Jerusalem Những Thăng Trầm Lịch Sử

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 26
Chương 26

❊ ❊ ❊

SALADIN: TRẬN ĐÁNH

Saladin không ngủ, suốt đêm mãi lo tổ chức lực lượng và khí tài, bố trí hai cánh quân vào vị trí. Ông đã bao vây người Frank. Vị Sultan của Ai Cập và Syria quyết tâm không để vuột mất cơ hội. Quân đội quốc tế của ông, với các đạo quân người Kurd, Ả Rập, Thổ, Armenia và Sudan, tạo ra một cảnh tượng đáng sợ, được thư ký của Saladin là Imad al-Din hào hứng ghi lại:

Một đại dương cuồn cuộn các kỵ mã tấn công ngựa hí vang, gươm và áo giáp, giáo đầu bịt sắt hình ngôi sao, và kiếm hình lưỡi liềm, dao xứ Yemen, cờ vàng, cờ hiệu đỏ như màu cò chân ngỗng và những áo giáp khoen sắt lấp lánh như nước hồ, những thanh gươm trắng sáng như suối nước, cung gắn lông xanh như chim, mũ sắt lập loè trên những chiến mã phóng như bay.

Lúc bình minh, Saladin, chỉ huy đạo trung quân trên mình ngựa, cùng với con trai trẻ Afdal, và được bảo vệ như luôn luôn bởi các cận vệ mamluk trung thành (chiến binh-nô lệ) người Thổ, khởi đầu cuộc tấn công, bắn tên như mưa vào quân Frank và chỉ huy cuộc đột kích của các hiệp sĩ và cung thủ trên lưng ngựa để dồn quân địch vào chốn nguy khốn. Đối với Guy, mọi sự đều tùy thuộc vào việc duy trì được sự che chắn của bộ binh chung quanh hiệp sĩ trên lưng ngựa; đối với Saladin, mọi sự tùy thuộc vào việc tách họ ra.

Khi Giám mục Acre giơ cao Thập giá Thực trước mặt nhà vua, binh sĩ của Guy đẩy lùi được đợt tấn công thứ nhất, nhưng chẳng bao lâu quân Frank chết khát phải chạy lên chỗ cao, khiến các hiệp sĩ không được che chắn. Các hiệp sĩ của Guy phát động mũi tấn công. Khi Raymond xứ Tripoli và Lãnh chúa xứ Ibelin phi ngựa về phía các lực lượng của vị sultan, Saladin chỉ cần ra lệnh cho người cháu mình, đang chỉ huy cánh phải, mở rộng hàng ngũ cho Thập Tự quân phi ngựa qua, rồi khép lại đội hình, khép chặt vòng vây. Các cung thủ Hồi, phần lớn gốc Armenia, bắn ngã các chiến mã địch với trận mây tên như đàn châu chấu, các hiệp sĩ không ngựa như sư tử hóa thành nai tơ. Vào ngày nóng như thiêu đốt đó, các binh lính của Guy, ngã ngựa và lâm vào thế nguy hiểm không được che chắn, môi phù lên vì khát, bị lửa bao vây, mất dấu vị chỉ huy, chỉ còn biết chết như rạ hoặc tháo chạy hoặc đầu hàng.

Ông rút lui đến vùng đồi Horns và hạ trại, dựng lều đỏ. Các hiệp sĩ bao quanh ông tử thủ. ‘Khi vua Frank đã rút quân lên đỉnh đồi,’ con trai Afdal của Saladin nhớ lại, ‘các hiệp sĩ của ông mở cuộc đột kích anh dũng và đẩy lùi người Hồi trở lại phía cha tôi.’ Trong một lúc, dường như lòng quả cảm của quân Frank đã đe đọa ngay cả Saladin. Afdal bắt gặp nổi khốn đốn của cha: ‘Ông biến sắc mặt, vuốt râu rồi thúc ngựa tiến lên hô vang, “Hãy cho bọn quỉ biết tay!”‘ Nghe thấy thế quân Hồi lại xuất kích, phá vỡ thế trận Thập Tự quân. ‘buộc họ phải rút lên đồi. Khi tôi nhìn quân Frank tháo chạy, tôi la lên khoái trá,”Chúng ta đã đánh đuổi được chúng!”‘ Nhưng ‘bị tra tấn vì khát’, họ ‘xuất kích lần nữa và đuổi quân chúng tôi trở lại đến chỗ cha tôi đứng’. Saladin tập kết quân mình rồi phá vỡ cuộc tấn công của Guy. ‘Chúng ta đã đánh đuổi được chúng rồi,’ Afdal lại hét lên lần nữa.

