TAMURLANE VÀ THẦY GIÁO: THÀNH PHỐ HÀNH HƯƠNG
Ông thầy của vua này là một học giả lừng lẫy trong thế giới Hồi giáo. Giờ đã ngót nghét 70, Ibn Khaldun đã phục vụ dưới trướng các vương quyền Morocco, rồi (sau một thời gian trong tù) Granada, Tunisia và cuối cùng (cũng sau một thời gian khác trong tù) vị sultan Mamluk. Giữa những thăng trầm của quyền lực và ngục thất, ông viết nên kiệt tácMuqaddimah,một cuốn về lịch sử thế giới đến nay vẫn còn lấp lánh. Nhờ đó vị sultan bổ nhiệm ông làm sư phó cho con trai mình, Faraj, người sẽ kế vị ông ngay khi còn trẻ.
Giờ, khi vị sử gia nóng nảy dẫn vị sultan 10 tuổi đi tham quan Jerusalem, thì Tamurlane vây hãm Damascus của người Mamluk. Timur Khập Khiễng – được biết dưới tên Tamurlane – đã vươn lên quyền lực như một thủ lĩnh địa phương ở vùng Trung Á. Trong 35 năm chinh chiến không ngừng, thiên tài khắc nghiệt này, thuộc dòng dõi Thổ, đã chinh phục nhiều lãnh thổ ở Cận Đông, mà ông cai trị từ yên ngựa, tự xưng là người kế thừa Thành Cát Tư Hãn. Ở Delhi (Ấn Độ) ông đã tàn sát 100,000 người; ở Isfahan, ông đã giết 70,000 người, xây dựng 28 tháp chất 1,500 thủ cấp mỗi tháp, và chưa hề bị đánh bại.
Nhưng Tamurlane không chỉ là một chiến binh. Những cung điện và hoa viên của ông ở Samarkand phô bày khiếu thẩm mỹ tao nhã của ông; ông là tay kỳ thủ bậc nhất và một người đam mê lịch sử thích tranh luận với các triết gia. Không có gì ngạc nhiên khi ông đã từ lâu muốn gặp Ibn Khaldun.
Nhưng người Mamluk đang trong tình cảnh hoảng loạn: nếu Damascus thất thủ, Palestine và có thể Cairo cũng sẽ theo chân. Ông thầy và vị sultan trẻ vội vã trở lại Cairo nhưng người Mamluk quyết định phái hai người đến ngay Syria để thỏa thuận với Tamurlane – và cứu vãn đế chế. Cùng lúc đó, người Jerusalem bàn bạc phải làm gì: làm sao cứu được Thành phố Thánh khởi tay tên cướp vô địch có biệt hiệu Tai Hoạ của Thượng Đế?
Vào tháng 1 năm 1401, Tamurlane, hạ trại quanh Damascus, nghe tin Sultan Faraj và Ibn Khaldun đang đợi mình. Ông không quan tâm gì đến ông vua con nhưng rất ngưỡng mộ Ibn Khaldun nên lập tức cho vào yết kiến. Là nhà chính trị, Ibn Khaldun đại diện cho vị sultan, nhưng là một sử gia, tất nhiên ông khao khát được gặp con người siêu quần của thời đại – cho dù ông không chắc mình ra về sống chết thế nào. Hai người gần như đồng tuổi: nhà chinh phục tóc đã hoa râm tiếp sử gia đáng kính trong căn lều lộng lẫy của mình.
