Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời Bạt
Lời Bạt

❊ ❊ ❊

Qua một tai họa lịch sử, sự hủy diệt Jerusalem bởi hoàng đế La Mã – tôi sinh ra trong một thành phố của Diaspora (cộng đồng Do Thái). Nhưng tôi luôn nghĩ mình là một đứa con của Jerusalem.

I. Y. Agnon, diễn văn lễ nhận giải Nobel 1966

 

Jerusalem nơi tôi được dạy dỗ để yêu thương là con đường hạ giới dẫn đến thế giới linh thiêng nơi các nhà tiên tri Do Thái, Cơ đốc và Hồi giáo, những con người có tầm nhìn và có tính nhân loại, gặp gỡ nhau – dù chỉ trong tưởng tượng.

Sari Nusseibeh, Ngày Xưa có Xứ Sở Đó

 

Ôi, Jerusalem, với các nhà tiên tri tỏa hương

Con đường ngắn nhất từ mặt đất đến thiên đường

Một đứa trẻ đẹp với ngón tay cháy xém và cặp mắt nhìn xuống...

Ôi Jerusalem, thành phố của nỗi buồn,

Một giọt lệ đọng lại trong tròng mắt buồn vương...

Ai sẽ lau sạch cho em bức tường loang vết máu?

Ôi Jerusalem, người tôi yêu dấu

Ngày mai các cây chanh sẽ nở hoa; cây ô liu sẽ vui mừng; ánh mắt bạn sẽ nhảy múa; và chim bồ câu sẽ bay về đậu trên những tòa tháp linh thiêng.

Nizar Qabbani, Jerusalem

 

Người Do Thái đã xây dựng ở Jerusalem cách đây 3,000 năm và người Do Thái đang xây dựng ở Jerusalem hôm nay. Jerusalem không phải là nơi định cư. Nó là thủ đô của chúng ta.

Binyamin Netanyahu, diễn văn 2010

 

Thêm một lần nữa là trung tâm của những trận bão quốc tế. Không phải Athens hay La Mã đã khơi gợi quá nhiều đam mê như thế. Khi một người Do Thái đến thăm Jerusalem lần đầu tiên, đó không phải là lần đầu tiên, đó là một chuyến trở về nhà.

Elie Wiesel, thư ngỏ gửi Barack Obama, 2010

 

*

 

BUỔI SÁNG Ở JERUSALEM: TỪ THUỞ ĐÓ ĐẾN BÂY GIỜ

Cuộc chinh phục biến đổi, nâng cao và phức tạp hóa Jerusalem trong một chớp nhoáng khải thị vừa có tính cứu thế vừa có tính khải huyền, có tính chiến lược và tính dân tộc. Và tầm nhìn mới này thay đổi Israël, người Palestine và Trung Đông. Một quyết định vốn đã được đưa ra trong cơn hoảng loạn, một cuộc chinh phục vốn chưa hề được lên kế hoạch, một thắng lợi quân sự bị đánh cắp từ bờ vực của thảm họa, thay đổi những người đã tin tưởng, những người không tin điều gì và những người đã khao khát tin vào điều gì đó.

Tại thời điểm không có điều gì rõ ràng nhưng, khi suy nghĩ lại, việc sở hữu Jerusalem dần dần thay đổi tinh thần cai trị của người Israël, vốn theo truyền thống là thế tục, xã hội chủ nghĩa, hiện đại, và nếu nhà nước có một tôn giáo thì nó nhiều phần là khoa học lịch sử của ngành khảo cổ Judaea không kém Do Thái giáo Chính thống.

Việc đánh chiếm Jerusalem nâng cao nhận thức thậm chí những người Do Thái thế tục nhất. Nỗi khao khát Zion quá sâu nặng, quá cổ xưa, quá ăn sâu trong bài hát, kinh cầu và huyền thoại, việc bị tước đoạt khỏi Bức Tường quá lâu đời và quá đau đớn, và vòng hào quang thiêng liêng quá mạnh mẽ đến nỗi những người Do Thái không sùng tín nhất, trên khắp thế giới, cũng trải nghiệm một cảm xúc hân hoan gần như một trải nghiệm tôn giáo sâu xa nhất.

Đối với người Do Thái sùng tín, hậu duệ những con người trong hàng ngàn năm đã nhìn thấy, ngóng chờ sự ban truyền của đấng cứu thế đang đến gần, thì đây là một dấu hiệu, một sự giải thoát, một sự cứu chuộc và một sự viên mãn những lời tiên tri của kinh thánh, và sự kết thúc của Xuất Hành và Trở Về đến những cánh cổng và sân đền của Điện Thờ trong thành phố của David đã được phục hồi. Đối với nhiều người Do Thái thấm nhuần Zionism dân tộc chủ nghĩa, mang tính quân sự, kế thừa Jabotinsky, thắng lợi quân sự này có tính chiến lược và chính trị – độc nhất, cơ hội trời cho để thủ đắc một Đại Israël với biên giới an toàn. Những người Do Thái sùng tín và dân tộc đều chia sẻ xác quyết rằng họ phải quyết tâm ôm trọn sứ mạng, phấn khích để xây dựng lại và mãi mãi giữ lấy Jerusalem của người Do Thái.