‘Im lặng,’ Saladin quát lại, chỉ về phía chiếc lều đỏ. ‘Chiếc lều đỏ còn đứng đó là chúng ta chưa đánh thắng!’ Ngay lúc đó, Afdal trông thấy chiếc lều đỏ lật nhào. Giám mục xứ Acre bị giết, Thập giá Thực bị lấy mất. Chung quanh chiếc lều đỏ, Guy và các hiệp sĩ kiệt sức đến nỗi họ phải nằm bất lực trên mặt đất trong chiếc áo giáp. ‘Rồi cha tôi xuống ngựa,’ Afdal nói, ‘và cúi đầu sát đất, cảm tạ Thượng Đế, nước mắt vui sướng.’

Saladin thiết triều trong căn lều lộng lẫy của mình, vẫn còn đang được dựng lên khi các amir của ông giao nộp các tù binh. Khi lều đã dựng xong, ông tiếp Vua Jerusalem và Reynald xứ Kerak. Guy quá khô khốc đến nỗi Saladin cho ông một ly nước quả ướp lạnh bằng tuyết Núi Hermon. Nhà vua đỡ khát rồi đưa ly mình cho Reynald, nhưng Saladin đã ngăn lại: ‘Ngài là người muốn cho y uống. Ta không muốn cho y uống.’ Reynald không nhận được lòng hiếu khách người Ả Rập.

Saladin phi ngựa ra ngoài để chúc mừng các binh sĩ của mình và thanh sát trận địa, với ‘tứ chi của những binh sĩ địch đã ngã xuống, trần truồng trên chiến trường, từng mảnh thi thể vương vãi, bị cắt xén và đứt lìa, phanh thây, mắt bị móc, ruột phèo bị xổ ra, thi thể bị cắt làm hai,’ cảnh chém giết của chiến tranh trung cổ. Khi trở lại lều, ông cho gọi Guy và Reynald. Nhà vua được giữ ở tiền phòng còn Reynald được đưa vào: ‘Thượng đế đã ban cho ta thắng lợi trước nhà ngươi,’ Saladin nói. ‘Ngươi bẻ gãy lời hứa bao nhiêu lần rồi?’

‘Đây là cách các ông hoàng luôn xử sự,’ Reynald thách thức đáp lại.

Saladin ra điều kiện ông cải đạo Hồi. Reynald từ chối một cách khinh thị, khiến Saladin chồm người lên, rút thanh mã tấu chém đứt lìa cánh tay ông đến tận vai. Binh sĩ kết liễu mạng ông. Thi hài không đầu của Reynald được kéo ra ngoài qua mặt Guy và ném ra ngoài cửa lều.

Vua Jerusalem được dẫn vào trong. ‘Vua không có thói quen giết vua,’ Saladin nói, ‘nhưng con người này đã vượt quá giới hạn vì thế y phải chịu hậu quả xứng đáng.’

Vào buổi sáng, Saladin mua tất cả 200 Hiệp sĩ Đền Thánh và Cứu tế từ các chỉ huy của mình với giá 50 dinar mỗi người. Các chiến binh Cơ đốc được đề nghị cải sang đạo Hồi, nhưng chỉ có ít người nhận lời. Saladin cho gọi những người tình nguyện từ các học giả Hồi giáo Sufi và ra lệnh cho họ tàn sát tất cả hiệp sĩ. Hầu hết đều xin nhận đặc quyền, mặc dù có một số chỉ định người thay thế vì sợ bị chê cười nếu làm hỏng việc. Từ trên bục Saladin theo dõi việc làm của các đồ tể nghiệp dư và vụng về giờ đang hủy diệt những gì còn lại của sức mạnh Jerusalem. Các thi thể vẫn bị bỏ lại ngay tại nơi họ ngã xuống. Cho đến một năm sau đó, chiến địa vẫn còn bị che phủ bởi xương cốt của họ.

