Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nhà Fatimid: Khoan Dung Và Điên Dại 969–1099

❊ ❊ ❊

IBN KILLIS: TỂ TƯỚNG DO THÁI VÀ CUỘC CHINH PHỤC CỦA NHÀ FATIMID

Con trai của một nhà buôn Do Thái từ Baghdad, Yaqub ben Yusuf, được biết dưới tên Ibn Killis, đã trải qua một sự nghiệp lên voi xuống chó, từ tên lang băm phá sản ở Syria đến cố vấn tài chính cho Kafur ở Ai Cập. ‘Nếu ngươi là người đạo Hồi,’ Kafur nói, ‘ngươi đã là người thích hợp làm tể tướng.’ Ibn Killis hiểu được gợi ý và cải đạo, nhưng hoạn quan đã mất, được chôn cất ở Jerusalem, còn Ibn Killis thì bị cầm tù. Hối lộ để ra tù, ông bí mật đi về tây đến vương quốc người Shiite ở Tunisia ngày nay được cai trị bởi nhà Fatimid. Ngài Ibn Killis giảo hoạt cải sang đạo Shia và khuyên Kha-lip Muizz rằng thời cơ đã chín mùi để chiếm Ai Cập. Vào tháng 6 969, tướng Jawhar al-Siqilli của Muizz chinh phục Ai Cập rồi tiến về bắc để chiếm Jerusalem.

 

PALTIEL VÀ NHÀ FATIMIDS: CÁC HOÀNG THÂN-BÁC SĨ DO THÁI VÀ CÁC BẬC IMAM SỐNG

Các hoàng đế cứu thế Fatimids, chủ nhân mới của Jerusalem, không giống như bất kỳ triều đại Hồi giáo nào khác vì họ không chỉ xưng mình là kha-lip, mà cũng là những vị vua thánh, các bậc Imam sống, gần như lơ lửng giữa người và trời. Các vị khách đến triều đình họ được dẫn qua những hoa viên để rửa mắt bằng những xa hoa cực kỳ trước khi đến trước ngai vàng phủ màn vàng, tại đó họ quì mọp sát đất và trướng được kéo lên để lộ ra bậc Imam sống trong hoàng bào bằng vàng. Giáo phái họ bí mật, tín ngưỡng họ thần bí, có tính cứu chuộc và bí truyền, và việc trỗi dậy nắm quyền lực của họ cũng bí ẩn, lén lút và đầy chất phiêu luu. Năm 899, một nhà buôn giàu có ở Syria, Ubayd Allah, tự xưng là bậc Imam sống, hậu duệ trực tiếp của Ali và Fatima, con gái của Muhammad, qua Imam Ismail, từ đó họ được biết dưới tên Ismaili Shiite. Các đặc vụ của ông, gọi làdawa,tỏa khắp miền đông, chinh phục Yemen và cải đạo một số bộ tộc Berber ở Tunisia; nhưng người Abbasid tìm cách sát hại ông, thế là ông biến mất. Vài năm sau, ông hay người nào khác mạo danh tái xuất ở Tunisia dưới vai trò al-Mahdi, người Được Chọn, thành lập vương triều và bắt đầu chính phục một đế chế mới với một sứ mạng thiêng liêng: lật đổ bọn Abbasid ở Baghdad và cứu chuộc thế giới. Năm 973, Kha-lip Muizz, giờ là nhà cai trị những lãnh thổ bắc Phi, Sicily, Ai Cập, Palestine và Syria, chuyển đến kinh đô mới al-Qahira al-Muizziyya – cuộc Chinh phục của Muzz – ngày nay là Cairo.

Người kế vị của ông, Aziz, bổ nhiệm cố vấn của họ, Ibn Killis, làm tể tướng của đế chế mà ông cai trị cho đến khi qua đời gần 20 năm sau. Ngoài số tài sản khổng lồ – ông sở hữu 8,000 nữ nô lệ, ông là một học giả tranh luận tôn giáo với các giáo sĩ Do Thái và Cơ đốc và sự nghiệp của ông hiện thân sự khoan dung của nhà Fatimid., vốn là thành viên của giáo phái, đối với người Do Thái và Cơ đốc có thể được cảm nhận ngay lập tức ở Jerusalem.

Người Do Thái ở Jerusalem chia rẽ, nghèo khó và tuyệt vọng, trong khi anh em ở Ai Cập của họ phất lên dưới thời Fatimid. Họ bắt đầu cung ứng bác sĩ cho các kha-lip ở Cairo: đây không chỉ là những ngự y. Họ thiên về thương gia-học giả sớm trở thành những quan triều có ảnh hưởng và thường được bổ nhiệm lãnh đạo Do Thái của đế chế Fatimid, một chức vị được biết dưới tênnagid,hoàng thân. Một người Do Thái có xuất thân bí ẩn tên là Paltiel ắt hẳn là người đầu tiên trong số những hoàng thân-quan triều-bác sĩ này. Được Jawhar, nhà chinh phục Jerusalem dòng Fatimid bảo hộ, ông ngay lập tức can thiệp để giúp đỡ người Do Thái trong Thành phố Thánh.