Không chỉ người Do Thái bị ảnh hưởng: những người theo giáo phái Phúc âm Cơ đốc hùng mạnh và đông đảo hơn ở Mỹ cũng trải nghiệm giây phút gần như xuất thần có tính khải huyền này. Họ tin rằng hai điều kiện tiên quyết đã hội đủ cho Ngày Phán Xét: Israël được phục hồi và Jerusalem trở lại với Do Thái. Tất cả điều còn lại là tái dựng Đền Thờ Thứ Ba và bảy năm khổ não, sau đó là trận đánh Armageddon lúc đó Thánh Michael sẽ xuất hiện trên Núi Olives để chiến đấu với bọn Chống-Christ trên Núi Đền. Và kết cục là sự cải đạo hoặc hủy diệt dân Do Thái và sự Xuất hiện Lần Hai và thời kỳ cai trị ngàn năm của Jesus Christ.

Thắng lợi của một nước dân chủ Do Thái nhỏ bé trước những quân đoàn được Xô-viết vũ trang của chế độ độc tài Ả Rập thuyết phục Hoa Kỳ rằng Israël là người bạn đặc biệt của mình trong vùng láng giềng nguy hiểm nhất, đồng minh của mình trong cuộc tranh đấu chống Nga Cộng, chủ nghĩa cực đoan kiểu Nasser, chủ nghĩa cơ yếu Hồi giáo. Mỹ và Israël chia sẻ nhiều hơn thế, bởi vì họ là những xứ sở xây dựng trên lý tưởng tự do được thần thánh chạm đến: một xứ là Zion mới, xứ kia là Zion cổ được phục hồi. Người Do Thái Mỹ đã là những người hậu thuẫn tham lam nhưng giờ đây những người phúc âm Mỹ tin rằng Israël đã được Ơn Trên ban phước. Và do đó họ đặt tất cả sức nặng của mình sau lưng Jerusalem của người Do Thái, và người Israël biết ơn cho dù vai trò của họ trong kịch bản ngày tận thế thật đáng buồn.

Người Israël từ tây Jerusalem, từ khắp Israël và các khu định cư Do Thái trên khắp thế giới, đổ về Thành phố Cổ để chạm vào Bức Tường và cầu nguyện ở đó. Việc sở hữu thành phố khiến họ say sưa đến nỗi việc từ bỏ nó là không thể chịu được và không thể nghĩ bàn – và những nguồn tài nguyên rộng lớn giờ được động viên để khiến điều đó thành bất khả thi. Thậm chí con người thực tế như Ben-Gurion đang về hưu đề nghị Israël nên từ bỏ Bờ Tây và Gaza để đổi lấy hòa bình – nhưng Jerusalem thì không bao giờ.

Israël chính thức thống nhất hai nửa phần của thành phố, mở rộng đường biên hành chính để ôm trọn 267,800 công dân – 196,800 người Do Thái và 71,000 người Ả Rập. Jerusalem trở nên lớn rộng hơn bao giờ trong lịch sử của nó. Trước khi nòng súng đã nguội lạnh, những cư dân của Khu Maghrebi, được con trai Afdal của Saladin thành lập, được di tản đến những ngôi nhà mới, nhà cũ bị đập xuống để mở rộng lần đầu tiên không gian trước Bức Tường. Sau nhiều thế kỷ thờ cúng chật chội, hạn hẹp và bị quấy nhiễu trong một dải đất chỉ dài 9 bộ, giờ không gian sáng sủa, thoáng đãng của quảng trường mới tại chốn thiêng liêng cực kỳ của người Do Thái bản thân nó đã là một sự giải phóng; người Do Thái đến đây tấp nập để cầu nguyện. Khu Do Thái xập xệ được phục hồi, những giáo đường cũ bị phá sập bằng mìn và xây dựng lại và làm đẹp hơn, những trường tôn giáo Chính thống được xây dựng hoặc tu bổ, tất cả đều bằng đá lấp lánh vàng.

Khoa học cũng được chào đón: các nhà khảo cổ Israël bắt đầu khai quật thành phố đã thống nhất. Bức Tường Tây dài được chia giữa những giáo sĩ kiểm soát khu vực cầu nguyện phía bắc Cổng Maghrebi, và các nhà khảo cổ được đào bới ở phía nam. Chung quanh Bức Tường, ở Khu Do Thái và Hồi giáo, họ phát hiện những báu vật đáng kinh ngạc – những công sự thời Canaan, dấu ấn Judaea, nền móng Herod, và tường thành Maccabee và Byzantine, đường phố La Mã, cung điện Umayyad, cổng Ayyubid, nhà thờ thời Thập Tự Chinh – đến nỗi những phát hiện của họ hòa trộn với nhiệt tình chính trị-tôn giáo. Những đá tảng họ phát hiện – từ tường thành Hezekiah và đá khối Herod bị lính La Mã ném xuống đến những đá tảng được lót làm con đường Cardo của Hadrian – được triển lãm thường xuyên trong Thành phố Cổ.

