Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thành Phố Ả Rập, Thành Phố Đế Chế (1870–80)

❊ ❊ ❊

YUSUF KHALIDI: ÂM NHẠC, NHẢY MÚA, CUỘC SỐNG THƯỜNG NHẬT

Jerusalem thực sự như Tháp Babel trong y phục nhiều màu sắc với một thứ bậc các tôn giáo và ngôn ngữ. Các sĩ quan Ottoman mặc các áo chẽn có thêu đi kèm với quân phục kiểu Âu; người Do Thái gốc Ottoman, người Armenia và Cơ đốc Ả Rập và người Hồi vận áo choàng hoặc áo vét trắng với chiếc mũ ống đỏ tượng trưng cho đế chế Ottoman mới được cải cách; các học giả Hồi thì đội khăn xếp và mặc áo dài gần giống như nhiều người Do Thái Sephardic và Ả Rập Chính thống giáo mặc; số đông những người Do Thái Hasidic gốc Ba Lan nghèo mạt mặc áo vãi gai va đội mũ mềm thấp; bọn kavass – lính cận vệ cho người Âu – thường là người Armenia vẫn còn mặc jacket tía, quần dài trắng và mang súng lục lớn. Những nô lệ da đen chân trần phục vụ nước quả ướp đá cho chủ nhân của mình, những gia đình Ả Rập hay Sephardic xưa đàn ông thường mặc vá víu tất cả những loại y phục trên.

Về hành chính thì vị sultan-khalip chủ trì một đế chế dòng Sunni: trên chóp là người Hồi giáo; người Thổ thì cai trị, rồi xuống dưới là Ả Rập. Người Do Thái Ba Lan, bị khi dễ vì nghèo, ‘than khóc’ và lời cầu nguyện của họ có vần điệu như lên đồng, nằm ở tận đáy; nhưng ở khoảng giữa, trong một nền văn hóa dân gian nửa chìm đắm, có nhiều sự hòa trộn, mặc dù mỗi tôn giáo đều có những giáo luật khắt khe.

Vào ngày cuối của kỳ chay Ramadan, tất cả các tôn giáo đều ăn mừng bằng một bữa tiệc và hội chợ ngoài tường thành, với vòng xoay cho trẻ em và đua ngựa cho các ông, trong khi người buôn mời chào khách xem hình tục tĩu qua lỗ ngắm và bán kẹo Ả Rập, Tóc Thiếu nữ và Niềm Vui Thổ. Trong dịp lễ Purim của Do Thái, người Hồi và người Ả Rập Cơ đốc ăn mặc lễ phục truyền thống Do Thái, và tất cả ba tôn giáo đều tham dự Dã ngoại Do Thái tố chức tại Lăng Simon Công chính ngay phía bắc Cổng Damascus. Người Do Thái cho người hàng xóm Ả Rập bánh mì matzah và mời họ đến dự buổi ăn tối ngày Lễ Vượt Qua. Để đáp lại, người Ả Rập tặng lại người Do Thái bánh mì mới nướng khi lễ hội chấm dứt. Thầy mohel (người chuyên cắt bao quy đầu) Do Thái thường cũng cắt bao quy đầu cho các trẻ em Hồi giáo. Người Do Thái cũng có những buổi tiệc chào đón hàng xóm Hồi giáo của mình trở về sau chuyến đi Mecca. Mối quan hệ thân thiết nhất là giữa người Ả Rập và người Do Thái Sephardic. Mỉa mai thay, người Cơ đốc Chính thống Ả Rập lại thâm thù nhất đối với người Do Thái, mà họ sỉ nhục trong các bài hát Phục Sinh và treo cổ khi họ đến gần Nhà Thờ.

Mặc dù các hướng dẫn viên du lịch báo cho dù khách là ‘không có khu vui chơi công cộng nào ở Jerusalem’, thực ra đây là thành phố của âm nhạc và khiêu vũ. Các dân địa phương gặp gỡ trong những quán cà phê và quán rượu dưới hầm để hút narghileh (một loại ống điếu nước, giống thuốc lào?), chơi cờ backgammon, xem đấu vật và múa bụng. Tại lễ cưới và lễ hội, có nhảy múa vòng tròn (dabkah), trong khi ca sĩ hát những bài tình ca như ‘Em yêu ơi, sắc đẹp em làm anh đau nhói’. Những bài tình ca Ả Rập xen kẽ những bài hát của người Do Thái Sephardis. Người Dervish nhảy điệu

