Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hadrian

❊ ❊ ❊

Vào ngày 24 tháng 10, lễ hội Ai Cập tưởng niệm cái chết của thần Osiris, người tình Antinous của Hadrian, bị chết đuối một cách bí ẩn trên sông Nile. Anh ấy đã tự sát? Hadrian hay người Ai Cập đã hiến tế anh ta? Đó có phải là một tai nạn? Hadrian vốn là người thường khó dò rất đau lòng, phong chàng trai là Osiris, thành lập một thị trấn mang tên Antinopolis và một giáo phái Antinous, cho dựng những bức tượng có khuôn mặt duyên dáng và vóc dáng tuyệt đẹp của chàng ta rải rác khắp vùng Địa Trung Hải.

Trên đường trở về nhà từ Ai Cập, Hadrian đi qua Jerusalem, nơi có lẽ ông đã làm điều gì khác lạ quanh vùng ven thành phố Aelia Capitolina. Phẫn nộ vì bị đàn áp, vì tình trạng Jerusalem bị ô uế do những bức tượng thần linh ngoại giáo và gần đây tượng khoả thân của chàng trai Antinous, người Do Thái đã tích trữ vũ khí và xây dựng những khu phức hợp dưới lòng đất ở vùng đồi Judaea.

Ngay khi Hadrian đã đi khỏi một khoảng cách an toàn, một lãnh tụ bí ẩn được gọi là Hoàng tử Israël đã phát động cuộc kháng chiến khủng khiếp nhất của người Do Thái.

 

SIMON BAR KOCHBA: CON TRAI CỦA VÌ TINH TÚ

Lúc đầu, người La Mã không để ý gì đến người Do Thái, nhưng lần này người Do Thái đã chuẩn bị kỹ lưỡng dưới sự chỉ huy của Simon bar Kochba tài ba, Hoàng tử tự xưng của Israël và Con của Vì Tinh tú, cùng một dấu hiệu huyền bí của vương quyền đánh dấu sự ra đời của Jesus, đã được tiên tri trong Dân số ký: ‘Sẽ có một ngôi sao từ Jacob, và vương trượng sẽ giơ cao từ Israël và sẽ đánh chết Moab.’ Nhiều người ca ngợi ông là David mới. Vị giáo sĩ đáng kính Akiba (trong Kinh Talmud viết vào thế kỷ thứ tư) khẳng định: ‘Đây là Nhà Vua Tiên tri’, nhưng không phải ai cũng đồng ý. Một giáo sĩ Do Thái khác trả lời: ‘Cỏ sẽ mọc trên cằm ngươi, Akiba, và Con vua David sẽ vẫn chưa xuất hiện.’ Kochba tên thật là bar Kosiba; những kẻ hoài nghi chơi chữ, đổi tên ông thành bar Koziba, Con trai của Sự Nói Dối.

Simon thần tốc đánh bại thống đốc La Mã và hai quân đoàn của y. Mệnh lệnh của ông, được phát hiện trong một hang động Judaea, tiết lộ năng lực khốc liệt của ông: ‘Ta sẽ chết chung với bọn La Mã’ – và quả ông đã làm thế. Ông dẹp tan nguyên một quân đoàn. ‘Ông chụp lấy các pháo đá bắn tới giữa hai đầu gối rồi quăng ném trả và giết được một số kẻ thù.’ Hoàng tử không tha thứ cho bất kỳ sự bất đồng nào: ‘Simon bar Kosiba nói với Yehonatan và Masabala. Hãy cho tất cả đàn ông ở Tekoa và những nơi khác đang ở cùng ngươi đến đây với ta không được chậm trễ. Còn nếu ngươi không gửi họ đến, ngươi sẽ bị trừng trị.’ Là người sùng đạo nhiệt thành, ông được cho là ‘ra lệnh trừng phạt các tín đồ Cơ đốc nghiêm khắc nếu họ không chối bỏ Jesus là Nhà Tiên Tri’, theo Justin, một tín đồ Cơ đốc đương thời. Ông ‘giết người Cơ đốc khi họ không chịu giúp ông đối kháng La Mã,’ một người Cơ đốc khác, Eusebius, thêm vào, rất lâu về sau này. ‘Gã đàn ông này hiếu sát và là một tên cướp nhưng dựa vào tên mình, tuyên bố mình là người ban phát ánh sáng.’ ông được cho là đã thử thách mức độ trung thành của chiến binh mình bằng cách yêu cầu mỗi người cắt đứt một ngón tay.