Saladin gửi Vua Jerusalem đến Damascus cùng với cây Thập Giá Thực, bị treo một cách bất lực trên một cây giáo, cùng với các tù binh đông đến nỗi, theo lời một tùy tùng của Saladin, ‘mỗi người phải nắm giữ dây thừng kéo đi 30 tù binh’. Các tù binh Frank có giá 3 dinar và có người được mua bằng giá một đôi giày.

Vị sultan sau đó tiến lên chinh phục phần còn lại của vùng Outremer, đánh chiếm các thành phố ven biển Sidon, Jaffa, Acre và Ashkelon nhưng thất bại khi chiếm Tyre khi chiến binh dũng cảm Conrad, Hầu tước xứ Montferrat (mà anh ông vừa kết hôn với Sybilla) đến đúng lúc giải cứu cảng pháo đài chiến lược này. Thay vào đó, vị tể tướng Ai Cập của Saladin, cũng là em ông, khuyên ông điều binh cấp tốc về Jerusalem tránh trường hợp ông ngã bệnh trước khi lấy được Thành phố Thánh: ‘Nếu anh mất vì bệnh đau bụng tối nay, Jerusalem sẽ vĩnh viễn ở trong tay người Frank.’

 

CUỘC VÂY HÃM CỦA SALADIN: CHỊU TÀN SÁT HOẶC ĐẦU HÀNG?

Vào chủ nhật 20/9/1187, Saladin bao vây Jerusalem, truớc tiên hạ trại ở phía tây bên ngoài Tháp David rồi chuyển về phía đông-bắc, nơi Goldftey có lần đã tràn vào tường thành.

Thành phố đông nghẹt người tị nạn nhưng chỉ còn hai hiệp sĩ chiến đấu dưới sự chỉ huy của giáo trưởng và hai hoàng hậu của Jerusalem, Sibylla và vợ góa của Vua Amaury Maria, giờ đã kết hôn với Lãnh chúa xứ Ibelin. Heraclius chật vật mới kiếm được 50 người phòng thủ tường thành.

May mắn thay Lãnh chúa Ibelin vừa đến, với phép thông hành của Saladin, để giải cứu vợ mình Hoàng hậu Maria và con cái của họ. Lãnh chúa đã hứa với Saladin là mình sẽ không tham chiến, nhưng giờ thì người Jerusalem van xin ông hãy chỉ huy. Lãnh chúa không thể từ chối và viết thư như giữa một hiệp sĩ với một hiệp sĩ, xin lỗi Saladin, và được tha thứ cho sự bội ước này. Vị sultan thậm chí còn sắp xếp một đoàn hộ tống cho Maria và con cái ra khỏi chiến trường một cách an lành.

Cấp cho họ y phục có cẩn đá quí và đãi họ tiệc tùng, vị sultan đặt đứa bé lên đùi mình và ông khóc, biết rằng đây là lần cuối cùng chúng nhìn thấy Jerusalem. ‘Những vật chất của thế gian này chỉ cho chúng ta vay mượn mà thôi,’ ông trầm ngâm.