Teddy Kollek, thị trưởng tây Jerusalem, người được bầu lại để điều hành thành phố thống nhất trong 28 năm, làm việc cật lực để trấn an người Ả Rập. Như dưới thời Ủy thác, Jerusalem phồn thịnh lôi kéo người Ả Rập từ Bờ Tây – dân số của họ tăng gấp đôi trong 10 năm.

Thoạt đầu, sự chống đối của Ả Rập là câm lặng; nhiều người Palestine làm việc ở Israël hoặc với người Israël. Ở ngoài nước thì khác. Yasser Arafat và tổ chức Fatah lãnh đạo PLO vào năm 1969. Fatah tăng cường chiến tranh du kích chống Israël trong khi một phe khác, Mặt trận Dân tộc Mác-Lê Giải Phóng Palestine, cách tân việc không tặc song song với những cách giết hại dân chúng truyền thống hơn.

Trong ‘Tháng 9 Đen’ 1970, Vua Hussein đánh bại và trục xuất Arafat và PLO, vốn đã thách thức quyền kiểm soát đất nước của mình. Arafat dời bộ chỉ huy đến Lebanon và Fatah lao vào một chiến dịch không tặc và giết hại thường dân nhằm mang chính nghĩa Palestine ra trước thế giới. Năm 1972, các tay súng Fatah, sử dụng ‘Tháng 9 Đen’ làm bình phong, giết chết 11 vận động viên Israël tại Thế Vận Hội Munich. Đáp trả, Mossad, cơ quan mật vụ Israël, săn lùng bọn xâm nhập trên khắp châu Âu.

Trong Ngày Đền Tội vào tháng 10 1973, người kế nhiệm Nasser, Tổng thống Anwar Sadat của Ai Cập, phát động một cuộc tấn còn bất ngờ thành công, liên kết với Syria. Người Ả Rập ghi được những thắng lợi sớm, khiến bộ trưởng quốc phòng Moshe Dayan bẽ mặt. Tuy nhiên, người Israël, được Mỹ không vận, tập kết và cuộc chiến giúp làm nên tên tuổi của Tướng Ariel Sharon, người dẫn đầu cuộc phản công của Israël băng qua Kênh Suez. Không lâu sau đó, Liên đoàn Ả Rập thuyết phục Vua Hussein công nhận PLO như là đại diện duy nhất của người Palestine.

Năm 1977, 30 năm sau vụ đánh bom King David, Menachem Begin và đảng Likud của ông cuối cùng loại ra đảng Lao Động đã cai trị từ năm 1948 và giành lấy quyền lực với một cương lĩnh cho một Đại Israël với Jerusalem là thủ đô. Vậy mà cũng chính Begin là người mà, vào 19/11, tiếp đón Tổng thống Sadat trên chuyến bay can đảm của ông đến Jerusalem. Sadat dừng chân ở Khách sạn King David, cầu nguyện tại al-Aqsa, thăm Yad Vashem và đề nghị hòa bình với Nghị viện Do Thái. Hy vọng bừng lên. Với sự hỗ trợ của Moshe Dayan mà ông bổ nhiệm làm ngoại trưởng, Begin trả lại Sinai cho Ai Cập để đổi lấy hiệp ước hòa bình.

Năm 1982, Begin đáp trả các vụ tấn công của PLO vào các nhà ngoại giao và dân thường Israël bằng cách xâm lược Lebanon nơi Arafat đã xây dựng một căn cứ. Arafat và lực lượng của ông bị buộc rút khỏi Beirut, chuyển đến Tunis. Cuộc chiến, do bộ trưởng quốc phòng Sharon vạch ra, trở nên sa lầy và kết cục đưa đến tình trạng các dân quân Cơ đốc tàn sát khoảng 300 đến 700 dân thường Palestine ở các trại Sabra và Shatila. Sharon, chịu trách nhiệm gián tiếp cho hành động tàn bạo, buộc phải từ chức và sự nghiệp Begin kết thúc trong sự buồn rầu, từ nhiệm và cô lập.

Niềm hy vọng dâng lên của năm 1977 bị đập tan vì những động thái ương ngạnh ở cả hai bên, giết chóc dân thường, mở rộng các khu định cư Do Thái ở Jerusalem và Bờ Tây. Năm 1981, vụ ám sát Sadat do phe Cơ yếu thì hành nhằm trừng phạt chuyến bay của ông đến Jerusalem, là một cảnh báo sớm cho một quyền lực mới đang lên ở Islam. Vào tháng 12 1987 một cuộc nổi dậy tự phát của người Palestine – Intifada – bùng phát ở Gaza và lan đến Jerusalem. Cảnh sát Israël đánh nhau với người chống đối kịch liệt trên Núi Đền. Thanh thiếu niên trên đường phố ném đá vào binh sĩ Israël. Năm 1988, phe cực đoan Hồi giáo thành lập Phong trào Kháng chiến Hồi giáo, Hamas, một nhánh của Huynh Đệ Hồi giáo Ai Cập, tận hiến cho cuộc thánh chiến để hủy diệt Israël.