Con Trai Vì Tinh tú cai trị Nhà nước Israël của mình từ pháo đài Herodium, ngay phía nam Jerusalem: đồng tiền của ông công bố ‘Năm Một: Giải Cứu Israël’. Nhưng liệu ông có cúng bái Đền Thờ và phục hồi lễ hiến tế? Đồng tiền của ông phô trương ‘Vì Nền Tự Do Jerusalem’, và tô điểm bằng hình Đền Thờ, nhưng không có đồng tiền nào của ông được tìm thấy ở Jerusalem. Appian viết rằng Hadrian, như Titus, đã tận diệt Jerusalem, ám chỉ là có thứ gì đó để phá hủy, và những kẻ nổi dậy, quét sạch bất kỳ thứ gì cản đường họ, ắt hẳn đã vây hãm Quân đoàn 10 trong Thành lũy và thờ cúng trên Núi Đền nếu họ có cơ hội, nhưng chúng ta không biết họ có làm như thế không.

 

Image

Đồng tiền do Simon Bar Kochba phát hành có khắc hình Đền Thờ được phục dựng

 

Hadrian vội vàng quay trở lại Judaea, triệu tập chỉ huy giỏi nhất của mình là Julius Severus từ Anh quốc, và tập hợp bảy hoặc thậm chí mười hai quân đoàn ‘tấn công chống lại người Do Thái, đáp trả không thương xót sự điên cuồng của họ’, theo Cassius Dio, một trong số ít sử gia viết về cuộc chiến mờ mịt này. ‘Gã đã tiêu diệt hàng nghìn đàn ông, phụ nữ và trẻ em và nô lệ hóa vùng đất dưới luật thời chiến.’ Khi Severus đến, y áp dụng chiến thuật của người Do Thái, ‘cắt quân địch ra từng nhóm nhỏ, chận đường lương thảo của họ và bao vây’ để có thể ‘nghiền nát và tiêu diệt họ’. Khi quân La Mã khép vòng vây, chiến binh của bar Kochba cần những lời đe dọa nghiêm khắc để giữ vững kỷ luật: ‘Nếu các ngươi ngược đãi người Galilê bên ngươi,’ ông ta nói với một sĩ quan, ‘Ta sẽ đặt xiềng xích vào chân ngươi như đã làm với ben Aphlul!’

Người Do Thái rút lui đến các hang động của Judaea, đó là lý do tại sao các bức thư của Simon và những đồ đạc thân yêu của họ đã được tìm thấy ở đó. Dân tị nạn và chiến binh này mang theo bên mình chìa khóa những ngôi nhà mà họ bỏ hoang phía sau – như niềm an ủi cho những người không bao giờ trở lại – và những kỷ vật kỷ thân yêu – một chiếc đĩa thủy tinh, một chiếc gương trang điểm trong hộp da, một hộp đồ trang sức bằng gỗ, một chiếc xẻng hương. Và cùng với những đồ vật ấy họ đã chết vì của cải được tìm thấy nằm bên cạnh nắm xương tàn của họ. Những bức thư rời rạc ghi lại những phút giây ngắn ngủi trước thảm họa: ‘Cho đến cuối cùng … họ không còn hy vọng … những người anh em của tôi ở phía nam … những thứ này đã bị mất bởi thanh kiếm …’

Người La Mã tiến lên pháo đài cuối cùng của bar Kochba, Betar, 6 dặm về phía nam Jerusalem. Bản thân Simon đã tử trận trong chốt phòng ngự cuối cùng tại Betar, với một con rắn quấn quanh cổ theo truyền thuyết của người Do Thái. ‘Mang xác hắn đến cho ta!’ Hadrian nói, và ấn tượng trước thủ cấp và con rắn. ‘Nếu Chúa không giết anh ta, ai sẽ trấn áp được hắn?’ Hadrian có lẽ đã trở về Rome nhưng dù sao đi nữa, ông cũng đã báo thù được bằng một cuộc chiến gần như là diệt chủng.