Lãnh chúa phong hiệp sĩ cho mỗi thanh niên hoàng tộc trên 16 tuổi và 30 nhà trưởng giả, trang bị vũ khí cho mọi người, phát động những trận phá vòng vây. Khi Saladin bất đầu tấn công, các bà cầu nguyện ở Mộ Thánh, cạo đầu để sám hối, còn các thầy tu và nữ tu diễu hành chân trần dưới chân tường thành. Vào ngày 29/9, các công bình của Saladin phá hỏng tường thành. Quân Frank sẵn sàng liều chết như những người tử đạo, nhưng Heraclius làm họ thối chí khi nói rằng như vậy chỉ khiến các phụ nữ bị làm nô lệ tình dục. Những người Cơ đốc Syria, vốn không ưa người Latinh, đồng y mở cổng thành cho Saladin. Vào ngày 30, khi các lực lượng Hồi tấn công thành phố, Lãnh chúa đến gặp Saladin để nghị hòa. Cờ của Saladin thậm chí đã được kéo lên tường thành, nhưng binh lính ông bị đẩy lui.

‘Chúng tôi sẽ giải quyết với các ngươi như các người đã từng giải quyết với dân chúng Jerusalem (vào năm 1099) bằng hành động sát nhân và nỗ lệ hóa và những trò dã man khác,’ Saladin bảo với Lãnh chúa

‘Thưa Sultan,’ Lãnh chúa trả lời, ‘có nhiều người như chúng tôi trong thành phố. Nếu chúng tôi thấy cái chết là không tránh khỏi, chúng tôi sẽ giết vợ con chúng tôi, và giật sập Nhà Thờ Vòm Đá và Thánh đường al-Aqsa.’

Nghe thế, Saladin đồng ý thương thảo. Ông ưu ái giải phóng Hoảng hậu Sibylla và ngay cả người vợ goá của Reynald, nhưng toàn bộ người Jerusalem phải chịu trả tiền chuộc mạng hoặc bị bắt làm nô lệ.

 

SALADIN: CON NGƯỜI

Saladin không hề là quí ông hoàn toàn cấp tiến, xử sự cao thượng hơn những người Frank tàn ác như các tác giả Tây phương thường thể hiện trong thế kỷ 19. Nhưng theo chuẩn mực của những nhà xây dựng đế chế thời trung cổ ông cũng xứng đáng nhận được danh thơm đó. Khi ông khuyên con về cách thức mình đã tạo dựng đế chế, ông bảo con: ‘Ta chỉ đạt được những gì mình có nhờ vỗ về muôn dân. Không căm thù bất cứ ai vì Tử thần không chừa ai cả. Hãy chăm lo mối quan hệ của con với nhân dân.’ Saladin trông không lấy gì ấn tượng và thiếu tính khoa trương. Khi áo ông bị vấy lấm lem bởi một triều thần bất cẩn phi ngựa qua một vũng bùn ở Jerusalem, Saladin chỉ bật cười to. Ông không hề quên rằng ngả rẽ của số phận đã mang đến vinh quang như thế nào cho mình cũng sẽ dễ dàng làm ngược lại. Trong khi sự trỗi dậy của ông sinh ra trong biển máu, bản thân ông không ưa bạo lực. Ông khuyên người con yêu quí của mình: ‘Cha cảnh báo với con đừng dấy máu, đắm chim trong đó và sau đó sẽ nghiện ngập nó, vì máu không bao giờ ngủ.’ Khi các tên cướp phá người Hồi bắt đi một đứa con của một phụ nữ Frank, bà vượt chiến tuyến để cầu cứu với Saladin. Ông xúc động đến rơm rơm nước mắt, ra lệnh ngay lập tức phải tìm kiếm và trả đứa con về cho người mẹ. Trong một trường hợp khác, khi một trong các con ông xin được phép giết một số tù binh người Frank, ông quở trách và từ chối, sợ rằng anh ta sẽ đâm ra nghiện giết người.

Yusuf ibn Ayyub, con trai của một người lính đánh thuê xứ Kurd, ra đời vào năm 1138 tại Tỉkit (thuộc Iraq ngày nay – Saddam Hussein cũng sinh ra tại đấy). Cha và chú ông, Shirkuh, phục vụ dưới trướng Zangi và con trai ông ta Nur al-Din. Chàng trai lớn lên tại Damascus, hưởng thụ cuộc sống với rượu vang, bài bạc và gái gú. Ông đã từng chơi polo ban đêm dưới ánh nến cùng với Nur al-Din, người phong chức cảnh sát trưởng Damascus cho ông. Ông học tập Kinh Koran nhưng cũng nghiên cứu về phả hệ ngựa nòi. Trong trận chiến giành lấy Ai Cập, Nur al-Din phái Shirkuh đi và ông này dẫn theo đứa cháu của mình, Yusuf, giờ đã 26 tuổi.