Intifada gián tiếp đưa tới những đàm phán hòa bình Oslo. Năm 1988, Arafat chấp nhận ý tưởng giải pháp hai nhà nước và từ bỏ đấu tranh vũ trang để hủy diệt Israël. Vua Hussein cũng từ bỏ việc đòi Jerusalem và Bờ Tây nơi Arafat dự tính xây dựng một nhà nước Palestine với al-Quds là thủ đô của nó. Năm 1992, Yitzhak Rabin trở thành thủ tướng và đè bẹp Intifada; với tính ngoan cố thẳng thừng của mình, ông sở hữu những phẩm chất duy nhất mà người Israël tin cậy ở một nhà kiến tạo hòa bình. Người Mỹ chủ trì những cuộc đàm phán ở Madrid non yểu, nhưng có một đối thoại khác, tiến hành trong bí mật, lại mang đến kết quả.

Việc này bắt đầu bằng những trao đổi không chính thức giữa các học giả Israël và Palestine tiến hành ở khu Thuộc địa Mỹ, London và rồi ở Oslo. Thoạt đầu những đối thoại được chủ trì bởi ngoại trưởng Shimon Peres và người phó của ông là Yossi Beilin mà không cho Rabin hay biết. Chỉ đến năm 1993 họ mới thông báo cho Rabin và được ông ủng hộ. Vào ngày 13/9, Rabin và Peres ký hiệp ước với Arafat tại Nhà Trắng, được Tổng thống Clinton giám sát một cách thân tình. Bờ Tây và Gaza được giao một phần cho Chính quyền Palestine. Rabin ký một hiệp ước hòa bình với Vua Hussein của Jordan và khẳng định vai trò đặc biệt của dòng Hashemite của ông là người trông nom Điện Thờ Hồi giáo ở Jerusalem tiếp tục tận ngày nay.

Những chi tiết hóc búa về Jerusalem được gác qua một bên để thương thảo tiếp và trong thời gian đó Rabin đẩy mạnh việc thiết lập những khu định cư mới. Beilin và người phó của Arafat là Mahmoud lãnh việc tiếp tục đàm phán.

Vào ngày 4/11/1995, chỉ bốn ngày sau khi Beilin và Abbas đến được sự thông hiểu không chính thức về Jerusalem, thì Rabin bị ám sát bởi một tên Do Thái cuồng tín. Chào đời tại Jerusalem, ông được đưa về đó an táng trên Núi Herzl. Vua Hussein đọc điếu văn; Tổng thống Mỹ và hai người tiền nhiệm có đến dự lễ tang. Tổng thống Ai Cập Mubarak đến thăm viếng.

Hòa bình lại bắt đầu tan vỡ. Các tên cơ yếu Hồi giáo của tổ chức Hamas phát động một chiến dịch nổ bom tự sát gây thương vong xương máu cho dân chúng Israël: một vụ đánh bom tự sát Ả Rập giết chết 25 người dân trên một xe buýt Jerusalem. Một tuần sau một tên đánh bom khác giết chết 18 người trên cùng tuyến xe buýt trước. Dân Israël trừng phạt Thủ tướng Peres bằng cách bầu chọn Binyamin Netanyahu, lãnh tụ đảng Likud. Netanyahu cật vấn nguyên tắc đổi đất lấy hòa bình, chống đối bất cứ việc phân chia Jerusalem và ủy nhiệm việc lập thêm khu định cư.

Vào tháng 9 1996 Netanyahu mở một đường hầm chạy từ Bức Tường dọc theo Núi Đền để chui ra trong Khu Hồi giáo. Khi một số tên quá khích Israël ra sức khai quật lên trên về phía Núi Đền, giới thẩm quyền Hồi giáo của Thánh địa nhanh chóng lấy xi măng lắp lại lỗ. Tin đồn lan truyền rằng các đường hầm là âm mưu phá hoại Điện Thờ Hồi giáo và 75 người bị giết và 1,500 người bị thương trong những cuộc nổi loạn tiếp sau đó.

Israël vẫn chưa hoàn toàn đánh mất niềm tin vào hòa bình. Tại nơi nghỉ dưỡng Trại David của tổng thống Mỹ, Clinton lại mang tân thủ tướng Ehud Barak và Arafat đến gần nhau vào tháng 7 2000. Barak mạnh dạn đưa ra một giải pháp cuối cùng: 91 phần trăm Bờ Tây với thủ đô Palestine đặt ở Abu Dis và tất cả vùng ngoại ô Ả Rập ở đông Jerusalem. Thành phố Cổ tiếp tục thuộc chủ quyền Israël nhưng người Hồi và Khu Cơ đốc và Núi Đền sẽ đặt dưới ‘quyền bảo vệ tối cao’ của Palestine. Đất đai và các đường hầm bên duới Điện Thờ – trên hết Đá Nền của Đền Thờ – sẽ vẫn thuộc Israël và lần đầu tiên, người Do Thái sẽ được phép cầu nguyện với một số lượng giới hạn đâu đó trên Núi Đền. Thành phố Cổ sẽ được phối hợp đi tuần tra nhưng được giải giới và mở rộng cửa cho tất cả. Đã được giao phân nửa các khu vực trong Thành phố Cổ, Arafat còn đòi thêm Khu Armenia. Israël cũng chấp thuận, thực sự giao đến ba phần tư Thành phố Cổ. Dù Saudi gây sức ép buộc chấp nhận, Arafat cảm thấy mình không thể điều đình một giải pháp rốt ráo về quyền trở lại của người Palestine cũng không thể tán thành chủ quyền của người Israël về Vòm Đá vốn thuộc về tất cả Hồi giáo.