Ibn Khaldun hơi khớp trước ‘vị vua vĩ đại và hùng mạnh nhất của các vua’ mà ông thấy ‘vô cùng thông minh và sáng suốt, nghiện tranh luận và bàn bạc về những gì mình biết cũng như về những gì mình chưa biết’. Ibn Khaldun thuyết phục Tamurlane phóng thích một số tù binh Mamluk, nhưng Tai Hoạ của Thượng Đế không đồng ý: Damascus phải bị tràn vào và cướp phá theo cách mà Ibn Khaldun gọi là ‘một chiến tích vô cùng đê tiện và gớm ghiếc’. Con đường đến Jerusalem giờ đã mở rộng. Vị pháp quan thành phố quyết định đầu hàng Tamurlane và gửi một phái đoàn cầm theo chìa khóa Vòm Đá. Nhưng khi phái đoàn đến Damascus, nhà chính phục đã tiến ra bắc để đánh đuổi quyền lực đang trỗi dậy ở Anatolia, người Thổ Ottoman. Rồi, vào tháng 2 1405, trên đường đi chinh phục Trung Quốc, Tamurlane mất và Jerusalem vẫn còn thuộc Mamluk. Ibn Khaldun, người làm nó thân thiết với Cairo từ buổi gặp mặt với Tamurlane, chết trên giường bệnh một năm sau đó. Học trò ông Sultan Faraj không hề quên chuyến tham quan văn hóa ấn tượng của mình: ông thường trở lại Jerusalem, thiết triều trên Núi Đền, bên dưới chiếc lọng hoàng gia, giữa cờ xí vàng rực, phân phát tiền vàng cho dân nghèo.
Chỉ có 6,000 người Jerusalem, với đúng 200 người Do Thái và 100 gia đình Cơ đốc, trong thành phố nhỏ với những nhiệt tình quá lớn. Thành phố là nơi nguy hiểm và mất ổn định: năm 1405 người Jerusalem nổi loạn chống lại các sắc thuế cắt cổ và đuổi cổ thống đốc Mamluk ra ngoài thị trấn. Thư khố của Haram cho chúng ta một cảm nhận về các triều đại Jerusalem gồm các pháp quan tôn giáo và tộc trưởng Sufi, cácamirMamluk bị lưu đày, và các nhà buôn giàu có trong một thế giới học tập theo Koran, sưu tập sách vở, buôn bán dầu oliu và xà phòng, và rèn luyện kiếm cung. Nhưng giờ đây Thập Tự Chinh không còn là mối đe doạ, các khách hành hương Cơ đốc bị vắt kiệt như là nguồn thu nhập chính. Tuy nhiên, họ hiếm khi được chào đón: họ thường bị bắt trong những vụ đột kích tống tiền. ‘Chúng phải hoặc chịu trả tiền,’ một tên bắt cóc giải thích với nạn nhân Cơ đốc, ‘hoặc phải chịu đánh đập đến chết.’
Thật khó nói ai nguy hiểm hơn – người Mamluk tham ô, khách hành hương tai tiếng, bọn Cơ đốc thâm thù hoặc người Jerusalem tham lam. Nhiều khách hành hương côn đồ đến nỗi dân địa phương và khách du lịch được cảnh báo, ‘Hãy tự bảo vệ mình với bất kỳ ai đi đến Jerusalem’, còn người Hồi thích câu ‘không ai hư đốn hơn các cư dân các thành phố thánh’.
Trong khi đó các sultan Mamluk thỉnh thoảng càn quét thành phố để trấn áp dân Cơ đốc và Do Thái đối mặt với những vụ treo cổ có định kỳ bởi những đám đông người Jerusalem.
Nạn tham nhũng và vô trật tự bắt đầu ở triều đình Cairo: đế chế vẫn còn được cai trị bởi các sultan gốc Caucasus vì thế, cho dù các người dòng Francis Thiên chúa nhận được sự hậu thuẫn của châu Âu, Jerusalem Cơ đốc cũng bị người Armenia và Georgia thù ghét nhau và tất nhiên có cả người Thiên chúa, khống chế. Người Armenia, vốn hung hăng bành trướng Khu của mình quanh St Jameses, lo lót người Mamluk để giành lấy Calvary (tức Gogoltha, địa điểm Jesus bị đóng đinh) khỏi tay người Georgia. Rồi sau đó người Georgia hối lộ nhiều hơn và giành được trở lại. Nhưng cũng không lâu. Trong quãng thời gian 30 năm, Calvary sang tay 5 lần.
