Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Chương 5

❊ ❊ ❊

JOSIAH: NGƯỜI GIẢI CỨU CÁCH MẠNG

Thật là một phép màu: đế chế xấu ác Assyria đã tan rã và vương quốc Judah được tự do. Vua Josiah có thể đã mở rộng đế chế của mình về phía bắc vào trong lãnh thổ trước đây của Israël, về phía nam đến Hồng Hải và về phía đông đến Địa Trung Hải, và rồi trong năm trị vì thứ 18 của ông, giáo trưởng Hilkiah tìm được một cuộn văn tự bị quên bẳng được cất giữ trong một gian phòng của Đền Thờ.

Josiah nhận ra ngay quyền lực của văn kiện này, một phiên bản có sớm của Sách Đệ nhị Luật, ắt hẳn là một trong những cuộn văn bản được mang về phương nam từ Israël sau khi nó thất thủ và được cất giấu trong Đền Thờ trong thời gian bức hại của Manasseh. Tập hợp dân chúng Judaea trong Đền Thờ, Josiah đứng cạnh biểu tượng tôtem (vật tổ), cột hoàng gia, và thông báo giao ước của mình với Chúa Trời độc nhất để gìn giữ Luật. Nhà vua giao phó cho các học giả kể lại lịch sử cổ đại của người Judaea, kết nối những Tổ phụ theo truyền thuyết, các vua thánh David và Solomon và chuyện về Jerusalem thành một quá khứ duy nhất để làm sáng tỏ hiện tại. Đây là một bước tiến khác về hướng sáng tạo Kinh thánh. Thật ra những luật này được lùi lại niên đại và gán cho Moses, nhưng chân dung kinh thánh của Đền Thờ Solomon chắc chắn phản ánh Jerusalem có thực nhưng sau này của Josiah, David mới. Từ đó trở đi núi thánh được gọi bằng cái tên không thể nào đơn giản hơn ha-Makom trong tiếng Do Thái nghĩa là: Chỗ Đó.

Nhà vua cho thiêu huỷ tượng thần trong Thung lũng Kidron, và trục xuất những tên mãi dâm nam ra khỏi Đền Thánh; ông đập nát lò nướng trẻ em ở Thung lũng Địa ngục và giết các thầy tu thờ tượng thần, nghiền xương họ làm áng thờ. Cuộc cách mạng của Josiah nghe có bạo lực, điên cuồng và thuần khiết. Sau đó ông tổ chức lễ Vượt Qua để ăn mừng. ‘Và trước ngài, không có ông vua nào giống như ngài cả.’ Nhưng ông đang chơi một trò chơi nguy hiểm. Khi Necho, Pharaoh Ai Cập, tiến quân lên bờ biển, Josiah, sợ mình sẽ phải hoán đổi ách thống trị của Assyria bằng ách thống trị của Ai Cập, vội vàng ngăn chặn Necho. Năm 609 TCN, vị Pharaoh đè bẹp quân Judaea và giết chết Josiah tại Megiddo. Josiah đã thất bại, nhưng cách cai trị có tính lạc quan và mới mẻ của ông có ảnh hưởng hơn bất kỳ vị vua nào giữa thời David và Jesus. Giấc mơ độc lập, tuy nhiên, kết thúc tại Megiddo, trở thành một định nghĩa rất hợp của thảm họa: Armageddon (trận đánh cuối cùng gây ra tận thế).

Pharaoh tiến vào Jerusalem và đặt em của Jehoiakim lên ngôi vua xứ Judah. Nhưng Ai Cập thất bại trong việc ngăn chặn một đế chế mới nổi lên ở Cận Đông. Năm 605, con trai của vua xứ Babylon, Nebuchadnezzar, đánh tan quân Ai Cập tại Carchemish. Assyria biến mất; Babylon thừa kế Judah. Nhưng vào năm 597, Vua Jehoilakim nhận thấy có cơ hội giải phóng Judah giữa tình trạng mất ổn định này, nên kêu gọi toàn xứ ăn chay để tranh thủ sự phù trợ của Chúa Trời. Cố vấn và nhà tiên tri của ông Jeremiah cảnh cáo, trong Sách Jeremiah thứ nhất, rằng Chúa Trời sẽ hủy diệt Jerusalem. Vua Jehoiakim công khai đốt những bài viết của Jeremiah. Ông kết đồng minh giữa Judah và Ai Cập, nhưng họ không đến tiếp viện ông khi nhà chinh phục mới tiến vào Jerusalem.