Vào ngày 28/9/2000, Sharon, lãnh tụ phe chống đối đảng Likud, góp thêm vấn đề của Barak bằng cách nghênh ngang vào Núi Đền, được các biệt đội cảnh sát bảo vệ, với một ‘thông điệp hòa binh’ rõ ràng hăm doạ Agsa và Vòm Đá thân yêu của người Hồi. Những vụ nổi loạn sau đó leo thang thành tổ chức Aqsa Intifada, trong đó Fatah và Hamas tiến hành những vụ ném đá kết hợp chiến dịch đánh bom tự sát vào dân thường Israël. Nếu vụ Intifada đầu tiên đã hỗ trợ người Palestine, lần này nó lại tiêu hủy lòng tin Israël trong tiến trình hòa bình, đưa đến việc Sharon đắc cử, và chia cắt người Palestine một cách chết người.

Sharon dẹp tan Intifada bằng cách đập nát Thẩm quyền Palestine, bao vây và sỉ nhục Arafat. Ông chết vào năm 2004 và người Israël không cho phép an táng ông trên Núi Đền. Người kế vị ông là Abbas mất chức trong cuộc bầu cử vào tay Hamas. Sau một trận xung đột ngắn ngủi Hamas chiếm được Gaza trong khi Fatah của Abbas tiếp tục cai trị Bờ Tây.

Những hạt giống hòa bình không chỉ gieo trên đất đá mà còn làm nhiễm độc nó; hòa bình làm mất tiếng những người kiến tạo nó. Jerusalem giờ đây sống trong trong nỗi lo âu hoang tưởng. Người Do Thái và Ả Rập không dám liều lĩnh đi vào vùng lân cận của nhau. Gương mặt họ căng thẳng, tiếng nói họ cộc cằn và người ta cảm thấy rằng, thậm chí những người thuộc ba tôn giáo đang tin tưởng mình đang hoàn thành một dự tính thiêng liêng, đều không chắc ngày mai sẽ mang đến điều gì.

 

NGÀY MAI

Ở đây, hơn bất cứ ở đâu khác trên mặt đất, chúng ta khao khát, chúng ta hy vọng và chúng ta tìm kiếm một giọt thuốc xổ của lòng khoan dung, sự sẻ chia và trái tim rộng lượng để hành động như một kháng thể chống lại tính độc hại của thành kiến, tính loại trừ và tính sở hữu. Không phải dễ dàng tìm được. Năm 2010, Jerusalem chưa từng quá rộng lớn, quá diễm lệ như thế, cũng chưa từng có chất Do Thái quá bao trùm như thế trong hai thiên niên kỷ. Vậy mà nó cũng là thành phố Palestine đông dân nhất. [1]

Trong 1,000 năm, Jerusalem độc quyền của người Do Thái; trong khoảng 400 năm thuộc người Cơ đốc; trong 1,300 năm của người Hồi; và không có một tôn giáo nào trong ba tôn giáo này chiếm được Jerusalem mà không bằng lưỡi gươm, máy bắn đá hoặc súng cối. Có những bước tiến hóa thầm lặng cũng như những cách mạng thảm kịch. Đôi khi chính thuốc nổ, sắt thép và máu xương đã làm thay đổi Jerusalem, đôi khi chỉ là sự đi xuống chầm chậm của những thời đại, của những bài hát được hát lên và truyền tụng, những câu chuyện được kể lại, những bài thơ được đọc lên, những bức tượng được tạo tác, và những công việc thường nhật mơ hồ và vô thức của bao gia đình qua bao nhiêu thế kỷ đi từng bước ngắn xuống những cầu thang uốn khúc, nhảy những bước loắt thoắt lên thềm cửa nhà láng giềng và làm nhẵn những phiến đá thô nhám cho đến khi chúng sáng bóng lên.

Jerusalem, quá đáng yêu theo nhiều cách, chứa quá nhiều thù hận theo những cách khác, vừa thiêng liêng vừa thế tục, vừa thô thiển hợm hĩnh, vừa tinh tế thẩm mỹ, dường như sống mãnh liệt hơn bất cứ nơi nào khác; mọi thứ dường như vẫn như cũ vậy mà không có gì đứng yên. Lúc bình minh mỗi ngày, ba điện thờ của ba tín ngưỡng bừng sống lại theo cách riêng của mình.