theirzikrot một cách hoang dại theo tiếng trống và chập chả. Tại tư gia, âm nhạc được các nhạc công Ả Rập và Do Thái cùng nhau chơi sáo oud, vĩ cầm rabbaba, kèn kép zummara và arghul và dàn trống inaqqara. Những nhạc cụ này vang dội qua sáu hammam (nhà tắm) là trung tâm cuộc sống Jerusalem. Các ông (sử dụng chúng giữa 2 giờ sáng đến giữa trưa) thưởng thức màn mát-xa và bộ râu mép được tỉa tót; các bà thì nhuộm tóc với lá móng và nhấp cà phê. Các cô dâu Jerusalem được các bạn gái dẫn đi trong tiếng hát và tiếng trống đến hammam nơi tất cả lông trên thân thể đều được nhổ sạch theo đúng nghi thức bằng một chất xi-rô giống như hắc ín. Đêm lễ cưới thực sự bắt đầu ở nhà tắm, rồi chú rể và đám bạn đón cô dâu từ nhà cô và, nếu đây là đám cưới của Đại gia, họ sẽ đi dưới một vòm trướng do các người hầu nâng lên, dưới ánh đuốc và đi sau là một tay trống và ban thổi sáo, tiến lên Núi Đền.

Đại gia là đỉnh cao của xã hội Jerusalem. Lãnh đạo thành phố đầu tiên là một người nhà Dajani, và trong năm 1867, Yusuf al-Diya al-Khalidi, 25 tuổi, trở thành thị trưởng đầu tiên của Jerusalem. Từ đó về sau chức vụ đó luôn được những người trong Đại gia nắm giữ – sáu người trong nhà Husseini, bốn Alami, hai Khalidi, ba Dajani. Khalidi, có mẹ là người nhà Husseini, đã bỏ đi khi còn trẻ để theo học một trường Tin lành ở Malta. Sau đó ông làm việc cho vị tể tướng có tinh thần phóng khoáng ở Istanbul. Ông coi mình trước tiên là một ‘Utsi’ – một cư dân Jerusalem (ông gọi Jerusalem là ‘quê nhà’) – thứ hai mới là người Ả Rập, và thứ ba là người Ottoman. Ông là người trí thức, một trong các vì sao của thời kỳnahda, thời phục hưng văn học Ả Rập chứng kiến sự ra đời của các câu lạc bộ văn hóa, nhật báo và nhà xuất bản.

Mỗi Đại gia có một cờ hiệu riêng và một vai trò đặc biệt trong các nghi lễ của thành phố. Tại Lửa Thánh, 13 gia đình Cơ đốc Ả Rập cầm đầu đám rước, cầm cờ hiệu gia tộc trong đó lễ Nabi Musa là lễ hội phổ biến nhất. Hàng ngàn người đến bằng ngựa hoặc đi bộ từ mọi miền ở Palestine để được vị mufti (thủ lĩnh tôn giáo), thường là người nhà Husseini, chào đón cùng với thống đốc Ottoman. Dân chúng nhảy nhót và ca hát ồn ào theo tiếng trống và chập chả. Các dervish dòng Sufi quay cuồng – ‘một số nuốt than nóng đỏ, số khác xiên que qua hai má’ và giữa người Jerusalem và Nablus lại xảy ra choảng nhau. Người Do Thái và Cơ đốc thỉnh thoảng cũng bị bọn du đãng Ả Rập hăng máu vần một trận. Khi đám đông đã tề tựu trên Núi Đền, một loạt đại bác bắn chào mừng và sau đó người nhà Husseini ngồi trên lưng ngựa tiến vào, vung vẫy lá cờ xanh lá của mình, dẫn đầu đoàn diễu hành tiến về điện thờ Baibar gần Jericho. Người nhà Dajani vẫy cờ hiệu màu tía hình Lăng David của họ. Các Đại gia, mỗi nhà với các khu vực riêng – nhà Husseini có Núi Đền, nhà Khalid sân toà án, và tất cả bọn họ đều cạnh tranh chức vụ thị trưởng – vẫn còn tranh giành quyền ưu thế và chơi trò chơi đầy rủi ro trong nền chính trị Istanbul.