Tiền hối lộ và lợi lộc rất lớn vì hành hương đã trở nên phổ biến một cách điên cuồng ở châu Âu. Người Âu châu không cảm thấy thời Thập Tự Chinh đã qua rồi – nói cho cùng, việc Thiên chúa chiếm lại Tây Ban Nha từ tay người Hồi không phải là Thập Tự Chinh hay sao – nhưng mặc dù không có cuộc viễn chính nào nhằm giải phóng Jerusalem, tất cả người Cơ đốc cảm thấy như mình biết rõ Jerusalem cho dù chưa hề đến. Jerusalem xuất hiện trong các bài giảng đạo, tranh vẽ và thảm treo. Nhiều thị trấn xuất hiện các Nhà Nguyện Jerusalem, được Hội Huynh Đệ Jerusalem gồm những người đã từng đi hành hương hoặc không thể đi hành hương, lập ra. Cung điện Westminster có một gian phòng Jerusalem và từ Paris ở phía tây đến Prussia và Livonia ở phía đông, nhiều nơi giờ đây khoe rằng mình cũng có Jerusalem bản địa. Jerusalem duy nhất ở Anh, một ngôi làng bé tí ở Lincolnshire, có niên đại từ thời buổi nhiệt tình sống lại này. Nhưng có hàng ngàn người đến đó mỗi năm và nhiều người trong số đó tội lỗi đầy tai tiếng:Bà Vợ xứ Bathhỗn xược của Chaucer đã đến Jerusalem ba lần (Đây là nhân vật hư cấu trong tác phẩmBà Vợ xứ BathtrongCanterbury Talescủa Geoffrey Chaucer vào thế kỷ 14).
Khách hành hương phải nộp phạt và mua phí để vào được Jerusalem và rồi Nhà Thờ nơi người Mamluk cũng kiểm soát bên trong Mộ Thánh. Họ niêm phong Nhà Thờ mỗi đêm để các khách hành hương, với một giá nào đó, có thể được vào đó suốt ngày đêm nếu muốn. Khách hành hương nhận thấy rằng Nhà Thờ trông giống tiệm tạp hóa kiêm nhà cắt tóc với các sạp bán, cửa hàng, giường ngủ và một số lượng lớn tóc người: nhiều người tin rằng bệnh tật có thể chữa khỏi nếu họ cạo đầu và đặt tóc trong Mộ Thánh. Nhiều khách hành hương bỏ nhiều thời gian khắc chữ đầu tên mình vào mỗi điện thờ họ viếng thăm trong khi bọn Hồi xảo quyệt hoạt động dịch vụ ‘thánh tích’: các khách hành hương tiết lộ rằng chúng ướp xác những hài nhi Hồi chết non rồi bán qua châu Âu nói là nạn nhân của sự kiện Tàn Sát Trẻ Thơ Vô Tội thời Herod như Kinh thánh mô tả.
Một số khách hành hương nghe theo lời chúng thuyết phục là các con cái thụ thai trong Nhà Thờ được ban cho ân sủng đặc biệt, và tất nhiên có rượu, sao cho những giờ phút tối tăm thường là thời khắc của những trò hành lạc tập thể say sưa dưới ánh nến trong đó việc hát thánh ca nghiêm túc sẽ dọn đường cho trận ẩu đả xấu xa. Mộ Thánh, theo lời một khách hành hương bất mãn, đúng là ‘một nhà thổ đúng nghĩa.’ Một khách hành hương khác, Arnold von Harff, một hiệp sĩ Đức tinh quái, bỏ thời gian để học những cụm từ Ả Rập và Do Thái cỗ hé lộ cho ta biết được phần nào hành vi của y:
Em trả cho tôi bao nhiêu?
Tôi sẽ trả cho em một gulden
Em có phải người Do Thái không?
Cô ơi, cho tôi ngủ với cô đêm nay.
Thưa bà, tôi đã lên giường bà rồi.
Người dòng Francis hướng dẫn và chào đón những du khách Thiên chúa: lộ trình của họ, đi theo bước chân Jesus, bắt đầu ở nơi họ tin là
Praetorium (tòa án binh) của Pilate ở địa điểm lâu đài của thống đốc Mamluk. Đây trở thành trạm đầu tiên trong Hành trình Khổ nạn của Chúa, sau đó là Via Dolorosa. Khách hành hương sững sờ khi thấy các địa điểm Cơ đốc đã bị Hồi giáo hóa, như Nhà Thờ St Anne – nơi sinh mẹ của Mary Đồng Trinh sinh ra – bị Saladin chiếm dụng để xây trường dạy giáo lý Hồi. Huynh Felix Fabri người Đức đã lẻn vào điện thờ này, trong khi Harff liều mạng xâm nhập vào Núi Đền bằng cách ngụy trang – và cả hai đã ghi chép lại chuyến mạo hiểm của mình.