Cassius Dio viết: “Rất ít người sống sót. ‘Năm mươi tiền đồn và 985 ngôi làng của họ đã bị san bằng. 585.000 người đã thiệt mạng trong các trận chiến và nhiều hơn nữa do ‘đói khát, bệnh tật và hỏa hoạn’. Bảy mươi lăm khu định cư Do Thái được biết đến chỉ đơn giản là biến mất. Người Do Thái bị bắt làm nô lệ nhiều đến nỗi tại chợ nô lệ Hebron họ đáng giá không bằng một con ngựa. Người Do Thái tiếp tục sống ở nông thôn, nhưng bản thân Judaea không bao giờ hồi phục được sau trận tàn phá của Hadrian. Hadrian không chỉ thực thi lệnh cấm cắt bao quy đầu mà còn cấm người Do Thái đến gần Aelia, vi phạm sẽ bị tử hình. Jerusalem đã biến mất. Hadrian xóa sạch Judaea khỏi bản đồ, cố tình đổi tên nó thành Palaestina, theo tên kẻ thù truyền kiếp của người Do Thái, người Philistines.

Hadrianus được tung hô với tư cách mộtimperum(hoàng đế La Mã), nhưng lần này không có Lễ Khải Hoàn: vị hoàng đế đã bị lu mờ và kiệt sức vì những tổn thất của mình ở Judaea. Khi báo cáo với Viện Nguyên Lão, ông không thể đưa ra lời trấn an thông thường, ‘Ta khỏe, và quân đội cũng vậy.’ Bị chứng xơ cứng động mạch (nhận ra được ở dái tai chẻ đôi được miêu tả trong các bức tượng của ông), người sưng lên vì bệnh phù, Hadrian giết chết bất kỳ người kế vị nào, ngay cả người anh rể chín mươi tuổi của mình, đã dám nguyền rủa mình: ‘Cầu cho ông ta chết mà không chết.’ Lời nguyền đã thành hiện thực: không chết được, nên Hadrian đã cố tự sát. Nhưng chưa có kẻ chuyên quyền nào viết một cách dí dỏm và hóm hỉnh về cái chết như Hadrian:

Tâm hồn nhỏ bé, kẻ lang thang, kẻ quyến rũ nhỏ bé,

Khách viếng và đồng hành của Thể xác,

Giờ đây bạn sẽ lên đường đến nơi nào?

Đến những nơi tối tăm, lạnh lẽo và âm u –

Và bạn sẽ thôi làm những trò đùa quen thuộc của mình.

 

Cuối cùng khi ông qua đời – ‘bị mọi người ghét bỏ’ – Viện Nguyên Lão từ chối phong thần cho ông. Văn học Do Thái không bao giờ đề cập đến Hadrian mà không chua thêm, ‘Cầu mong xương cốt ông ta thối rữa dưới địa ngục!’

Người kế vị ông, Antoninus Pius, đã nới lỏng một chút mức đàn áp người Do Thái, cho phép cắt bì trở lại, nhưng vẫn giữ nguyên các bức tượng của Antoninus cùng với Hadrian trên Núi Đền [1] để nhấn mạnh rằng Đền thờ sẽ không bao giờ được xây dựng lại. Những tín đồ Cơ đốc, hiện đã hoàn toàn tách biệt khỏi người Do Thái, không thể không hớn hở. ‘Nơi Linh Thiêng’, Christian Justin viết cho Antoninus, ‘đã trở thành một lời nguyền, và sự vinh hiển mà tổ phụ chúng ta ban cho đã bị thiêu rụi bằng lửa.’ Thật không may cho người Do Thái, nền chính trị ổn định của đế chế trong suốt phần còn lại của thế kỷ đã không khuyến khích bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách của Hadrian.

Aelia Capitolina là một thuộc địa nhỏ của La Mã gồm 10.000 người, không có tường, chỉ bằng hai phần năm kích thước trước đây, chỉ chạy dài từ Cổng Damascus ngày nay đến Cổng Dây xích với hai quảng trường, Đền thờ Jupiter trên địa điểm Golgotha, hai. bồn tắm nước nóng, một nhà hát, một nymphaeum (tượng các tiên nữ xung quanh hồ nước) và một giảng đường, tất cả đều được trang trí bằng cột, dãy cột và tượng, bao gồm cả một con lợn rừng rất hung dữ của Quân đoàn thứ mười. Dần dần Quân đoàn thứ mười di chuyển khỏi Jerusalem vì người Do Thái, giờ không còn được coi là mối đe dọa, mà chỉ là những kẻ tức tối thôi. Khi đi ngang qua Jerusalem trên đường đến Ai Cập, Hoàng đế Marcus Aurelius, ‘người thường không ưa dân Do Thái xấu tính và mất trật tự’, ông đã nói đùa so sánh họ với các bộ lạc nổi loạn khác: ‘Ôi Quadi, ôi Samaritan, cuối cùng ta đã tìm thấy một dân tộc ngỗ ngược hơn các ngươi!’