Người Slav Chính thống giáo vùng Balkan, được Nga hậu thuẫn, đòi độc lập; đế chế Ottoman ra sức để sống còn. Vị sultan mới, mạnh mẽ hơn, Abdul-Hamid II, đánh dấu sự lên ngôi của mình bằng hành động tàn sát người Cơ đốc Bulgaria. Dưới áp lực của người Nga, Abdul-Hamid công nhận một hiến pháp và tổ chức bầu cử vào nghị viện: ở Jerusalem, nhà Husseini ủng hộ nền chuyên chế cũ còn nhà Khalidi theo phe cấp tiến mới. Thị trưởng Khalidi được bầu làm đại biểu Jerusalem và lên đường đến Istanbul, nhưng hiến pháp chỉ là mồi nhử. Abdul-Hamid hủy bỏ nó và bắt đầu xiển dương một chủ nghĩa dân tộc Ottoman mới kết hợp với lòng trung thành khắp giáo quốc Hồi đối với triều kha-lip. Vị sultan thông minh nhưng loạn thần kinh này, người nhỏ thó với một giọng nói nhỏ nhẻ và dễ bị động kinh, xiết chặt ách cai trị của mình bằng lực lượngkhafiyacảnh sát mật vụ, đã tàn sát cựu tể tướng của mình và một số nàng hầu nô lệ. Trong khi ông hưởng thụ những đặc quyền theo truyền thống – hậu cung của ông chứa đến 900 cung phi – ông sống trong sợ hãi, mỗi đêm đều kiểm tra dưới giường đề phòng kẻ sát thủ ấn núp, nhưng ông cũng là một thợ mộc khéo léo, một độc giả của Sherlock Holmes, và cũng là ông bầu cho sân khấu của mình.

Sự trừng trị thẳng tay của ông ngay lập tức có thể cảm nhận được ở Jerusalem: Yusuf Khalidi bị trục xuất khỏi Istanbul, bị cách chức thị trưởng và thay thế bởi Umar al-Husseini. Khi nhà Khalidi đi xuống thì nhà Husseini đi lên. Trong khi đó, Nga chuẩn bị cuối cùng hủy diệt triều đại Ottoman. Thủ tướng Anh, Benjamin DIsraëli, can thiệp để cứu họ.

HÌNH XÂM JERUSALEM: CÁC HOÀNG THÂN ANH VÀ ĐẠI CÔNG TƯỚC NGA

Ông đã vừa mua Kênh đào Suez, mượn 4 triệu bảng Anh từ Lionel de Rothschild. ‘Ông ta có gì bảo đảm?’ Rothschild hỏi ‘Chính phủ Anh,’ thư ký của DIsraëli trả lời.

‘Thế thì được.’ Giờ đây trong năm 1878 tại Quốc hội Berlin, DIsraëli hướng dẫn nội các Âu châu cách kềm chế nước Nga và ép buộc một khu định cư, trong đó Anh có thể chiếm Cyprus. Người Ottoman phải từ bỏ nhiều lãnh thổ của họ ở châu Âu theo Cơ đốc giáo và buộc phải khẳng định những quyền lợi của người Do Thái và nhóm thiểu số khác. Năm 1882, người Anh kiểm soát Ai Cập, mà trên danh nghĩa thuộc triều đại Albania.

Năm 1892, cuối cùng đường sắt cũng đến Jerusalem, mở cửa thành phố đến với kỹ nghệ du lịch. Nhiếp ảnh cùng phát triển cùng với du lịch. Thành phố Mới mở rộng quá đa dạng về mặt kiến trúc đến nỗi giờ đây Jerusalem có ngoại ô hoàn toàn trông giống một nơi nào khác ngoài Trung Đông. Các tòa nhà Cơ đốc mới vào cuối thế kỷ bao gồm 27 nhà tu kín Pháp, 10 của Ý và 8 của Nga.

Sau khi Anh và Phổ kết thúc việc sử dụng chung một tòa giám mục Anh-Phổ, giáo hội Anh xây cất Thánh đường St George vững chắc, tòa giám mục của giáo hội Anh.

Trong khi đó người Do Thái và Ả Rập, Hy Lạp và Đức đang thuộc địa hóa phần phía ngoài tường thành. Năm 1869, 7 gia đình Do Thái lập ra Nahalat Shiva – Khu Số 7 – bên ngoài Cổng Jaffa; năm 1874, người Do Thái siêu-Chính thống định cư ở Mea Shearim, giờ là khu Hassidic. Khoảng năm 1880, 17,000 người Do Thái hợp thành một đa số và có 9 khu ngoại ô Do Thái mới trong khi các Đại gia Ả Rập xây cất các khu Husseini và Nashashibi ở Sheikh Jarrah, khu vực phía bắc Cổng Damascus.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.