Sau nhiều năm bị triều đại Abbasid bỏ bê và được bảo trợ thất thường bởi các nhà cai trị Thổ, Jerusalem sút giảm vị thế và bất ổn. Những cuộc chiến liên miên giữa các kha-lip Cairo và Baghdad làm nản lòng các khách hành hương; các cuộc đột kích của Bedouin thỉnh thoảng tràn qua thành phố trong những giai đoạn ngắn; và vào năm 974, Hoàng đế Byzantine năng động John Tzimiskes đánh chiếm Damascus và phi ngựa vào Galilee, ‘hứa hẹn sẽ giải phóng Mộ Thánh của Chúa Christ chúng ta khỏi sự nô dịch của người Hồi.’ Ông đến rất gần; Jerusalem chờ đợi, nhưng ông không bao giờ tới nơi.

Các Fatimid cổ vũ những chuyến hành hương của đồng bào mình Ismailis và Shiites đến Thánh đường Hồi giáo ở Jerusalem nhưng những cuộc chiến chống Baghdad đã cắt đứt thành phố khỏi những khách hành hương Sunni. Chính sự cô lập của Jerusalem phần nào khiến nó càng thiêng liêng hơn: các tác giả Hồi giờ đây biên tập nhiều tuyển tập phổ biến về những giá trị của Jerusalem –Fadail –và họ đặt cho nàng nhiều tên mới: nàng vẫn còn là Ilya Bayt al-Maqdis, Ngôi Nhà Thánh, nhưng giờ nàng cũng trở thành al-Balat, Cung điện. Vậy mà người hành hương Cơ đốc đang càng ngày giàu và đông hơn người Hồi cai trị – người Frank (Pháp bây giờ) giong buồm từ châu Âu và những đoàn xe ngựa giàu sang đến đây mỗi mùa Phục Sinh từ Ai Cập.

Người Do Thái cũng hướng về những đấng cứu thế của họ ở Cairo nơi đó Paltiel hiện giờ thuyết phục vị Kha-lip trợ cấp cho vị gaon nghèo khó và Học viện Jerusalem. Họ tranh thủ quyền cho người Do Thái ở đó mua một giáo đường Hồi giáo trên Núi Olives, và tụ tập gần bên Cột trụ Abolsom và cũng được cầu nguyện ở Cổng Vàng tại bức tường phía đông của Núi Đền. Vào những dịp lễ hội người Do Thái được phép đi vòng quanh Đền Thờ cũ 7 lần nhưng giáo đường chính của họ vẫn là ‘áng thờ bên trong của điện thờ tại bức tường phía tây’: Hang động. Người Do Thái ít khi được khoan dung dưới thời Abbasid nhưng giờ đây, nghèo như thế, nhưng giờ họ có nhiều tự do hơn trong hai thế kỷ đã qua. Buồn thay, người Rabbanite và Karaite, vốn được Fatimid đặc biệt ưu ái, những giáo phái anh em, tổ chức hành lễ riêng biệt trên Núi Olives dẫn đến xô xát và chẳng mấy chốc những học giả xác xơ này quay ra đánh nhau trong những giáo đường Do Thái xiêu vẹo bụi bặm và những hang động ngầm thiêng liêng ở Jerusalem. Và sự tự do của họ chỉ làm trầm trọng thêm nổi bực dọc của người Hồi.

Khi Paltiel mất vào năm 1011, con trai ông mang thi hài cha đến chôn cất ở Jerusalem nhưng đoàn đưa tang giàu có bị bọn côn đồ Hồi tấn công. Thậm chí sau thời Paltiel, người Do Thái ở Cairo gởi những đoàn xe mang theo tiền để tài trợ cho Học viện và một giáo phái thần bí có tên Người Khóc Than cho Zion luôn cầu nguyện cho sự phục hồi Israël, in effect, religious Zionists. Nhưng sự hỗ trợ không bao giờ đủ: ‘thành phố goá bụa, mồ côi, hoang vắng và nghèo khó với một ít học giả,’ một người Jerusalem Do Thái viết trong một bức thư xin tài trợ. ‘Cuộc sống ở đây cực kỳ kham khổ, thực phẩm khan hiếm. Hãy giúp đỡ chúng tôi, hãy cứu chúng tôi, hãy cứu chuộc chúng tôi.’ Giờ người Do Thái là ‘một cộng đồng đáng thương, bị khuấy nhiễu liên miên.’

Vậy mà người Hồi Sunni càng ngày càng bị tai tiếng bởi những kẻ ngoại đạo được tự do và lộng hành quá trớn. ‘Khắp nơi, người Cơ đốc và Do Thái đều trên cơ,’ phóng viên du lịch Muqaddasi cằn nhằn.

 

MUQADDASI: NGƯỜI JERUSALEM

‘Suốt năm ròng, không bao giờ đường phố của nó vắng bóng người lạ.’ Khoảng 985, tại đỉnh cao của triều đại Fatimid, Muhammad ibn Ahmed Shams al-Din al-Muqaddasi đã về nhà là thành phố mà ông gọi là al-Quds, Chốn Thánh.* Giờ trong tuổi tứ tuần, ông đã đi đây đi đó trong 20 năm, ‘tìm kiếm kiến thức’ qua du lịch vốn là một phần trong quá trình rèn luyện của mỗi bác học Hồi giáo, kết hợp lòng mộ đạo và quan sát khoa học được thực hành trong Ngôi Nhà Thông Thái. Trong tuyệt tác của mìnhSự Phân Chia An Lành Nhất cho Kiến Thức Vùng Miền,ông thể hiện sự tò mò không kềm chế được và một cảm thức phiêu lưu:

Không có sự kiện gì người du lịch gánh chịu mà tôi không góp phần chia sẻ trừ ra việc xin xỏ và phạm tội lỗi ghê tởm. Có lúc tôi mộ đạo, có lúc tôi đã ăn những lương thực không thuần khiết. Tôi đã suýt bị chết đuối, đoàn xe của tôi từng bị mai phục trên đường. Tôi đã tiếp chuyện với các nhà vua và bộ trưởng, đồng hành với những tên phóng đãng, từng bị kết tội gián điệp, bị bỏ tù, tôi đã ăn cháo yến mạch với những nhà thần bí, đã uống nước canh với các thầy tu và bánh ngọt với các thủy thủ. Tôi đã chứng kiến các cuộc chiến trên chiến thuyền chống lại quân La Mã (Byzantine) và rung chuông nhà thờ ban đêm. Tôi đã vận triều phục vinh dự của vua và nhiều lần nghèo kiết xác. Tôi từng sở hữu nô lệ và đội bình nước trên đầu. Vinh quang và vinh dự tôi đã nhận được nhiều biết bao. Vậy mà hơn một lần tôi đã là mục tiêu của âm mưu sát hại.

Dù ở bất cứ đâu, không có gì làm lu mờ niềm kiêu hãnh của ông dành cho Jerusalem:

Một ngày nọ, tôi ngồi hội đồng thẩm phán ở Basra [ở Iraq]. Ai Cập (Cairo) được đề cập đến. Người ta hỏi tôi: thành phố nào cao quí hơn? Tôi nói: ‘Thành phố của chúng tôi.’ Họ hỏi, Thành phố nào ngọt ngào hơn? ‘Thành phố của chúng tôi.’ Họ hỏi: Thành phố nào tốt hơn? ‘Thành phố của chúng tôi.’ Thành phố nào giàu có hơn? ‘Thành phố của chúng tôi.’ Hội đồng ngạc nhiên vì câu trả lời này. Họ nói, ‘Anh là con người hợm hĩnh. Anh đã tuyên bố những điều chúng tôi không thể chấp nhận được. Anh như người sở hữu một con lạc đà trong chuyến haj (chuyến hành hương đến Mecca mà người Hồi giáo phái đi đến đó ít nhất một lần trong đời).

Tuy vậy ông thành thật về những khiếm khuyết của Jerusalem: ông nhìn nhận rằng ‘người nhu mì thì bị quấy nhiễu và kẻ giàu có thì bị ganh ghét. Không ở đâu bạn tìm thấy phòng tắm bẩn thỉu hơn ở Thành phố Thánh, và không ở đâu phí sử dụng phòng tắm cao hơn.’ Nhưng Jerusalem sản sinh loại nho, chuối và hạt thông tốt nhất; đó là thành phố có nhiềumuezzinbáo giờ các tin đồ đi cầu nguyện – và không có nhà thổ. ‘Không nơi nào ở Jerusalem mà bạn không thể kiếm được nước hoặc không nghe lời báo cầu nguyện.’

Muqaddasi mô tả những nơi thiêng liêng trên Núi Đền dâng cúng cho Mary, Jacob và vị thánh thần bí, Khidr. Al-Aqsa ‘thậm chí còn đẹp hơn’ Nhà Thờ Mộ Thánh còn Vòm Đá thì không có đối thủ: ‘Lúc bình minh khi ánh sáng đầu tiên của mặt trời chạm vào Mái Vòm và bệ trụ bắt được tia nắng, công trình này là một cảnh tượng tuyệt diệu và trong toàn cõi Hồi giáo tôi chưa nhìn thấy cảnh tượng nào đẹp như thế, ở những nơi khác cũng vậy.’

Khidr là vị thánh mê hoặc nhất trong các thánh Hồi giáo, liên quan mật thiết với Jerusalem nơi người ta cho rằng ông đã đến để hành lễ Ramadan. Khidr Người Xanh Lá là một người lạ thần bí, trẻ trung vĩnh viễn nhưng có chòm râu bạc, được thuật lại trong Kinh Koran (18.65) như là người dẫn đường cho Moses. Nhưng ông cũng được nhận diện là Elijah của Do Thái và Thánh George của Cơ đốc, một sĩ quan La Mã bị Hoàng đế Diocletian hành hình. Điện thờ ông ở Beyt Kala gần Bethlehem vẫn còn được người Do Thái, Hồi và Cơ đốc tôn thờ.

 

Muqaddasi cũng nhận thức được rằng mình sống trong hai Jerusalem – Jerusalem thực và Jerusalem trên trời – và đây là địa điểm diễn tiến cuộc Khải Huyền: ‘Bộ nó không phải là thành phố hợp nhất những lợi điểm của Thế giới Hiện tiền với những lợi điểm của Thế giới Kiếp Sau hay sao? Bộ nó không phải làsahira –bình nguyên – nơi trang trọng bước vào Ngày Phán Xét nơi Cuộc Đại Quần Tụ và Bổ Nhiệm sẽ xảy ra hay sao? Đúng là Mecca và Medina có ưu thế của chúng nhưng vào Ngày Phán Xét, chúng sẽ hội tụ về Jerusalem và tính ưu việt của tất cả chúng sẽ được hợp nhất ở đây.’