Khi việc kế vị ở La Mã không diễn tiến hòa bình mà dẫn đến cuộc nội chiến vào năm 193, người Do Thái, hiện sống chủ yếu ở Galilee và xung quanh bờ biển Địa Trung Hải, bắt đầu khuấy động, hoặc chống lại kẻ thù địa phương của họ là người xứ Samaria hoặc có thể gia tăng sự hậu thuẫn cho người cuối cùng giành được ngai vàng, Septimus Severus. Điều này khiến chính sách chống Do Thái bớt gay gắt: vị hoàng đế mới và con trai của ông là Caracalla đến thăm Aelia vào năm 201 và dường như đã gặp nhà lãnh đạo Do Thái, Judah haNasi, được gọi là ‘Ông Hoàng’. Khi Caracalla lên ngôi, ông ban thưởng cho Judah các điền trang ở Golan và Lydda (gần Jerusalem) và quyền cha truyền con nối để phân xử các tranh chấp tôn giáo và thiết lập lịch, công nhận ông là thủ lĩnh cộng đồng – Thượng phụ của người Do Thái.

Ngài Judah giàu có, dường như đã kết hợp được học thuật Do Thái giáo với tính xa hoa quý phái, đã tổ chức hội họp ở Galilee cùng với đội vệ sĩ người Goth trong khi ông biên soạn Mishnah, truyền thống truyền miệng của Do Thái giáo hậu Đền thờ. Nhờ Judah có những mối liên hệ với triều đình, và theo thời gian, người Do Thái sau khi hối lộ quân đồn trú đã được phép cầu nguyện đối diện với Đền thờ đổ nát trên Núi Olives hoặc trong Thung lũng Kidron. Ở đó, họ tin rằng, shekinah – thánh linh – đang cư ngụ. Người ta nói rằng Judah đã được phép cho một ‘cộng đồng thánh thiện’ nhỏ của người Do Thái đến sống ở Jerusalem, cầu nguyện trong một nhà thờ Do Thái duy nhất trên núi Zion ngày nay. Tuy nhiên, các hoàng đế Severan không bao giờ xem xét lại chính sách của Hadrian.

Dù vậy, niềm khao khát Jerusalem của người Do Thái không bao giờ lung lay. Trong những thế kỷ sau đó, dù sống ở bất cứ đâu, người Do Thái cũng cầu nguyện ba lần một ngày: ‘Cầu mong rằng Đền thờ sớm được xây dựng lại trong thời chúng ta.’ Ở Mishnah, họ đã biên soạn mọi chi tiết về nghi lễ Đền thờ, sẵn sàng khi nó được phục hồi. Tosefta, một biên soạn khác về truyền khẩu, chỉ dẫn: “Một người phụ nữ có thể đeo tất cả đồ trang sức của mình, nhưng nên bỏ đi một món nhỏ để tưởng nhớ đến Jerusalem.” Bữa ăn chiều trong ngày lễ Vượt Qua kết thúc với lời chúc: ‘Năm tới ở Jerusalem’. Nếu đến gần Giê-ru-sa-lem, họ nghĩ ra một nghi thức mặc lại quần áo của mình khi nhìn thấy thành phố đổ nát. Ngay cả những người Do Thái sống ở xa cũng muốn được chôn cất gần Đền thờ để mình là những người đầu tiên sống lại vào Ngày Phán xét. Do đó, bắt đầu có nghĩa trang Do Thái trên Núi Olives.

Có mọi khả năng là Đền Thờ sẽ được xây dựng lại – thực sự nó đã từng xảy ra trước đây và gần như đã trở lại. Trong khi người Do Thái vẫn chính thức bị cấm đến Jerusalem, thì giờ đây những tín đồ Cơ đốcmới là mối nguy hiểm rõ ràng đối với La Mã.