 

BUỔI SÁNG NAY

Lúc 4.30 sáng, Shmuel Rabinowitz, giáo sĩ Do Thái của Bức Tường Tây và Thánh Địa, thức dậy khởi đầu nghi thức cầu nguyện thường nhật, đọc kinh Torah. Ông bước qua Khu Do Thái đến Bức Tường không bao giờ đóng, những lớp đá khối Herod chiếu sáng trong bóng đêm. Người Do Thái cầu nguyện ở đó suốt đêm ngày.

Giáo sĩ, 40 tuổi và xuất thân là dân nhập cư Nga đến Jerusalem cách đây bảy thế hệ, đến từ những gia đình trong triều đình Gerer và Lubavitcher. Là cha của 7 đứa con, mắt xanh đeo kính, cằm để râu, trong bộ đồ đen và đội mũ chỏm, đi xuống Khu Do Thái, dù trời rét hay bức, mưa dầm hay tuyết rơi, cho đến khi ông nhìn thấy Bức Tường của Herod Đại Đế dâng cao trước mặt ông. Lần nào trái tim ông cũng lỡ một nhịp đập khi tiến gần hơn đến ‘giáo đường lớn nhất trên thế giới. Không có cách phàm tục nào mô tả được mối liên kết cá nhân với những tảng đá này. Đó là tâm linh’.

Là giáo sĩ, ông coi sóc việc giữ gìn sạch sẽ cho Bức Tường: những khe hở giữa các khối đá được các tín đồ nhét vào đó những lời cầu nguyện được viết ra. Hai lần mỗi năm – trước lễ Vượt Qua và Rosh Hashamah – những tờ giấy được lấy ra và được ông chôn trên Núi Olives vì tính thiêng liêng của chúng.

Khi ông đến Bức Tường, mặt trời đã mọc và đã có khoảng 700 người Do Thái đang cầu nguyện ở đó, nhưng ông luôn tìm thấy cùng một nhóm cầu nguyện –minyan– đứng tại cùng một vị trí cạnh Bức Tường. Ông không tiếp chuyện họ, cùng lắm là gật đầu để họ được tập trung vào việc cầu nguyện – ‘những lời đầu tiên là dành cho Chúa- trong khi ông buộc hộptefillin(hộp da nhỏ đựng các văn bản của Kinh thánh Do Thái mà người Do Thái buộc vào đầu hoặc cánh tay khi cầu nguyện) vào cánh tay. Ông đọc bài kinh buổi sáng,shacharit,kết thúc bằng câu: ‘Chúa ban hòa bình cho quốc gia.’ Chỉ khi đó ông mới có thể tiếp đón bạn bè. Một ngày ở Bức Tường đã bắt đầu.

Trước 4 giờ sáng một chút, ngay khi Giáo sĩ Rabinowitz thức dậy trong Khu Do Thái, một hòn sỏi ném lướt vào cửa sổ của Wajeeh al-Nusseibeh ở Sheikh Jarrah. Khi ông mở cửa, Aded al-Judeh, 80 tuổi, trao cho Nusseibeh một chìa khóa to dài 12-inxơ có từ thời trung cổ, nặng chịch. Nusseibeh, cũng đã 60 tuổi, dòng dõi của một trong những Đại gia lừng lẫy nhất ở Jerusalem, đã mặc áo vét và cà vạt, khởi hành nhanh nhẹn qua Cổng Damascus, xuống đến Nhà Thờ Mộ Thánh.

Nusseibeh, đã từng là người Trông Nom Mộ Thánh hơn 25 năm qua, đến đúng 4 giờ sáng và gõ cánh cửa cổ xưa cao ngất gắn trong mặt tiền kiểu La Mã của Melisende. Bên trong Nhà Thờ, mà ông đã khóa đêm trước lúc 8 giờ tối, người phục vụ Hy Lạp, Latinh, và Armenia đã thỏa thuận ai là người được mở cửa vào ngày hôm đó. Các giáo sĩ của ba giáo phái chủ trì đã trải qua đêm cùng nhau vui vẻ và tiến hành nghi thức cầu nguyện. Lúc 2 giờ sáng dòng Chính thống khống chế, dòng được hành lễ trước nhất trong mọi nghi lễ, bắt đầu lễ Mét, với 8 giáo sĩ đọc kinh bằng tiếng Hy Lạp quanh Lăng Mộ, trước khi giao cho dòng Armenia làm lễbadarakbằng tiếng Armenia bắt đầu khi các cổng mở ra; dòng Thiên chúa sẽ đến lượt vào lúc 6 giờ sáng. Trong khi đó tất cả giáo phái đều đọc kinh sáng. Chỉ duy nhất một người Copt được phép ở lại đêm nhưng ông cầu nguyện một mình bằng tiếng Ai Cập-Coptic cổ. Ban đêm, Nhà Thờ âm vang tiếng lâm râm đọc kinh êm tai của nhiều ngôn ngữ giống như một rừng đá trong đó nhiều loại chim đang thi nhau hót.

