq để bao vây tây Jerusalem của Do Thái. Thế giới Ả Rập, giờ đây dàn ra 500,000 quân, 5,000 xe tăng và 900 máy bay, chưa bao giờ đoàn kết như thế. ‘Mục tiêu chính của chúng ta là tiêu diệt Israël,’ Nasser tuyên bố. Tổng thống Aref của Iraq giải thích, ‘Mục tiêu của chúng ta là quét sạch bọn Israël ra khỏi bản đồ thế giới.’ Người Israël tung ra 275,000 quân, 1,100 xe tăng và 200 máy bay.
Vào lúc 7.10 sáng ngày ⅚, các phi công Israël bất ngờ quét sạch không lực Ai Cập. Lúc 8.15, Dayan ra lệnh Lực lượng Phòng thủ Israël tiến vào Sinai. Ở Jerusalem, Tướng Narkiss nôn nóng đợi, sợ rằng người Jordan sẽ chiếm Núi Scopus dễ tổn thương và bao vây 197,000 người Do Thái ở tây Jerusalem, nhưng ông hy vọng quân Jordan chỉ đóng góp tượng trưng cho cuộc chiến Ai Cập. Ngay sau 8 giờ sáng, còi báo động không kích ré vang. Cuộn Văn Bản Biển Chết (Bản thảo tôn giáo của Do Thái cổ đại được tìm thấy trong Hang động Qumran ở Sa mạc Judaea) được cất giữ an toàn. Quân trừ bị được động viên. Ba lần, Israël cảnh báo Vua Hussein, qua Bộ Ngoại giao Mỹ, LHQ ở Jerusalem và Bộ Ngoại giao Anh, rằng ‘Israël sẽ không, lặp lại không, tấn công Jordan nếu Jordan không động binh. Nhưng nếu Jordan khai mở hận thù, Israël sẽ đáp trả với tất cả sức mạnh của mình.’
‘Thưa Hoàng thượng, cuộc tấn công của Israël đã bắt đầu ở Ai Cập,’ sĩ quan phụ tá Vua Hussein báo tin lúc 8.50 sáng. Điện thoại cho bộ chỉ huy, Hussein biết tin Thống chế Amer đã đập tan các lực lượng Israël và đang phản công thành công. Lúc 9 giờ sáng, Hussein bước vào bộ chỉ huy và biết rằng tướng Ai Cập Riyad đã ra lệnh tấn công vào các mục tiêu Israël và đánh chiếm Trụ sở Chính phủ ở nam Jerusalem. Nasser gọi điện để khẳng định thắng lợi của Ai Cập và không lực Israël bị hủy diệt.
Lúc 9.30, vị vua ủ rũ báo với nhân dân: ‘Giờ phút báo thù đã điểm.’
5–7 THÁNG 6 1967: HUSSEIN, DAYAN VÀ RABIN
Lúc 11.15 sáng, pháo binh Jordan phát động trận pháo 6,000 viên bắn vào lãnh thổ Do Thái ở Jerusalem, bắn trúng trụ sở nghị viện và dinh Thủ tướng cũng như Bệnh viện Hadassah và Nhà Thờ Dormition trên Núi Zion. Theo lệnh của Dayan, người Israël đáp trả chỉ bằng vũ khí nhẹ. Lúc 11.30, Dayan ra lệnh tập kích không lực Jordan. Theo dõi từ mái cung điện với con trai trưởng, nhà vua tương lai Abdullah II, Hussein chứng kiến các máy bay mình bị bắn hạ tan tành.
Ở Jerusalem, Israël đưa ra đề nghị ngừng bắn nhưng phía Jordan không quan tâm. Các loa phóng thanh trên Vòm Đá, thường ngày dùng để báo giờ cầu nguyện, hôm nay hét lên, ‘Hãy trang bị vũ khí và chiếm lại lãnh thổ đã bị bọn Do Thái ăn cướp.’ Lúc 12.45 quân Jordan chiếm Trụ sở Chính phủ: hóa ra đó là bộ chỉ huy LHQ nhưng nó khống chế Jerusalem. Dayan ngay lập tức ra lệnh phải tràn vào, và nó thất thủ sau bốn giờ giao tranh. Ở phía bắc, đạn súng cối và đạn đại bác Israël nã vào quân Jordan.
Dayan tôn kính Jerusalem, nhưng ông hiểu rằng tính phức tạp chính trị của nó có thể đe dọa đến chính sự tồn tại của Israël. Khi Nội các Israël tranh luận có nên tấn công Thành phố Cổ hay chỉ đơn giản làm im bặt tiếng súng Jordan, Dayan lập luận là không tiến chiếm, sợ trách nhiệm cai quản Núi Đền, nhưng ông bị phủ quyết. Ông đình hoãn mọi hành động cho đến khi chinh phục được Sinai.