Họ chỉ dẫn theo một đạo quân 2,000 kỵ mã người nước ngoài và khắc phục được thế bất lợi tuyệt vọng, chú và cháu xoay sở lấy được Ai Cập từ các quân đoàn của nhà Fatimid và Jerusalem. Vào tháng 1 năm 1169, Yusuf, giờ có tên Saladin,[1] ám sát vị tể tướng để chú mình lên kế vị. Nhưng chú Shirkuh mất vì nhồi máu cơ tim. Ở tuổi 31, Saladin trở thành vị tể tướng cuối cùng của triều đại Fatimid. Năm 1071, khi vị kha-lip cuối cùng chết, Saladin phế bỏ triều kha-lip dòng Shiite ở Ai Cập (từ đó duy trì dòng Sunni), và tàn sát lực lượng vệ binh hùng mạnh người Sudan ở Cairo, trong khi bổ sung Mecca, Medina, Tunisia và Yemen vào lãnh địa đang lớn mạnh của mình.

Khi Nur al-Din mất vào năm 1174, Saladin tiến ra bắc và chiếm Damascus, dần dần bành trướng đế chế để ôm trọn hầu hết Iraq và Syria cũng như Ai Cập, nhưng mối liên kết giữa hai lãnh thổ mà ngày nay là Jordan một phần bị Thập Tự quân kiểm soát. Chiến tranh với Jerusalem không chỉ là vấn đề tôn giáo, mà còn là chính trị của đế chế. Saladin thích Damascus, coi Ai Cập như con gà đẻ trứng vàng: ‘Ai Cập là con điếm,’ ông nói đùa, ‘lúc nào cũng muốn níu kéo tôi ra khỏi người vợ trung thành (Damascus).

Image

Nhẫn tâm khi cần thiết, nhẫn nại và bao dung khi có thể, Saladin tạo ra một đế chế ôm trọn Syria và Ai Cập, hủy diệt quân đội Jerusalem và chiếm thành phố

 

Saladin không phải là nhà độc tài [2]. Đế chế ông là mớ vá víu nhữngamirtham lam, các ông hoàng con cậy thế và các anh em đầy tham vọng, con trai và cháu mà ông phân phát các thái ấp để đổi lấy lòng trung thành, thuế má và chiến binh. Ông lúc nào cũng cạn tiền và thiếu binh lính. Chỉ nhờ cá tính thu hút của ông đã gắn kết họ lại với nhau. Thường bị các Thập Tự quân đánh bại, ông không phải là một vị tướng nổi bật, nhưng tránh xa bọn đàn bà và những lạc thú, ông là người rất kiên cường. Ông bỏ gần hết thời gian trong cuộc đời để chiến đấu với các dân Hồi khác nhưng giờ sứ mạng cá nhân ông, cuộc Thánh Chiến để giành lại Jerusalem, trở thành mục tiêu cai trị chính của ông. ‘Tôi đã từ bỏ những lạc thú trần gian,’ ông nói. ‘Tôi đã hưởng thụ chúng đầy đủ.’

Có lần khi đi tản bộ trên bờ biển giữa hai trận đánh, ông bảo với bộ trưởng Ibn Shaddad, ‘Ta có ý định là khi Thượng Đế đã cho phép ta chinh phục được phần còn lại của bờ biển, ta sẽ chia đất đai, soạn ra di chúc và giong buồm ra biển đi khắp nơi để trên mặt đất không còn có ai dám khước từ Thượng Đế – dù phải hi sinh vì mục tiêu ấy.’