Đây là Jerusalem và Nusseibeh không sao biết được điều gì sắp xảy ra: ‘Tôi biết hàng ngàn người lệ thuộc vào tôi và tôi lo lắng không biết chìa khóa có mở được không hay có điều gì không ổn. Tôi mở nó lần đầu tiên khi 15 tuổi và thấy vui nhưng bây giờ tôi biết đây là vấn đề nghiêm túc.’ Dù có chiến tranh hay hòa bình, ông phải mở cửa và nói cha mình thường ngủ trong sảnh của Nhà Thờ để được an tâm.

Nhưng Nusseibeh biết rằng mỗi năm thế nào cũng có vài vụ cãi lộn giữa các giáo sĩ. Thậm chí trong thế kỷ 21, các giáo sĩ xoay chiều giữa sự lễ phép tình cờ bẩm sinh, sự tẻ nhạt của những đêm dài trong Mộ Thánh và sự bất mãn có tính lịch sử từ trong gan ruột có thể bùng nổ bất cứ lúc nào nhưng thường là vào Phục Sinh. Người Hy Lạp, người điều khiển phần lớn Nhà Thờ và có dân số đông nhất, đấu tranh với người Thiên chúa và Armenia và thường thắng trận. Người Copt và Ethiopia, mặc dù đều theo thuyết Nhất Thể, lại đặc biệt cay độc với nhau: sau Cuộc Chiến Sáu Ngày, người Israël trong một lần can thiệp hiếm hoi giao người Nhà Nguyện St Michael của người Copt cho người Ethiopia, để trừng phạt Ai Cập của Nasser và ủng hộ Ethiopia của Haile Selassie.

Giờ người phục vụ mở một cửa sập nhỏ trong cánh cửa bên phải và đưa qua một cái thang. Nusseibeh lấy thang và bắc dựa vào cánh cửa trái. Ông mở khóa bên dưới của cánh cửa phải bằng chiếc chìa khóa khổng lồ rồi leo lên thang để mở cái khóa phía trên cao. Khi ông đã leo xuống, các giáo sĩ đẩy mở toang cánh cửa to đùng, và Nusseibeh chào các giáo sĩ: ‘Bình an’!

‘Bình an!’ họ đáp lại lạc quan. Nhà Nusseibeh và nhà Judeh đã mở những cánh cửa Mộ Thánh ít nhất là từ năm 1192 khi Saladin chỉ định nhà Judeh làm ‘Người Trông Nom Chìa Khoá’ và nhà Nusseibeh làm ‘Người Trông Nom và Giữ Cửa của Nhà Thờ Mộ Thánh’, (được viết ra như thế trên danh thiếp của Wajeeh). Nhà Nusseibeh, vốn cũng được chỉ định làm người lau chùi Sakhra (Tảng Đá) trong Vòm Đá và nhiệm vụ này có tính thừa kế, tuyên bố rằng Saladin chỉ đơn giản phục hồi họ trở lại vị trí mà họ đã nhận từ Kha-lip Omar vào năm 638. Trước khi người Albania đến chinh phục vào thập niên 1830, họ rất giàu nhưng giờ đây họ sống chật vật bằng nghề hướng dẫn du khách.

Vậy mà hai nhà vẫn còn kèn cựa nhau quyết liệt. ‘Bên Nusseibeh nhằm nhò gì với bên tụi tôi,’ ông lão Judeh bát tuần nói, người đã giữ chìa khóa 22 năm, ‘họ chỉ là bọn giữ cửa!’ Còn Nusseibeh thì khăng khăng ‘bên Judeh không được phép rờ cánh cửa hoặc chìa khóa,’ cho thấy những tranh chấp Hồi giáo cũng nhỏ nhen và hăng say như người Cơ đốc. Con của Wajeeh, Obadah, là người kế thừa ông.

Nusseinbeh và Judeh bỏ chút thời gian trong ngày ngồi trong hành lang như tổ tiên họ từng làm trong 8 thế kỷ qua – nhưng họ không hề có mặt cùng một lúc. ‘Tôi biết từng viên đá ở đây, giống như ở nhà mình,’ Nussenbeh trầm ngâm. Ông tôn kính Nhà Thờ: ‘Chúng tôi Hồi giáo nhưng tin Muhammad, Jesus và Moses là những đấng tiên tri và Mary rất linh thiêng vì vậy đây cũng là chốn đặc biệt đối với chúng tôi.’ Nếu ông muốn cầu nguyện, ông có thể chui ra cửa sau đến thánh đường Hồi giáo kế bên, được xây dựng để hù dọa người Cơ đốc, hoặc đi bộ 5 phút đến al-Aqsa.

Chính xác cùng lúc với Giáo sĩ Bức Tường đang thức dậy và Người Trông Nom Nusseibeh nghe tiếng sõi ném vào cửa sổ thông báo giờ giao chìa khóa Mộ Thánh, Adeb al-Ansari, 42 tuổi, người cha của 5 đứa con mặc jacket da đen, đang bước ra ngôi nhà thời Mamluk của ông, được giao cho dòng họ ông sở hữu, trong Khu Hồi giáo và bắt đầu bước ra đường, đi đến đường Bab al-Ghawanmeh phía đông bắc. Ông qua chốt kiểm soát của cảnh sát Israël măc quân phục xanh, mỉa mai thay thường là những người Ả Rập xứ Druze hoặc Galilee được giao nhiệm vụ không cho người Do Thái bước vào Haram al-Sharif (Núi Đền).