 

NEBUCHADNEZZAR

‘Vào tháng thứ bảy năm Kislev,’ biên niên sử của Nebuchadnezzar để lại trên một bảng khắc đất sét, tuyên bố rằng ‘vua Babylon tiến vào đất Hatti Syria, bao vây Thành phố xứ Judah (Jerusalem) và vào ngày thứ hai của tháng Adar (16/3/697) chiếm được thành phố và bắt được nhà vua.’ Nebuchadnezzar cướp bóc Đền Thánh và đày vua và 10,000 quí tộc, thợ thủ công và thanh niên đến Babylon. Ở đó Jehoilakim tham gia triều chính của người chinh phục.

Nebuchadnezzar là con trai của người lật đổ nhưng ông là một nhà kiến tạo đế chế năng động, tự xem mình là quan kinh lược thế tục của vị thần hộ mạng Bel-Marduk. Kế thừa phong cách của Assyria là đặt ách áp bức tàn bạo lên đế chế, ông tự ví mình là kiểu mẫu toàn bích của lòng mộ đạo và đức hạnh. Ở trong nước ‘người mạnh quen hiếp đáp kẻ yếu’, nhưng Nebuchadnezzar ‘ngày đêm không nghỉ mà cùng với các cố vấn tìm cách không ngừng ban bố công lý. Những nạn nhân người Judaea của ông có thể đã không nhận ra ‘Vị Vua của Công lý’ tự phong này.

Những người bị lưu đày từ Judah bỗng thấy mình ở trong một thành phố khiến Zion trông chẳng khác một ngôi làng. Trong khi ở Jerusalem chỉ vỏn vẹn có vài ngàn dân, thì Babylon tự hào có đến một phần tư triệu dân sống trong một kinh thành tráng lệ và hưởng thụ đến nỗi nữ thần tình yêu và chiến tranh Ishtar được cho là thường rón rén đi qua đường phố, hôn những người sủng ái trong các quán rượu và ngõ vắng.

Nebuchadnezzar đặt dấu ấn lên kinh thành Babylon bằng khiếu thẩm mỹ của mình: các công trình hoành tráng được nhuộm màu ông ưa chuộng, xanh da trời thần thánh, phản chiếu trên những dòng kênh của con sông Euphrates. Bốn tòa tháp của Cổng Ishtar được lát bằng gạch xanh bóng loáng, trang trí hình bò mộng và rồng tô màu vàng và vàng thổ, dẫn vào đại lộ chiến thắng của kinh thành, Đường Diễn Hành. Cung điện ông, theo lời ông là một ‘công trình để ngưỡng mộ, một nơi yên nghỉ sáng loáng, nơi cư ngụ của bậc đế vương’, được trang trí hình sư tử hùng vĩ. Các Vườn Treo tô điểm cung điện mùa hè. Vinh danh thần hộ mạng Marduk của Babylon, Nebuchadnezzar nâng cao một tòa tháp bậc thang cao 7 tầng, bên trên cùng là chóp bằng phẳng: Nền tảng của Trời và Đất của ông đúng là Tháp Babel thực sự, nhiều ngôn ngữ nói ở đó phản ánh tầm vóc kinh đô quốc tế của toàn vùng Cận Đông.

Ở Jerusalem, Nebuchadnezzar đặt chú của vị vua bị lưu đày, Zedekiah, lên ngôi. Vào năm 594, Zedekiah đến thăm Babylon để tỏ lòng thần phục

Nebuchadnezzar, nhưng khi trở về ông phát động một cuộc khởi nghĩa, vì bị ám ảnh bởi nhà tiên tri Jeremiah, người đã từng cảnh báo rằng quân Babylone sẽ hủy diệt thành phố. Nebuchadnezzar hành quân về nam. Zedekiah cầu cứu Ai Cập, và chỉ được tiếp viên một đạo quân teo tóp và bị tiêu diệt ngay lập tức. Bên trong Jerusalem, Jeremiah, chứng kiến cảnh hoảng loạn và hoang tưởng, liền cố trốn thoát như bị giữ lại ở cổng thành. Nhà vua, đắn đo không biết hỏi ý ông hay hành hình ông vì tội phản trắc, liền giam ông vào ngục tối bên dưới cung điện. Trong 18 tháng, Nebuchadnezzar tàn phá Judah, xử Jerusalem sau cùng.