Vậy mà Muqaddasi còn phàn nàn về việc thiếu vắng người Sunni và sự tự tin ồn ào của người Do Thái và Cơ đốc: ‘các học giả thì ít mà bọn Cơ đốc thì nhiều và xử sự thô lỗ nơi công cộng.’ Suy cho cùng triều đại Fatimid là những người Hồi giáo có tính bè phái và địa phương thậm chí còn tham gia các lễ hội của người Cơ đốc. Nhưng tình hình sắp sửa rẻ qua một bước ngoặt khủng khiếp: tại thời điểm Muqaddasi mất ở tuổi 50 vào năm 1000, một đứa trẻ lên kế vị ngôi vua của bậc Imam Sống, người sẽ tìm cách tiêu diệt Jerusalem của Do Thái và Cơ đốc.

 

 

HAKIM: BẠO CHÚA CALIGULA CỦA Ả RẬP

Khi Kha-lip Aziz nằm hấp hối, ông hôn đứa con trai và rồi bảo nó đi chơi. Ngay sau đó ông qua đời, và không ai có thể tìm thấy bậc Imam Sống 11 tuổi. Sau một phen tìm kiếm điên cuồng, người ta phát hiện em một cách không ngờ ở trên chóp một cây sung dâu. ‘Xuống đây mau, cậu nhỏ của tôi,’ một quan triều năn nỉ. ‘Cầu xin Thượng Đế phù hộ cậu và mọi người chúng tôi.’

Các quan triều mặc lễ phục tụ tập dưới gốc cây. ‘Ta leo xuống,’ vị kha-lip mới, Hakim, nhớ lại, và triều thần ‘đặt trên đầu ta khăn xếp đính ngọc quí, hôn mặt đất trước mặt ta, và tâu: “Xin nghênh đón Vị Chỉ huy các Tín hữu, với lòng thương xót và sự phù hộ của Thượng Đế.” Sau đó họ dẫn ta ra ngoài trong bộ hoàng phục đó và trình diễn ta trước muôn dân. Họ cúi xuống hôn mặt đất trước bước chân ta và chào đón ta với tước vị Kha-lip.’

Là con trai của một người mẹ theo Cơ đốc giáo mà các anh em của bà đều là giáo trưởng, Hakim lớn lên trở thành một thanh niên vai rộng, cặp mắt xanh lơ lấm tấm vàng. Lúc đầu, được các bộ trưởng khuyên lơn, ông theo đuổi sứ mạng Ismaili của gia đình mình, khoan thứ người Do Thái và Cơ đốc. Ông say mê thi ca và thành lập Ngôi Nhà Thông Thái riêng của mình ở Cairo để nghiên cứu về thiên văn và triết học. Ông tự hào vì phép khổ hạnh của mình, từ bỏ khăn xếp kim cương để thay bằng khăn dân dã, và ông thậm chí buôn chuyện cười với cư dân Cairo nghèo khó trên đường phố. Nhưng khi ông đã thực sự nắm trọn quyền hành, chẳng bao lâu có những biểu hiện cho thấy gã chuyên chế thần bí này tâm thần không quân bình. Ông ra lệnh giết tất cả lũ chó ở Ai Cập, sau đó là bọn mèo. Ông ngăn cấm ăn nho, cải xoong và cá da trơn. Ông ngủ ban ngày và thức ban đêm, ra lệnh mọi cư dân Cairo phải theo giờ giấc kỳ cục của mình.

Năm 1004, ông bắt đầu ra lệnh bắt giam và hành hình người Cơ đốc, đóng cửa nhà thờ ở Jerusalem và chuyển thành thánh đường Hồi giáo. Ông cấm hành lễ Phục Sinh và uống rượu vang, một biện pháp nhắm vào người Cơ đốc và Do Thái. Ông ra lệnh mọi người Do Thái phải mang vòng cổ có đeo hình bò bằng gỗ để nhắc nhở họ về vụ Bê Vàng, và chuông nhỏ để cảnh giác cho người Hồi biết là họ đang đến gần.

Trong Xuất Hành 32 người Hebrew (Do Thái cổ đại) trốn thoát khỏi Ai Cập yêu cầu Aaron, em trai của thủ lĩnh họ là Moses, đúc một con bê vàng để thờ trong thời gian vắng mặt của Moses lên Núi Sinai để gặp Thượng Đế. Khi xuống núi mang theo phiến đá khắc Điều Răn của Chúa và nhìn thấy dân chúng quay ra thờ cúng bê vàng, Moses nổi giận đập vỡ phiến đá (biểu tượng cho sự phá vỡ giao ước với Chúa Trời) và ra lệnh nấu chảy bê vàng, nghiền thành bột, rồi trộn với nước, bắt mọi người đều phải uống. Đó là thứ thách để loại ra những kẻ phản đạo (sau đó chết trong một trận dịch) với người theo đạo (vẫn còn sống).

 

 

Người Cơ đốc phải mang thập tự sắt. Người Do Thái bị buộc phải lựa chọn giữa việc cải đạo và việc rời bỏ xứ sở. Các giáo đường Do Thái bị tàn phá ở Ai Cập và Jerusalem. Nhưng chính một nghi thức Cơ đốc đang trở nên phổ biến khiến lôi kéo sự chú ý của Hakim vào Jerusalem. Mỗi khách hành hương Cơ đốc dự lễ Phục Sinh từ phương Tây và phương Đông tới đều đổ vào Jerusalem để cử hành phép mầu Phục Sinh của thành phố: Sự Hạ giới của Lửa Thánh.