Vỉa hè thiêng liêng phía trước đã được thắp sáng bằng đèn điện mà trước đây cha ông phải mất hai giờ để đốt tất cả đèn dầu. Anseri chào bộ phận an ninh Haram và bắt đầu mở bốn cổng chính của Vòm Đá và mười cổng al-Aqsa. Phải mất một giờ.

Nhà Anseri, thuộc dòng dõi Anseri đã di cư đến Medina với Muhammad, tuyên bố rằng mình được Omar chỉ định làm Người Trông Nom Haram nhưng chính Saladin là người khẳng định chức vụ ấy.

Thánh đường mở cửa một giờ trước buổi cầu nguyện bình minh. Anseri không phải mở cổng mỗi bình minh – giờ ông đã có một đội phân công nhau – nhưng trước khi lên kế vị làm Người Trông Nom kế thừa, ông hoàn thành nhiệm vụ này mỗi buổi sáng với niềm tự hào: ‘Trước tiên chỉ là công việc, nhưng sau đó là nghề cha truyền con nối, và một trách nhiệm trọng đại, nhưng trên hết đó là công việc cao quý và thiêng liêng.’ Nhưng nó không được trả lương khá. Tôi phải làm thêm bảo vệ tại một khách sạn trên Núi Olives

Những chức vụ thừa kế dần dần biến mất trên Haram. Nhà Shihabis, một Đại gia khác, xuất thân từ các ông hoàng xứ Lebanon, sống trong nhà cấp riêng của gia đình sát bên Bức Tường Nhỏ, từng là Người Trông Nom Râu của Nhà Tiên Tri. Râu và việc làm đã biến mất nhưng sức thu hút của nơi này vẫn còn mạnh: Nhà Shihabis còn làm việc tại Haram.

Ngay khi giáo sĩ Do Thái buớc xuống Bức Tường, ngay khi Nusseibeh vỗ vào cánh cửa Nhà Thờ, ngay khi Anseri mở cổng Haram, Naji Qazaz đang rời ngôi nhà trên Phố Bab al-Hadid mà gia đình đã sở hữu 225 năm, để đi bộ vài thước dọc theo các con đường thời Mamluk cổ lên các bậc thang qua Cổng Sắt và tiếp tục đến Aram. Ông tiếp tục đi thẳng vào al-Aqsa, tại đó ông bước vào một gian phòng nhỏ có trang bị một micrô và những chai nước lọc. Trước năm 1960, nhà Qazaz sử dụng tháp canh minaret nhưng bây giờ họ dùng phòng này để hâm nóng như những vận động viên trước khi báo giờ. Trong 20 phút, Qazaz ngồi và vươn mình, một vận động viên của công việc thiêng liêng, sau đó ông thở và xúc miệng. Ông kiểm tra micro và khi đồng hồ trên tường chỉ đến giờ, ông hướng mắt về phía Mecca và bắt đầu ngân nga kinhadhankêu gọi tin đồ cầu nguyện, âm vang khắp Thành phố Cổ.

Nhà Qazaz đã từng là muezzin tại al-Aqsa trong 500 năm kể từ thời trị vì của Sultan Mamluk Qaitbay. Naji, mới làm muezzin được 30 năm, chia sẻ nhiệm vụ với con trai Firaz và hai anh em họ.

Bây giờ là một giờ trước bình minh trong một ngày mới ở Jerusalem. Vòm Đá đã mở cổng: người Hồi đang cầu nguyện. Bức Tường luôn mở cửa: nguời Do Thái đang cầu nguyện. Mộ Thánh đang mở cửa: người Cơ đốc đang cầu nguyện bằng những ngôn ngữ khác nhau. Mặt trời mọc lên trên Jerusalem, những tia nắng khiến những đá khối Herod trông như phủ tuyết – giống như Josephus đã mô tả cách đây 2,000 năm – và rồi bắt được lớp vàng rực rỡ của Vòm Đá, hất trở lại mặt trời. Mảnh đất thiêng liêng nơi Trời và Đất gặp nhau, nơi Thượng Đế gặp gỡ con người, vẫn còn thuộc lãnh vực vượt quá ngành bản đồ học của con người. Chỉ có tia nắng làm được điều đó và cuối cùng ánh nắng rơi trên kiến tạo bí ẩn và sắc sảo nhất Jerusalem. Tắm gội và rực rỡ trong ánh mặt trời, nó nhận được cái tên vàng xứng đáng. Nhưng Cổng Vàng vẫn còn khóa, cho đến khi Ngày Cuối Cùng sẽ đến.

❀ ❀ ❀

[1] Vào năm 2009/2010, dân số của Đại Jerusalem là780,000: 514,800 Do Thái (bao gồm 163,800 siêu Chính thống) và 265,200 Ả Rập. Có khoảng 30,000 người Ả Rập trong Thành phố Cổ và 3,500 người Do Thái. Có khoảng 200,000 người Israël sống trong những khu ngoại ô mới ở đông Jerusalem.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.