Tuy nhiên, người Do Thái và Cơ đốc chưa hề hoàn toàn an toàn khỏi sự áp bức thất thường của bọn cai trị Mamluk – và sự linh thiêng của Jerusalem có tính lây nhiễm đến nỗi khi hai tôn giáo lớn cổ xưa hơn bắt đầu đấu đá nhau giành Lăng mộ David trên Núi Zion, thì các sultan tuyên bố nó là của đạo Hồi.
Giờ đã có một cộng đồng Do Thái định cư khoảng 1,000 người tại địa điểm sẽ trở thành Khu Do Thái. Họ cầu nguyện trong giáo đường Ramban, cũng như chung quanh các cổng của Núi Đền (đặc biệt tại phòng học tập của họ cạnh Bức Tường Tây) và trên Núi Olives, nơi đó họ bắt đầu chôn cất người chết sẵn sàng cho Ngày Phán Xét. Nhưng họ cũng đâm ra tôn kính điện thờ Cơ đốc ở Lăng mộ David (vốn không dính dáng gì với David thực sự mà chỉ có từ thời Thập Tự Chinh), một bộ phận của Cenacle, do người Francis kiểm soát. Người Cơ đốc cố hạn chế người Do Thái ra vào, vì thế người Do Thái thưa lên Cairo – với kết quả không may mắn cho cả hai. Vị sultan lúc bấy giờ, Barsbay, nổi giận khi phát hiện ra rằng người Cơ đốc chiếm giữ một địa điểm quí giá như thế, bèn đi đến Jerusalem, phá hủy nhà nguyện dòng Francis và thay vào đó xây một thánh đường bên trong Lăng mộ David. Một ít năm sau đó, một trong số kẻ kế vị, Sultan Jaqmaq, thu tóm toàn bộ Núi Đền cho đạo Hồi. Và sự tình còn tệ hơn: những hạn chế cũ bị áp đặt lại, những hạn chế mới được ban bố. Kích cỡ các khăn xếp Cơ đốc và Do Thái bị giới hạn; trong nhà tắm công cộng đàn ông phải đeo vòng cổ kim loại như súc vật; phụ nữ Do Thái và Cơ đốc bị loại khỏi nhà tắm;
Jaqmaq ngăn cấm thầy thuốc Do Thái chữa bệnh cho người Hồi. Sau khi Giáo đường Ramban bị sụp đổ trong một trận bão, quan giám sát Mamluk cấm tu sửa nó, tuyên bố giờ nó thuộc thánh đường kế bên. Khi người Do Thái hối lộ để đảo ngược quyết định, pháp quan địa phương phá hủy nó.
Vào ngày 10/7/1452, người Jerusalem phát động một vụ khủng bố chống Cơ đốc, đào lên xương cốt những thầy tu Cơ đốc và giật sập một ban công mới xây trong Mộ Thánh để vinh danh al-Agsa. Người Cơ đốc đôi khi cũng khiêu khích một cách điên cuồng. Vào năm 1391, bốn thầy tu dòng Francis la lớn giữa al-Aqsa rằng ‘Muhammad là kẻ phóng đãng, tên sát nhân, gã tham lam’, cổ xúy nghề mãi dâm! Viên pháp quan cho họ cơ hội rút lại lời nói. Nhưng họ từ chối, họ bị tra tấn và đánh đập đến gần chết. Một đám lửa được đốt lên giữa sân Nhà Thờ tại đó, gần như say cuồng vì phẫn nộ, đám đông chặt chém họ ra từng mảnh ‘để không còn lại hình dáng con người’, và sau đó họ làm món thịt hầm.
Tuy nhiên, việc cứu vớt đang đến gần và, khi một sultan bao dung hơn lên ngôi, chính một món ăn Pháp sẽ làm thay đổi vận mạng của Jerusalem Cơ đốc.