Vào Thứ Bảy Thánh, một ngày sau ngày Thứ Sáu Tốt Lành, hàng ngàn người Cơ đốc trải qua đêm trong Nhà Thờ Mộ Thánh nơi Nhà Mộ được niêm phong và mọi đèn đóm đều dập tắt cho đến khi, giữa cảnh tượng đầy xúc động, vị giáo trưởng bước vào Nhà Mộ trong bóng tối. Sau một khoảng thời gian dài ngóng đợi ớn xương sống, một tia lửa dường như từ trên cao đi xuống, một ngọn lửa chập chờn, ánh sáng lóe lên và vị trưởng giáo bước ra với cây đèn được đốt sáng một cách bí ẩn. Ngọn lửa thánh này sau đó được phân phát từ cây nến này qua cây nến khác giữa đám đông bị gạt gẫm la hét và nhảy cỡn lên vì niềm hân hoan ngu ngốc. Người Cơ đốc coi nghi thức tương đối mới mẻ này, được một khách hành hương đề cập đến đầu tiên vào năm 870, là một sự khẳng định thần thánh về Sự Phục Sinh của Jesus. Những người Hồi tin đây chỉ là trò sơn đông mãi võ kiểu chợ phiên với thủ đoạn lừa gạt – bôi dây treo đèn bằng dầu nhựa cây. ‘Những trò gớm ghiếc này’, một cư dân Jerusalem đạo Hồi viết, ‘khiến người ta phải rùng mình ghê tởm.’

Khi Hakim nghe tin này và nhận xét mức độ giàu có của đoàn xe Cơ đốc khởi hành đi Jerusalem, ông ra lệnh đốt Khu Do Thái ở Cairo – và hủy diệt hoàn toàn Nhà Thờ Mộ Thánh. Vào tháng 9 1009, thủ hạ của ông xóa sạch Nhà Thờ ‘từng tảng đá một’, ‘san bằng nó hoàn toàn trừ những bộ phận không thể phá hủy’ và bắt đầu đánh sập các giáo đường và nhà thờ của thành phố. Người Do Thái và Cơ đốc phải giả vờ cải sang đạo Hồi.

Những trò cười của vị kha-lip thuyết phục một số Ismailis rằng ‘Hakim chứa hiện thân của Thượng Đế trong người ông’. Trong cơn điên cuồng của những khải thị thần thánh của mình Hakim không cổ vũ cho giáo phái mới này, và bắt đầu bức hại người Hồi; ông bãi bỏ Ramadan và khủng bố người Shiite cũng như Sunni. Ông càng ngày bị người Hồi căm ghét đến nỗi ông cần có sự hậu thuẫn của người Cơ đốc và Do Thái ở Cairo, nên ông lại cho phép họ xây dựng nhà thờ và giáo đường.

Không phải mọi giáo đường Do Thái đều bị hủy diệt. Giáo đường Do Thái ở Fustat, Cairo Cổ, chứa một trong những nguồn sử liệu chủ yếu của thời Trung Cổ: Cairo Geniza. Trong hơn 900 năm, Cairo Geniza không bị dọn sạch, bảo quản 100,000 tờ giấy mô tả cuộc sống người Do Thái ở Ai Cập, mối liên hệ của nó với Jerusalem, và vùng Địa Trung Hải về mọi lãnh vực, được niêm phong và bị quên lãng cho đến năm 1874 khi một học giả ở Jerusalem đầu tiên thâm nhập nó. Trong thập niên 1890, những văn kiện Geniza bất đầu xuất hiện, được các học giả Anh, Mỹ và Nga mua lại, nhưng chỉ đến năm 1896 hai mệnh phụ lập dị người Scotland mới trình cho Giáo sư Solomon Schechter một số tư liệu Geniza. Ông nhận ra ngay văn bản chữ Hebrew cổ nhất củaSách Huấn Cacủa Ben Sira. Schechter tập họp kho lưu trữ vô giá này, nhờ đó S. D. Goitein soạn ra được tác phẩmXã hội Địa Trung Hảigồm 6 cuốn.

 

Lúc này, vị kha-lip tâm thần này lang thang như hôn mê qua các đường phố Cairo, thường được các bác sĩ cho liều thuốc khá nặng. Hakim thanh trừng triều thần, ra lệnh giết cả thầy dạy, thẩm phán, nhà thơ, người nấu ăn và anh em họ của mình, và cắt cụt bàn tay các nữ nô lệ, thường chính ông tự tay đóng vai đồ tể.

 

HAKIM: NGƯỜI BIẾN MẤT

Cuối cùng, vào nửa đêm trong tháng hai 1021, vị kha-lip mất trí, chỉ mới 36 tuổi, cưỡi lừa ra khỏi Cairo vào vùng đồi và biến mất một cách quá bí mật đến nỗi những người trung thành với ông tin rằng ‘Hakim không từ đàn bà sinh ra và bất tử’. Vì con lừa ông cưỡi và một số quần áo rách rưới đẫm máu tìm được, ông ắt hẳn đã bị người chị sát hại để sắp xếp cho con trai nhỏ Zahir của mình lên kế vị. Những kẻ trung thành với Hakim bị binh lính Fatimid tàn sát, nhưng một số ít tẩu thoát được và thành lập một giáo phái mới đến ngày nay vẫn còn hoạt động là Druze xứ Lebanon.

Những vết sẹo do cơn điên khùng của Hakim gây ra không hề lành lặn ở Jerusalem: Nhà Thờ Constantine không hề được được tái tạo đầy đủ như xưa. Như thể Hakim chưa đủ ác, một trận động đất vào năm 1033 tàn phá thành phố, làm sụp đổ các tường thành Byzantine và cung điện Umayyad; Nhà Thờ Aqsa cũ của Umayyad sụp đổ thành đống đổ nát ; Hang động Do Thái bị hư hại.