Năm 587, Nebuchadnezzar bao quanh Jerusalem bằng đồn lũy và một tường vây hãm. ‘Nạn đói’, Jeremiah viết, ‘hoành hành thành phố’. Những đứa trẻ ‘xỉu vì đói trên mọi đường phố’, người ta râm ran về chuyện ăn thịt người: ‘con gái của dân tộc tôi đã trở nên tàn ác... Bàn tay của những phụ nữ đáng thương đã luộc các con của mình: chúng là thịt của họ trong cơn hủy diệt’. Thậm chí người giàu cũng sớm lâm vào cảnh tuyệt vọng, tác giả của Ai ca viết: ‘những người được nuôi nấng trong nhung lụa giờ lăn lóc vào đống phân gia súc để tìm thức ăn. Dân chúng lang thang khắp đường phố, choáng váng, ‘như người mù’. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy một ống cống có niên đại thời vây hãm: người Judaea thường sống bằng đậu lăng, lúa mì và lúa mạch, nhưng phân tích chất thải trong ống cống cho thấy dân chúng sống bằng cây cỏ, bị bệnh giun đũa và giun sán.

Vào ngày 9 của tháng Ab Do Thái, tức tháng 8 năm 586, sau 18 tháng, Nebuchadnezzar xâm nhập vào thành phố, phóng hỏa nó, ắt hẳn bằng bó đuốc hoặc tên lửa (nhiều mũi tên được phát hiện trong Khu Do Thái ngày nay trong một lớp muội, tro và than). Ngọn lửa đã thiêu rụi nhà cũng nung nóng các con triện bằng đất sét của cơ quan hành chính, cứng đến nỗi đến hôm nay chúng vẫn còn bên trong ngôi nhà cháy rụi. Jerusalem chịu đựng nạn cướp bóc ghê gớm của những thành phố thất thủ. Những ai bị giết còn may mắn hơn những kẻ phải chết đói: ‘Da chúng tôi đen như lò than vì đói kém. Họ cưỡng hiếp phụ nữ ở Zion; các hoàng thân bị chính tay họ treo cổ.’ Dân Edom từ phương nam tràn vào thành phố để cướp bóc, tiệc tùng và hả hê vì cảnh đổ nát: ‘Hãy liên hoan và vui sướng lên, ôi con gái của Edom... nàng sẽ say sưa và tự mình khoả thân.’ Người Edom, theo Thánh thi 137, cổ vũ người Babylon ‘hãy san bằng, san bằng cho đến tận nền móng... Sung sướng cho ai nắm lấy bé con và ném vào đá.’ Quân Babylon tàn phá Jerusalem trong khi, bên dưới cung điện hoàng gia, Jeremiah sống sót trong ngục tù.

 

NEBUCHADNEZZAR: NỔI GỚM GHIẾC CỦA SỰ TÀN PHÁ

Zedekia xông ra khỏi cổng gần đến Hồ Siloam, định đi về Jericho thì bị quân Babylon bắt và mang nộp trước

Nebuchadnezzar ‘tại đó ông bị kêu án. Họ giết các con trai của

Zedekiah trước mắt ông. Rồi họ móc mắt ông, xích ông bằng cùm đồng rồi đưa ông về Babylon.’ Quân Babylon ắt hẳn đã tìm được Jeremiah dưới hầm giam của vua vì họ dẫn ông đến trước mặt Nebuchadnezzar. Sau khi bàn luận với ông, nhà chinh phục phong ông quyền chỉ huy đội phòng vệ đế chế, Nebuzaradan, có nhiệm vụ coi sóc Jerusalem. Nebuchadnezzar đày 20,000 người Judaea đến Babylon, mặc dù Jeremiah nói ông giữ lại nhiều người nghèo.

Một tháng sau Nebuchadnezzar ra lệnh tướng lĩnh mình xóa sổ thành phố. Nebuzaradan ‘đốt Nhà Chúa, cung điện hoàng gia và tất cả nhà cửa ở Jerusalem’ và ‘đập bỏ tường thành’. Đền Thờ bị hủy diệt, vàng bạc bị cướp sạch và Hòm Giao ước biến mất mãi mãi. ‘Họ đã phóng hỏa Đền Thờ của ngươi,’ Thánh thi 74 kể lại. Các thầy tu bị giết trước mặt Nebuchadnezzar. Giống như Titus vào 70 SCN, Đền Thờ và cung điện ắt hẳn đã đổ xuống thung lũng bên dưới: ‘Vàng đã trở nên mờ mịt biết bao! Vàng đẹp nhất đã thay đổi biết bao! Đá của Đền bị đổ đống trên mọi đường phố.’