Thời khắc hạnh phúc nhất của ông là về đêm ngồi xuống, vây quanh là quần thần, tướng sĩ và các hiền nhân, cùng tán gẫu trong lúc chờ đợi tin tức chiến trường. Ông khâm phục những học giả và thi sĩ, và triều đình sẽ khiếm khuyết nếu không có Usamah bin Munqidh, giờ đã tuổi 90. Ông nhớ lại ‘ngài đã nhắm đến tôi từ bên kia lãnh thổ. Nhờ thiện chí của ngài, tôi đã giật thoát ra khỏi nanh vuốt của vận rủi. Ngài đối xử với tôi như người thân trong gia đình.’ Saladin đi khập khiễng và thường bị bệnh, được 21 thầy thuốc săn sóc – 8 Hồi, 8 Do Thái (trong đó có Maimonides) và 5 Cơ đốc. Khi vị sultan đứng lên để cầu nguyện hoặc ra lệnh đốt nến, các quần thần nhận ra dấu hiệu cho biết buổi chiều đã trôi qua. Nếu chính bản thân đứng trên mọi phê phán, thì các người thân của ông theo chủ nghĩa khoái lạc và đầy tham vọng lại hoàn toàn trái ngược.

 

GÁI NHẢY VÀ THUỐC KÍCH DỤC: TRIỀU ĐÌNH SALADIN

Các ông hoàng trẻ, theo nhà văn châm biếm al-Wahrani, tổ chức các đêm khoái lạc tập thể tại đó chủ nhân bò trần truồng hú hét như chó và húp rượu vang từ rún các vũ nữ trong khi mạng nhện giăng đầy các thánh đường. Ở Damascus, người Ả Rập ta thán về nền cai trị của Saladin. Nhà văn

Ibn Unain chế giễu những viên chức Ai Cập của Saladin, đặc biệt các người Sudan da đen: ‘Nếu tôi da đen với cái đầu to như voi, cánh tay lực lưỡng và một dương vật rõ to, thì ngài sẽ quan tâm đến nhu cầu của tôi.’ Saladin cho ông đi đày vì tội bất kính.

Cháu của Saladin, Taki al-Din, là vị tướng xuất sắc nhất của ông nhưng cũng là người có nhiều tham vọng nhất và hư đốn nhất trong số các hoàng thân. Y ham mê nhục dục quá độ đến nỗi người sụt cân, mất hết năng lượng và sự cương cứng. Y tư vấn ngự y Do Thái Maimonides. Đối với cộng đồng của mình thì ông khuyên không được ăn uống và giao hợp quá mức, nhưng ông chữa khác đối với các bệnh nhân là hoàng thân. Thầy thuốc hoàng gia viết cho cháu của Saladin một tiểu luận đặc biệt có tựa đềVề Sự Giao Hợp,ra toa thuốc điều trị: điều độ, hạn chế rượu, phụ nữ không quá già không quá trẻ, một cốc tai gồm cây lưỡi bò và rượu vang và, cuối cùng, một ‘bí quyết gia truyền’ của Viagra thời trung cổ: mát-xa dương vật hoàng gia trong hai giờ trước khi giao hợp với dầu trộn với kiến có màu vàng nghệ. Maimonides bảo đảm là sự cương cứng sẽ kéo dài rất lâu sau khi hành sự.

Saladin yêu quí Taki, và ông thăng y đến chức tể tướng Ai Cập, nhưng rồi phẫn nộ khi thấy cháu mình dự tính thành lập lãnh địa riêng. Ông bèn thuyên chuyển y đến cai trị những dải đất ở Iraq. Giờ thì người cháu này và hầu hết gia đình của Saladin đều có mặt để chứng kiến việc giải phóng Jerusalem.

 

THÀNH PHỐ CỦA SALADIN

Saladin nhìn người Cơ đốc Latinh rời Jerusalem ra đi mãi mãi: người Jerusalem phải trả số tiền chuộc 10 dinar mỗi đàn ông, 5 dinar mỗi đàn bà, 1 dinar mỗi đứa trẻ. Không ai được phép bỏ đi nếu không có giấy biên nhận đã nộp tiền, nhưng các viên chức của Saladin kiếm được bộn tiền nhờ hối lộ để người Cơ đốc được thả xuống từ tường thành trong những chiếc giỏ hoặc ngụy trang trốn ra khỏi thành. Saladin bản thân không quan tâm đến tiền bạc và, mặc dù ông nhận được 220,000 dinar, phần lớn tiền bạc đều đi đâu mất.