Kha-lip Zahir, vốn tôn kính Jerusalem, phục hồi sự khoan dung của các tiên vương, hứa hẹn bảo hộ cho cả hai giáo phái Do Thái, và trên Núi Đền ông xây dựng lại al-Aqsa, bảng chữ khắc trên cổng vòm khải hoàn trang trí tinh tế của nó liên kết ông, Jerusalem của ông và chuyến Dạ Hành của đấng Tiên Tri, mặc dù thánh đường của ông nhỏ hơn nhiều thánh đường gốc. Ông xây lại tường thành, nhưng bao quanh một thành phố nhỏ hơn, xấp xỉ như ta thấy ngày nay, để Núi Zion và các cung điện Umayyad bị tàn phá ra bên ngoài.

Zahir và người kế vị chào đón sự hỗ trợ của Byzantine nhằm tài trợ việc tái thiết Nhà Thờ. Hoàng đế Constantine IX Monomachus tạo ra một Mộ Thánh mới, hoàn tất vào năm 1048, với lối vào giờ hướng về phía nam: ‘một tòa nhà rộng mênh mông có khả năng chứa đến 8,000 người, được kiến tạo một cách khéo léo bằng đá màu được trang trí bằng tranh đắp nổi dát vàng của thợ Byzantine,’ một khách hành hương Ba Tư Nasir-i-Khusrau viết. Nhưng nó nhỏ hơn nhiều so với vương cung thánh đường Byzantine. Người Do Thái không bao giờ có thể xoay sở để tái thiết tất cả giáo đường bị tàn phá của họ, cho dù tể tướng quyền uy Do Thái ở Cairo, Tustari, hậu thuẫn cho cộng đồng Do Thái.

Đây là thời kỳ các bộ trưởng Do Thái làm việc cho vương quyền Hồi giáo. Ở Ai Cập, dòng dõi mậu dịch của một gia đình người Karaite Ba Tư, Abu Saad al-Tustari, trở thành nhà cung cấp đồ xa xỉ cho Zahir, trong đó có một nữ nô lệ da đen. Sau khi vị kha-lip mất vào năm 1036, cô ta trở thànhWalida,mẹ của Kha-lip Mustansir, với Tustari là quyền lực phía sau ngai vàng. Ông gom góp một khối tài sản khổng lồ, có lần tặng cho Walida một con thuyền và chiếc lều bạc trị giá 130,000 dirham. Ông không hề cải sang đạo Hồi. Thi sĩ Rida ibn Thawb viết: ‘Hỡi dân chúng Ai Cập, tôi có lời khuyên tốt dành cho bạn / Hãy biến thành người Do Thái, vì chính Thiên đường cũng hóa thành của Do Thái.’Năm 1048, Tustari bị toán quân Thổ mưu sát, được vị Goan của Jerusalem vô cùng tiếc thương. Trong khi đó vị tể tướng của xứ Granada theo đạo Hồi ở Tây Ban Nha là một người bảo trợ khác của Jerusalem: Samuel ibn Nagrela, ‘Ông Hoàng’, một bác sĩ thông thái, thi sĩ, học giả kinh Talmud, có lẽ là người Do Thái duy nhất chỉ huy quân Hồi khi xáp chiến. Con trai ông lên kế vị nhưng bị mưu sát vào năm 1066 trong một cuộc tàn sát người Do Thái ở Granada.

 

Những hành động bức hại của Hakim dường như tạo cảm hứng cho một nhiệt tình tươi mới đối với Jerusalem – giờ là thành phố hành hương nhộn nhịp với 20,000 khách. ‘Từ các vùng đất ở Hy Lạp và những vùng đất khác,’ Nasir nhận xét, ‘người Cơ đốc và Do Thái lũ lượt về Jerusalem với số lượng lớn.’ 20,000 dân Hồi tụ tập hàng năm trên Núi Đền thay vì hành hương đến Mecca. Còn khách hành hương Do Thái đến từ Pháp và Ý.

Chính sự thay đổi trong giáo quốc Cơ đốc đã giúp biến Jerusalem thành quá hấp dẫn đối với người Frank từ phía tây, Hy Lạp từ phía đông. Đạo Cơ đốc của người Latinh dưới triều các giáo hoàng Thiên chúa La Mã và người Hy Lạp Chính thống giáo dưới triều đại các hoàng đế và giáo trưởng ở Constantinople giờ đã khác biệt rõ rệt. Họ không chỉ cầu nguyện theo những ngôn ngữ khác nhau và bêu riếu nhau về những giáo điều thần học uyên áo. Chính thống giáo, với những biểu tượng và tính trình diễn chi ly, càng thêm thần bí và nhiệt huyết; đạo Thiên chúa, với quan niệm về tội lỗi nguyên thủy, tin tưởng vào một sự phân cách lớn hơn giữa người và Thượng Đế. Vào ngày 16/7/1054, ngay giữa buổi lễ ở Hagia Sofia, một đại diện Giáo hoàng rút phép thông công Giáo trưởng Byzantine. Đáp lại ông này nổi giận rút phép thông công giáo hoàng. Sự Rạn Nứt Lớn này, vẫn còn chia rẽ giáo triều Cơ đốc, cổ vũ sự tranh chấp Jerusalem giữa đông và tây.