Đường phố vắng tanh: ‘Thành phố trước kia tấp nập giờ hoang vắng biết bao.’ Người giàu có bị bần cùng hoá: ‘người trước đây ăn tiêu cầu kỳ nay vắng bóng trên phố xá’. Cáo phóng chạy trên khắp vùng đồi núi cằn cỗi của Zion. Khúc Ai ca của người Judaea than khóc cho ‘Jerusalem ra máu... như một phụ nữ có kinh nguyệt’: ‘Nàng xót xa khóc suốt đêm và đôi má đầm đìa nước mắt: trong số những người tình, không ai đến vỗ về nàng.’

Sự hủy diệt Đền Thờ hình như không chỉ là cái chết của một thành phố mà là cái chết của cả một dân tộc. ‘Khóc than cho tập tục của Zion vì không còn ai đến dự những buổi lễ truyền thống: mọi cổng đền đều đìu hiu: các giáo sĩ thở dài... Và tất cả vẻ đẹp đều bỏ đi khỏi các cô con gái của Zion. Vương miện đã rơi xuống đầu chúng ta.’ Việc này dường như ngày tận thế, hoặc như Sách Daniel giải thích, ‘nỗi gớm ghiếc của hành động tàn phá’. Người Judaea ắt hẳn sẽ biến mất như những dân tộc khác khi thần linh của họ đã ruồng bỏ họ. Nhưng người Do Thái phần nào đã hóa giải thảm họa này thành một trải nghiệm phong phú càng làm cho tính thần thánh của Jerusalem tăng lên gấp đôi và tạo ra một nguyên mẫu cho Ngày Phán Xét. Đối với cả ba tôn giáo, địa ngục này khiến Jerusalem trở thành nơi tập hợp của Ngày Cuối Cùng và nơi khởi hành đến vương quốc thần thánh. Đây là ngày Apocalypse – dựa trên từ Hy Lạp chỉ ‘sự khải huyền’ – mà Jesus đã tiên đoán. Đối với người Cơ đốc nó trở nên một sự mong đợi vĩnh viễn và mặc định, trong khi Muhammad sẽ xem sự hủy diệt của Nebuchadnezzar là hành động Chúa rút lại ân sủng khỏi người Do Thái, dọn đường cho sự mặc khải tôn giáo của ông ta.

Trong chốn lưu đày ở Babylon, một số người Judaea gìn giữ lòng mộ đạo đối với Chúa và Zion. Đồng thời như các bài thơ của Homer đang trở nên quốc hùng ca của Hy Lạp, người Judaea bắt đầu tự xác định mình bằng những văn bản kinh thánh và thành phố giờ đã xa xôi: ‘Bên bờ sông Babylon, chúng tôi ngồi xuống, và chúng tôi khóc vì nhớ thương Zion. Chúng tôi treo chiếc đàn hạc trên cành liễu giữa nỗi buồn nhớ.’ Thậm chí người Babylon, theo Thánh thi 137, cũng trân trọng những bài hát của người lưu vong Judaea: ‘Bởi vì ở đó những người mang chúng tôi đến đây như những tù nhân yêu cầu chúng tôi hát một bài; và những người đã làm chúng tôi mòn mỏi đòi chúng tôi vui cười, nói, “Hát cho chúng tôi một bài hát Zion đi”. Làm sao chúng tôi có thể hát lên bài hát của Chúa trên một miền đất xa lạ?’

Vậy mà ở đó Kinh thánh thành hình. Trong khi những người Jerusalem trẻ tuổi như Daniel được giáo dục ở chốn hoàng gia và những người bị lưu đày thế tục hơn trở thành người Babylon, những người Judaea phát triển những giáo luật để khẳng định mình còn khác biệt và đặc biệt – họ tôn kính ngày lễ Sabbath (ngày lễ của người Do Thái từ chiều thứ 6 đến chiều thứ 7), họ cắt bao qui đầu cho trẻ em, theo đúng những luật chay tịnh, đặt tên Do Thái – vì sự sụp đổ của Jerusalem đã chứng tỏ những gì sẽ xảy ra khi họ không tôn trong luật điều Thượng đế. Ra khỏi vùng đất Judah, người Judaea đang trở thành người Do Thái.