VỊ SULTAN VÀ MÓN TRỨNG RÁNG CƠ ĐỐC
Qaitbay, một thanh niên nô lệ vùng Circassia trở thành vị tướng lĩnh Mamluk, đã trải qua nhiều năm sống lưu đày ở Jerusalem. Kể từ khi ông bị cấm không được vào nhà người Hồi, ông làm bạn với người Francis và được dịp nếm món trứng ráng Pháp. Có vẻ như ông vẫn còn nhớ món trứng ráng rau củ này khi lên ngôi vua vào năm 1486, bởi vì ông chào đón những huynh Francis đến Cairo và cho phép họ xây dựng trong Nhà Thờ – và giao trả lại Núi Zion cho họ. Họ muốn trả thù người Do Thái, do đó Qaitbay ngăn cấm vĩnh viễn người Do Thái tiến gần đến Nhà Thờ hoặc tu viện kín trên Núi Zion: người Do Thái thường xuyên bị xử thắt cổ và bị giết thậm chí khi đảng trí đi ngang qua Nhà Thờ, một tình trạng kéo dài cho đến năm 1917. Nhưng vị sultan cũng cho phép người Do Thái xây dựng lại giáo đường Ramban. Và ông cũng không quên Núi Đền: khi ông đến viếng thăm vào năm 1475, ông ủy thác việc xây dựng trường giáo lý
Ashrafiyya đẹp đến nỗi được mô tả là ‘viên ngọc thứ ba của Jerusalem’ trong khi giếng nước phun của ông ở đó, một cấu trúc vòm hình chuông rực rỡ màu đỏ và kem trong kỹ thuậtablaq(kỹ thuật xen kẽ màu sáng tối đặc biệt của kiến trúc Hồi) vẫn còn là kiến trúc lộng lẫy nhất trong toàn thành phố.
Nhưng dù có sự quan tâm của Qaitbay, người Mamluk cũng đang mất dần quyền kiểm soát. Khi vị giám sát thành phố Mujir al-Din, ngắm nhìn hoàng hôn ở Tháp David, ông thấy ‘thành phố hoàn toàn bị bỏ bê và vô tổ chức’. Năm 1480, quân Bedouin tấn công Jerusalem, suýt bắt được viên thống đốc. Ông phải phì ngựa băng qua Núi Đền và thoát ra Cổng Jaffa để tẩu thoát. ‘Jerusalem gần như hoang vu’, Giáo sĩ Obadiah xứ Bertinoro nhận xét ngay sau vụ tấn công của bọn Bedouin. Từ khoảng xa, ‘tôi nhìn thấy một thành phố hoang tàn’, một đệ tử của ông đồng ý, với chó sói và sư tử lảng vảng trên vùng đồi. Vậy mà Jerusalem vẫn còn khiến khách nhìn nín thở. Khi đệ tử của Obadian nhìn thành phố từ Oliver, ‘tinh thần tôi tràn đầy, lòng tôi khóc than và tôi ngồi xuống khóc và xé áo’. Mujir al-Din, vốn yêu quí thành phố, cho rằng nó ‘tràn đầy nét rực rỡ và vẻ đẹp – một trong những kỳ quan nổi tiếng.’
Năm 1453, người Ottoman cuối cùng chinh phục được Constantinople, thừa hưởng sự lộng lẫy và ý thức hệ của toàn bộ đế chế La Mã. Hết thế hệ này đến thế hệ khác, người Ottoman điêu đứng vì các cuộc chiến tranh giành quyền kế vị và sự thách thức của một Ba Tư đang trỗi dậy. Năm 1481, Qaitbay tiếp đón ông hoàng Ottoman trốn chạy, Jem Sultan. Hi vọng rằng một vương quốc Ottoman bất đồng sẽ chia rẽ vương triều, Qaitbay dâng Jem vương quốc Jerusalem. Việc thí quân này dẫn đến 10 năm chiến tranh tiêu hao. Trong khi đó cả hai đế chế đều bị các thế lực đang lên đe doạ – người Mamluk bởi sự lấn lướt của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Dương, người Ottoman bởi một vị shah (vua Ba Tư) mới, Ismail, đã thống nhất được đất nước bằng cách áp đặt Luật Hồi Giáo Shia còn được tôn kính tận ngày nay. Việc này đẩy người Ottoman và Mamluk lại với nhau trong một cái ôm thực dụng và chết yểu: đó sẽ là một nụ hôn của tử thần.