‘Đêm đó quả là địa ngục,’ Hussein viết. ‘Trời quang đãng như ban ngày. Bầu trời và mặt đất sáng rực lửa rốc két và tiếng bom dội xuống từ máy bay Israël.’ Lúc 2.10 sáng ngày 6/6, lính nhảy dù Israël tập kết thành 3 nhóm, được Tướng Narkiss cổ vũ đền lại tội của năm 48 khi chính ông đã chiến đấu vì thành phố. Nhóm thứ nhất vượt qua vùng trống về hướng Cổng Mandelbaum để chiếm Đồi Quân nhu – nơi Allenby đã cất giữ vũ khí của ông – trong một trận đánh ác liệt với 71 quân Jordan và 35 quân Israël tử trận. Quân nhảy dù nhanh chóng tiến lên qua Sheikh Jarrah vượt qua Thuộc địa Mỹ về hướng Bảo tàng Rockefeller, thất thủ lúc 7.27.
Nhà vua còn giữ bộ chỉ huy ở Bệnh viện Augusta Victoria giữa Núi Scopus và Núi Olives, và ông cố gắng một cách tuyệt vọng để cứu Thành phố Cổ bằng cách đề nghị ngừng bắn, nhưng đã quá muộn. Nasser đã gọi điện bảo Hussein là họ nên tuyên bố Mỹ và Anh đã đánh bại người Ả Rập, chứ không chỉ một mình người Do Thái.
Hussein chạy xe jeep nhanh chóng vào Thung lũng Jordan, nơi ông gặp các binh sĩ mình đang rút khỏi phía bắc. Bên trong Thành phố Cổ, người Jordan, vốn đã đặt bộ chỉ huy của họ trong Tu viện Armenia từ năm 1948, cắt 50 người tại mỗi cổng và chờ đợi. Quân Israël lên phương án đánh chiếm Augusta Victoria, nhưng các xe tăng của họ quẹo sai đường đi xuống Thung lũng Kidron và bị tấn công dữ dội từ Cổng Sư Tử, mất 5 người và 4 tăng ngay sát Vườn Gethsemane. Quân Israël núp trong sân vườn đìu hiu của Lăng mộ Thánh Nữ Đồng Trinh. Thành phố Cổ vẫn chưa bị bao vây.
Dayan lên gặp Narkiss trên Núi Scopus nhìn xuống Thành phố Cổ: ‘Thật là một cảnh tượng thiêng liêng!’ Dayan buột miệng, nhưng ông không cho phép tấn công. Tuy nhiên, lúc bình minh ngày 7/6, Hội đồng Bảo an LHQ chuẩn bị ra lệnh một cuộc ngừng bắn. Menachem Begin gọi cho Eshkol để khuyến khích một cuộc tấn công khẩn cấp vào Thành phố Cổ. Dayan thình lình có nguy cơ hết thời gian. Trong Phòng Hành quân, ông ra lệnh Rabin đánh chiếm ‘mục tiêu chiến tranh khó khăn nhất nhưng đáng mơ ước nhất’.
Trước tiên quân Israël dội bom Augusta Victoria, sử dụng bom lửa na-pan; quân Jordan bỏ chạy. Rồi lính nhảy dù Israël chiếm Núi Olives và tiến xuống Vườn Gethsemane. ‘Chúng tôi chiếm những cao điểm nhìn xuống Thành phố Cổ,’ chỉ huy nhảy dù Đại tá Motta Gur bảo với lính của mình. ‘Chỉ một lát nữa thôi chúng ta sẽ tiến vào đó. Thành phố cổ đại Jerusalem mà bao thế hệ chúng ta đã mơ ước và nỗ lực vì nó – chúng ta là người đầu tiên bước vào. Quốc gia Do Thái đang chờ đợi nghe tin chiến thắng của chúng ta. Hãy tự hào lên. Chúc may mắn!’
Lúc 9.45 sáng, xe tăng Sherman của Israël khai hỏa nhắm Cổng Sư Tử, bắn tan xác chiếc buýt án ngữ nó, và thổi tung cánh cổng. Dưới mưa đạn Jordan, quân Israël tấn công vào cổng. Lính nhảy dù xông vào Via Dolorosa, còn Đại tá Gur dẫn đầu một nhóm tiến lên Núi Đền. ‘Ở đó sau hai ngày chiến đấu với đạn còn rít trong không khí, thình lình bạn bổng bước vào khoảng không rộng mở mà mọi người đã nhìn thấy trước đây trong ảnh chụp,’ sĩ quan tình báo Arik Akhmon viết, ‘và mặc dù tôi không người sùng đạo, tôi không nghĩ có ai mà không thấy cảm xúc dâng trào. Một điều gì đó rất đặc biệt đã xảy ra.’ Có một vụ đột kích với quân Jordan trước khi Gur báo cáo qua điện đàm: ‘Núi Đền đã thuộc về chúng ta!’