Hoàng đế Byzantine Constantine X Doukas tài trợ cho Khu Cơ đốc thực sự đầu tiên quanh Nhà Thờ. Đúng ra có quá nhiều khách hành hương và thợ thủ công Byzantine ở Jerusalem đến nỗi Nasir nghe có tiếng thì thầm bí mật rằng Hoàng đế Constantinople đang cải trang đến Jerusalem. Nhưng cũng có nhiều khách hành hương Tây phương – người Hồi giáo đều gọi tắt cả là ‘Frank’ theo tên dân tộc của Charlemagne, mặc dù họ thực ra là từ mọi nơi trên châu Âu – đến nỗi các nhà buôn Amalfitan xây cất nhà trọ và tu viện để chứa họ. Nhiều người tin tưởng rằng việc hành hương sẽ cứu chuộc được tội lỗi của mình và ngay từ 1001, Fulk the Black, Bá tước vùng Anjou và là người thành lập triều đại Angevin sau này sẽ cai trị nước Anh, đi hành hương sau khi đã thiêu sống bà vợ trong áo cưới vì đã phát hiện bà ngoại tình với một gã chăn lợn. Ông đến Jerusalem ba lần. Sau đó, gã bạo dâm Earl Sweyn Godwinson, em vua Harold nước Anh, đi chân đất đến Jerusalem vì đã hiếp dâm Nữ Tu viện trưởng còn trinh Edwiga, trong khi Robert, quận công Normandy, cha của William the Conqueror, bỏ hoang công quốc để đến cầu nguyện tại Mộ Thánh. Nhưng tất cả ba người họ đều mất mạng trên đường: thần chết không bao giờ xa con đường hành hương.

Người Fatimid, bị đe đọa bởi những âm mưu triều đình, thậm chí phải chật vật mới gìn giữ được Palestine, nói gì đến Jerusalem, và bọn cướp cứ rình rập khách hành hương. Cái chết xảy ra quá thường đến nỗi người Armenia tạo ra một danh hiệu –mahdesi –dành cho những khách hành hương chết trên đường.

Năm 1064, một đoàn xe gồm 7,000 khách hành hương giàu có người Đức và Hà Lan do Arnold Giám mục xứ Bamberg dẫn đầu, tiến gần đến thành phố thì bị các bộ tộc Bedouin đột kích ngay bên ngoài tường thành. Một số khách hành hương vội nuốt vàng của mình để không bị cướp, nhưng rồi bị chúng mổ bụng lấy ra. 5,000 khách hành hương bị tàn sát. Cho dù đến giờ Thành phố Thánh đã thuộc Hồi giáo trong bốn thế kỷ, những trò tàn bạo như thế bỗng đặt Nhà Thờ Mộ Thánh dưới tình trạng hiểm nghèo.

Năm 1071, tay cự phách mới của miền đông, Alp Arslan – Hùng Sư – đánh bại và bắt được hoàng đế Byzantine tại Manzikert.

Khi hoàng đế tù binh được giải trước mặt người chiến thắng Alp Arslan, mà bộ râu của ông quá dài đến nỗi ông phải vắt qua vai, hỏi, ‘Nhà ngươi sẽ làm gì nếu ta bị giải trước mặt nhà ngươi như một tù binh?’ ‘Có lẽ ta sẽ giết ngươi, hoặc đem ngươi trưng ra giữa đường phố Constantinople,’ Romanos IV Diogenes trả lời. ‘Cách trừng phạt của ta nặng hơn nhiều.’ Alp Arslan nói. ‘Ta sẽ tha thứ ngươi và cho ngươi tự do.’ Nhưng chính Hùng Sư cũng không tồn tại lâu. Khi ông phát hiện một sát thủ tiến đến, ông vẫy tay ra hiệu các vệ sĩ giạt ra để ông phô diễn tài bắn cung của mình. Nhưng ông trượt chân, và tên sát thủ đâm ông. Hấp hối, ông dặn dò đứa con kế vị Malik Shah, ‘Hãy nhớ những bài học đã học, và đừng cho phép thói kiêu căng của con lấn át cả lý trí của mình.’ Lăng mộ ông ở Merv có ghi dòng chữ chua chát: ‘Hỡi những ai đã lên đến đỉnh cao tận trời như Alp Arslan, coi chừng! Ông ấy giờ cũng đã nằm dưới ba tấc đất’.

 

Alp Arslan là thủ lĩnh của người Seljuk, những kỵ mã Turkoman đã đến để chinh phục kha-lip ở Baghdad và đã được nhận một tước hiệu mới làsultan (vua Thổ) – có nghĩa là ‘quyền lực’. Giờ thì Hùng Sư, chinh phục một đế chế từ Kashgar đến Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, phái vị tướng của mình Atsiz ibn Awak al-Khwarazmi, phi ngựa về nam – về hướng một Jerusalem đang khiếp đảm.

 

ATSIZ: VỤ CƯỚP PHÁ THÚ VẬT

Vị Gaon và nhiều người Do Thái, vốn được đối xử tử tế dưới triều vua Fatimid, chạy khỏi Jerusalem đến căn cứ Tyre của Fatimid. Atsiz hạ trại bên ngoài tường thành mới nhưng, là người Hồi dòng Sunni mộ đạo, ông tuyên bố mình sẽ không làm hại đến Jerusalem. ‘Đó là nơi thiêng liêng của Thượng Đế,’ ông nhấn mạnh. ‘Ta sẽ không đánh nhau với nó.’ Vậy mà, vào tháng 6 năm 1073, ông vây hãm cho Jerusalem chết đói đến phải đầu hàng. Rồi ông hướng về nam đến Ai Cập, tại đó ông bị đánh bại. Việc này cổ vũ người Jerusalem nổi loạn. Họ bao vây người Turkoman (và hậu cung của Atsiz) trong Thành lũy.