Giữa 586 và 400 TCN, những tác giả bí ẩn viết nên Kinh thánh, thư ký và giáo sĩ sống ở Babylon, chắt lọc và đối chiếu Ngũ Kinh của Moses, được biết dưới tên Kinh Torah trong tiếng Hebrew, phối hợp với những truyền thuyết khác nhau về Chúa Trời, Yahweh và El. Những người viết Đệ Nhị Luật kể lại lịch sử và đúc kết giáo luật để chứng tỏ sự yếu kém của các nhà vua và sự siêu việt của Chúa Trời. Và họ kết hợp những câu chuyện lấy cảm hứng từ Babylon như Trận Đại Hồng Thủy, rất giống với Trường Ca Gilgamesh, nguồn cội của Abraham ở Ur gần đó và tất nhiên Tháp Babel. Sách Daniel được viết qua một thời gian dài: một số phần chắc chắn được viết trong thời kỳ đầu của Xuất Hành, những phần khác soạn về sau này. Chúng ta không biết có nhân vật nào tên Daniel hoặc đây là tên của một tập thể. Nhưng sách cũng đầy những lầm lẫn về lịch sử khiến các nhà khảo cổ phải làm sáng tỏ nhờ sự trợ giúp từ chứng cứ tìm được ở Babylon trong các cuộc khai quật vào thế kỷ 19.

 

Người lưu vong làm Babylon bất tử như ‘bà mẹ của những ả giang hồ và nỗi ghê tởm trần thế’, vậy mà đế chế vẫn hưng thịnh và kẻ thù truyền kiếp của họ, Nebuchadnezzar, cai trị trong hơn 40 năm. Tuy nhiên, Daniel tuyên bố nhà vua sẽ hóa điên : ‘ông sẽ bị dân chúng đuổi đi ăn cỏ như súc vật, móng tay ông ta sẽ mọc dài như móng vuốt chim – một hình phạt thích đáng cho những tội ác của mình (và một niềm cảm hứng tuyệt vời cho những bức họa của William Blake). Nếu việc trả thù còn dở dang, thì người lưu đày ít nhất có thể ngạc nhiên thích thú trước những trớ trêu của cuộc sống ở Babylon: con trai của Nebuchadnezzar là Amel-Marduk khiến ông bất mãn đến nỗi ông ném anh ta vào ngục thất, và ở đó anh ta có dịp quen biết với Jehoiachin, Vua xứ Judah.

 

YẾN TIỆC CỦA BELSHAZZAR

Khi Amel-Marduk trở thành vua xứ Babylon, ông trả tự do cho người bạn hoàng gia Judaea quen trong ngục thất. Nhưng vào năm 556 triều đại bi lật đổ: vua mới, Nabonidus, tẩy chay thần Bel-Marduk của Babylon, mà thay bằng Sin thần mặt trăng và lập dị rời bỏ thành phố để sống ở Teima, rất xa trong vùng sa mạc Ả Rập. Nabonidus bị mắc phải một chứng bệnh bí mật, và ắt hẳn ông (chứ không phải Nebuchadnezzar, như Daniel đã tuyên bố) là người hóa điên và ‘ăn cỏ như gia súc’.

Trong lúc vua vắng mặt, nhiếp chính, con trai của ông Belshazzar, theo Kinh thánh cho biết, tổ chức buổi yến tiệc phạm thánh trong đó ông sử dụng ‘các cốc vàng và bạc lấy từ Đền Thờ ở Jerusalem’ rồi thình lình ông nhìn thấy trên tường xuất hiện dòng chữ của Chúa Trời: ‘MENE MENE TEKEL UPHARSIN’. Giải mã, đây là những số đo cảnh báo rằng thời gian còn lại của đế chế chỉ được tính bằng ngày.

Belshazzar run sợ. Dành cho Tên Điếm ở Babylon, ‘chữ viết trên bức tường.’

Năm 539 TCN, quân Ba Tư tiến vào Babylon. Lịch sử Do Thái đầy dẫy chuyện giải cứu nhiệm mầu. Nhưng lần này là xúc động nhất. Sau 47 năm ‘ngồi bên bờ sông Babylon’, quyết định của một con người có đức hiếu sinh như quyết định của David, đã phục sinh Jerusalem.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.