Trong khi đó trên Núi Zion, một đại đội thuộc Lữ đoàn Jerusalem xông qua khung Cổng Sư Tử tiến vào Khu Armenia, ném mình xuống triền đồi dốc vào Khu Do Thái, đúng vào lúc các binh sĩ cùng đơn vị đột kích qua Cổng Dung. Tất cả đều hướng về Bức Tường. Trở lại Núi Đền, Gur và binh sĩ không biết đến đó bằng cách nào, nhưng một ông già Ả Rập chỉ cho họ Cổng Maghrebi và cả ba đại đội đều đồng thời hướng về chốn thiêng liêng. Tay cầm sừng dê và cuốn kinh Torah, Giáo sĩ râu dài Shlomo Goren, trưởng tuyên úy của Quân đội Israël, sảy bước đến Bức Tường và bắt đầu đọc kinh bi ai Kaddish trong khi binh sĩ cầu nguyện, khóc nức nở, vỗ tay, nhảy múa và một số thì hát quốc ca mới của thành phố ‘Jerusalem Bằng Vàng’.
Lúc 2.30 chiều, Dayan, hai bên là Rabin và Narkiss, bước vào thành phố, băng qua những chiếc tăng bốc khói, và bước qua những đường phố hoàn toàn vắng ngắt, một sự im lặng thê lương bao trùm thỉnh thoảng bị phá vỡ bằng vài tiếng súng bắn tỉa. Khi họ đi lên Núi Đền, Dayan trông thấy một lá cờ Israël bay trên nóc Vòm Đá ông ra lệnh gỡ xuống ngay lập tức. Rabin nín thở khi nhìn thấy nhóm binh sĩ dạn dày, rã rời vì trận chiến, mặt đầm đìa nước mắt. Ông viết, ‘Nhưng đó không phải là lúc để khóc, mà là thời khắc để cứu chuộc, để hy vọng.’.
Giáo sĩ Gorem muốn tăng tốc đến thời đại của đấng cứu thế bằng cách cho nổ bom những thánh đường Hồi giáo trên Núi Đền, nhưng Tướng Narkiss đã ngăn lại.
‘Ngài sẽ đi vào sử sách,’ Giáo sĩ Goren nói.
‘Tôi đã ghi tên mình vào lịch sử Jerusalem,’ Narkiss trả lời.
Rabin nhớ lại: ‘Đây là đỉnh cao của cuộc đời tôi. Bao năm qua tôi đã lặng lẽ ôm ấp giấc mơ mình sẽ đóng vai trò nào đó trong việc phục hồi Bức Tường Tây cho nhân dân Do Thái. Giờ giấc mơ đã thành hiện thực và thình lình tôi tự hỏi sao mình được chọn để có được đặc ân đó.’ Rabin được ban vinh dự đặt tên cuộc chiến: lúc nào cũng khiêm nhượng và phẩm cách, cộc cằn và kiệm lời, ông chọn cái tên giản dị nhất: Cuộc Chiến Sáu Ngày. Nasser có một cái tên khác cho nó – al-Naksa, Đảo Ngược.
Dayan viết vài lời trên một tờ giấy – nó đọc ‘Cầu mong hoà bình sẽ buông xuống toàn thể ngôi nhà Israël’, rồi ông đặt tờ giấy giữa các đá khối của Herod. Và ông tuyên bố, ‘Chúng ta đoàn tụ thành phố, thủ đô của Israël, không bao giờ rời xa nữa.’ Dayan tiếp, ‘Tới các láng giềng Ả Rập của chúng tôi, Israël vươn ra bàn tay hòa bình và tới các dân tộc thuộc mọi tín ngưỡng, chúng tôi bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng đầy đủ. Chúng tôi không đến để chinh phục những thánh địa của người khác mà để sống với người khác trong hòa hợp.’
Dayan suy nghĩ khắt khe về Jerusalem và đưa ra chính sách của mình. Mười ngày sau đó, ông trở lại al-Aqsa tại đó, ông ngồi chân vẫn mang vớ cùng với tộc trưởng của ngôi đền và vị ulema, ông giải thích rằng Jerusalem giờ thuộc về Israël nhưng người Hồi sẽ kiểm soát Núi Đền. Cho dù, sau 2,000 năm, người Do Thái giờ cuối cùng có thể thăm viếng Har ha-Bayit (Núi Đền), ông ra luật là cấm họ cầu nguyện ở đó. Quyết định có tính cách chính trị của Dayan còn hiệu lực đến nay.
Tổng thống Nasser tạm thời từ chức nhưng không hề buông bỏ quyền bính và thậm chí tha thứ cho người bạn của mình Thống chế Amer. Nhưng Amer âm mưu đảo chính, nhưng bị bại lộ và bị bắt, và chết bí mật trong nhà giam. Nasser khăng khăng rằng ‘‘Al-Quds không bao giờ có thể buông bỏ,’ nhưng ông không hề hồi phục sau vụ thảm bại, và mất vì nhồi máu cơ tim ba năm sau đó. Vua Hussein sau này nhận rằng 5-10 tháng 6 là ‘chuỗi ngày tồi tệ nhất đời tôi’. Ông đã mất phân nửa lãnh thổ – và báu vật Jerusalem. Trong chốn riêng tư, ông khóc vì al-Quds: ‘Tôi không thể chấp nhận được Jerusalem đã mất trong thời kỳ của tôi.’