Từ năm 235, đế chế trải qua một cuộc khủng hoảng 30 năm, lung lay từ trong ra ngoài. Ở phía đông, một đế chế Ba Tư mới năng động, thay thế Parthia, thách thức La Mã. Trong thời kỳ khủng hoảng, các hoàng đế La Mã đổ tội cho các tín đồ Cơ đốc là những kẻ vô thần, không chịu hiến tế cho các vị thần của họ, từ đó họ ra tay bức hại giáo dân một cách dã man, cho dù đạo Cơ đốc chi là một tôn giáo đơn lẻ với một nhúm các tín điều khác nhau. Người Cơ đốc nhất trí về những điều cơ bản: sự cứu rỗi và cuộc sống sau khi chết cho những người được Jesus Christ cứu vớt. Jesus là người đã khẳng định những lời tiên tri Do Thái cổ đại mà các tín đồ trưng dụng lấy đó là của tôn giáo mình. Giáo chủ của họ đã bị người La Mã giết vì kết tội nổi loạn, nhưng người Cơ đốc tự dán lại nhãn hiệu cho niềm tin của mình thù nghịch với người Do Thái, chứ không phải với người La Mã. Từ đó La Mã trở thành thành phố thánh của họ; phần đông tín đồ Cơ đốc ở Palestine sống tại Caesarea trên bờ biển; Jerusalem trở thành ‘thành phố thiên đường’, trong khi địa điểm thực sự, Aelia, chỉ là một thị trấn mờ mịt nơi Jesus đã chết. Tuy vậy các giáo dân Cơ đốc địa phương vẫn giữ duy trì truyền thống về nơi Đóng Đinh và Phục Sinh, giờ đã bị chôn vùi dưới Đền Thờ Jupiter của Hadrian, và thậm chí họ còn bò vào bên trong đế cầu nguyện và rạch những tranh tường.

Trong khi khai quật Nhà Nguyện St Helena Armenian cổ đại, các nhà khảo cổ người Armenia phát hiện một khoảng không gian (giờ là Nhà Nguyện Varda) chứa một tranh vẽ đầy mê hoặc: một con thuyền và dòng chữ Latinh ‘Domine ivimus’ (Thưa Chúa chúng con đã tới), Hình vẽ này có niên đại từ thế kỷ 2, chứng tỏ tín đồ Cơ đốc đã lén lút đến cầu nguyện bên dưới Đền Jupiter ở Aelia đa thần giáo (hình dưới).

 

Image

 

Tại thời điểm mạt trị nhất của La Mã vào năm 260, người Ba Tư bắt được hoàng đế (ông bị ép uống vàng lõng, rồi sau đó móc ruột và nhồi rơm) trong lúc toàn bộ phía đông, kể cả thị trấn không tường thành Aelia, bị mất vào tay một đế chếPalmyran non yểu do một phụ nữ trẻ cầm đầu, Zenobia. Nhưng trong vòng 12 năm La Mã đã thu hồi lại miền Đông. Vào cuối thế kỷ, hoàng đế Diocletian phục hưng thành công quyền lực La Mã và tái lập việc thờ cúng các vị thần cũ. Nhưng người Cơ đốc dường như đang phá hỏng sự trỗi dậy này. Năm 299, Diocletian đang làm lễ hiến tế thần linh tại một đám rước ở Syria thì một số binh lính đạo Cơ đốc làm dấu thánh. Thấy vậy các thầy tế đa thần giáo tuyên bố sự linh thiêng không còn nữa. Khi cung điện củaDiocletian bị hỏa hoạn ông đổ tội cho người Cơ đốc và tiến hành một loạt các vụ bức hại tàn bạo, biến các tín đồ Cơ đốc thành kẻ tử đạo, đốt kinh sách và phá hủy nhà thờ.

Khi Diocletian thoái vị vào năm 305, chia đế chế ra làm đôi, Galerius, hoàng đế phía đông, càng tăng cường việc tàn sát người Cơ đốc bằng rìu, thiêu sống và phanh thây. Nhưng hoàng đế miền Tây làConstantius Chlorus, một quân nhân người xứ Ilyaria vạm vỡ, người đã lên nắm quyền ở York. Đã mắc bệnh,ông mất chẳng bao lâu sau đó nhưng vào tháng 7 306 các quân đoàn xứ Anh tung hô con trai trẻ của ông, Constantine, lên làm hoàng đế. Ông phải mất 15 năm để chính phục trước tiên là miền Tây rồi miền Đông, nhưng Constantine, giống như Vua David, sẽ thay đổi lịch sử của thế giới và số phận của Jerusalem bằng một quyết định duy nhất.

❀ ❀ ❀

[1] Nằm lật ngược ngay phía trên phần được trang trí của Cổng Bậc Hai ở tường thành phía nam của Núi Đền là một bảng khắc chữ ‘DÂNG TẶNG HOÀNG ĐẾ CAESAR TITUS AELIUS HADRIANUS ANTONINUS AUGUSTUS PIUS’, gần như chắc chắn là đế của bức tượng cưỡi ngựa của Antoninus Pius cũng đứng trên Núi Đền. Ắt hẳn nó đã bị cướp và sau đó được các kha-lip dòng Umayyad, người đã xây dựng cổng, dùng lại.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.