Atsiz trở lại và khi ông sẵn sàng tấn công, các cung nữ của ông bỏ ra ngoài Thành lũy và mở cổng cho ông. Lũ quân Trung Á của ông giết 3,000 người Hồi, thậm chí những người đã ẩn trốn trong thánh đường. Chỉ những người nấp trên Núi Đền mới toàn mạng. ‘Chúng cướp bóc và tàn sát và hãm hiếp và cướp phá các nhà kho; chúng là bọn người tàn ác và kỳ lạ, nai nịt với vải vóc đầy màu sắc, đội mũ sắt đen và đỏ, mang cung giáo và bao tên đầy ắp,’ một thi sĩ Do Thái có dịp gặp bọn người của Atsiz ở Ai Cập. Atsiz và các kỵ mã của ông cướp phá Jerusalem: ‘Họ đốt rụi bắp đã thu hoạch, đốn ngã cây ăn trái và dẫm nát vườn nho, đào mộ và vứt bỏ xương cốt. Chúng không giống con người, chúng giống dã thú.’

Đế chế của Hùng Sư ngay lập tức tan rã khi thân nhân và các tướng lĩnh của ông chia nhau lập thái ấp riêng của mình. Atsiz bị mưu sát và Jerusalem rơi vào tay một chỉ huy Thổ khác, Ortuq bin Aksab. Vừa đến nơi, ông bắn một mũi tên vào mái vòm của Mộ Thánh để chứng tỏ mình là chủ nhân mới. Vậy mà ông cho thấy mình khoan dung đáng kinh ngạc, thậm chí bổ nhiệm một người Cơ đốc Jacobite làm thống đốc, và ông mời các học giả Sunni trở lại Jerusalem.

Các con trai của Ortuq là Suqman và Il-Ghazi thừa kế Jerusalem. Năm 1093 ‘ai đó nổi lên chống thống đốc’, Ibn al-Arabi, một học giả Tây Ban Nha, viết, ‘và y cố thủ trong Tháp David. Thống đốc cố tấn công y sử dụng các cung thủ.’ Trong khi các binh lính Turkoman đánh nhau cận chiến qua đường phố, ‘không ai buồn để ý. Không khu chợ nào đóng cửa, không nhà khổ hạnh nào rời chỗ của mình trong Thánh đường al-Aqsa; không cuộc tranh luận nào hoãn lại.’ Nhưng những trò tàn bạo của Hakim, việc đánh bại hoàng đế Byzantine, việc Jerusalem thất thủ vào tay bọn Turkoman và việc tàn sát khách hành hương chấn động giáo quốc Cơ đốc: việc hành hương đang lâm nguy.

Năm 1098, tể tướng Ai Cập ngạc nhiên khi biết rằng một đạo quân hùng mạnh người Âu châu Cơ đốc đang tiến vào Đất Thánh. Ông ngờ rằng họ chỉ là bọn lính đánh thuê Byzantine, vì thế ông tính cắt cho họ một miếng nhỏ trong đế chế Seljuk: người Cơ đốc có thể lấy Syria; ông sẽ được lại Palestine. Nhưng khi ông khám phá ra rằng mục tiêu của họ là Jerusalem, tể tướng vây hãm thành phố trong 40 ngày với 40 máy bắn đá cho đến khi hai con trai của Ortug phải chuồn đến Iraq. Bổ nhiệm một trong các tướng lĩnh của mình làm thống đốc Jerusalem với các quân đồn trú Ả Rập và Sudan, vị tể tướng trở lại Cairo. Thương thảo với người Frank tiếp tục cho đến mùa hè 1099 – phái đoàn Cơ đốc ăn mừng lễ Phục Sinh ở Mộ Thánh.

Thời khắc xâm lược của người Frank thật thuận lợi: người Ả Rập đã đánh mất đế chế của mình vào tay người Seljuk. Vinh quang của Kha-lip Abbasid giờ chỉ là ký ức xa vời. Thế giới Hồi giáo đã phân mảnh thành những thái ấp nhỏ hiềm khích nhau do các ông vua con cai trị và bị khống chế bởi các tướng lĩnh Thổ Nhĩ Kỳ –amir –và nhiếp chính được biết dưới tênatabeg.Thậm chí khi các đạo quân Cơ đốc tiến về nam, một ông hoàng con Seljuk còn tấn công Jerusalem nhưng bị đẩy lui. Trong khi đó thành phố Antioch đã rơi vào tay người Frank, đang tiến dọc theo bờ biển. Vào ngày 3/6/1099, quân Frank chiếm Ramla và khép chặt vòng vây Jerusalem. Hàng ngàn người Hồi và Do Thái ẩn nấp bên trong tường thành của Thành phố Thánh. Vào buổi sáng thứ ba ngày 7/6, các hiệp sĩ người Frank đến lăng mộ của Nani (nhà Tiên Tri) Samuel, cách Jerusalem bốn dặm. Đã đi một hành trình dài từ tây châu Âu, giờ họ từ Montjoie – Núi Vui Sướng- nhìn xuống Thành phố Vua của các vì Vua. Khi đêm xuống, họ hạ trại quanh Jerusalem.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.