Hàng ngàn người Jerusalem không có khả năng chi trả. Họ bị bắt làm nô lệ hoặc vào hậu cung. Lãnh chúa trả 30,000 dinar để chuộc cho 7,000 dân nghèo Jerusalem, trong khi em trai của Saladin là Safadin xin cho 1,000 người không của cải được giải phóng. Saladin cho Lãnh chúa và Giáo trưởng Heraclius mỗi người được bảo lãnh 500 người miễn nộp tiền. Người Hồi rất sốc khi thấy vị giáo trưởng chỉ nộp có 10 dinar và được phép rời thành phố với những xe ngựa chở vàng và thảm. ‘Biết bao nhiêu gái khuê các bị xúc phạm, những gái mới lớn bị ép lấy chồng, trinh nữ bị làm nhục, các phụ nữ kiêu kỳ bị phá trinh, bao nhiêu cặp môi đỏ thắm của những phụ nữ đáng yêu bị hôn hít, các ả ngang tàng được thuần hóa,’ thư ký của Saladin Imad al-Din nhớ lại với sự hể hả đáng sợ. ‘Biết bao nhiêu nhà quí tộc mua chúng làm thê thiếp, biết bao nhiêu mệnh phụ bị bán với giá rẻ mạt!’

Dưới ánh mắt của vị sultan, hai hàng người Cơ đốc nhìn lại thành phố lần cuối cùng và khóc than trước sự mất mát Jerusalem, suy nghĩ, ‘Cô nàng vốn được gọi là người yêu của những thành phố khác giờ đã trở thành nô lệ và người hầu.’

Vào ngày thứ sáu 2/10, Saladin tiến vào Jerusalem và ra lệnh dọn sạch Núi Đền, mà người Hồi gọi là Haram al-Sharif, không còn dấu vết ngoại giáo. Thập giá trên Vòm Đá bị ném xuống trong tiếng la ‘Allahu Akhbar’, bị kéo lê qua thành phố và đập nát, các bức họa Jesus bị xé toạc, các nhà tu kín phía bắc Vòm Đá bị phá hủy, những gian phòng trong Aqsa bị tháo dỡ. Em gái của Saladin từ Damascus đến mang theo một đoàn lạc đà chở nước hoa hồng. Chính vị sultan và người cháu Taki đich thân kỳ cọ sân của Haram bằng nước hoa hồng, được tiếp tay bởi các đội vệ sinh gồm các hoàng thân và amir. Saladin mang áng thờ bằng gỗ có chạm khắc của Nur al-Din từ Aleppo đến và dựng nó trong Thánh đường al-Aqsa nơi nó yên vị trong bảy thế kỷ.

Vị sultan phá hủy và tái xây dựng không nhiều bằng thích nghi và thêm thắt trang trí, tái sử dụng những chiến lợi phẩm lộng lẫy của các Thập Tự quân với những kiểu dáng hoa lá, chữ viết, lá ô rô; kiến trúc của ông do đó được kết cấu bằng chính những biểu tượng của kẻ thù, khiến khó phân biệt giữa các công trình của Thập Tự quân và Saladin.

Mỗi thành viên tôn kính củautema,giới tăng lữ và học giả Hồi giáo, từ Cairo đến Baghdad, đều muốn giảng đạo tại những buổi cầu nguyện thứ sáu, nhưng Saladin chọnQadivùng Aleppo, trao cho ông một áo thụng đen để mặc: bài giảng của ông ở al-Aqsa ca ngợiFadail– những phẩm chất – của Jerusalem thuộc Hồi giáo. Chính Saladin cũng đã trở thành ‘ánh sáng chiếu rọi bình minh quét tan bóng tối khỏi những tín hữu’ bằng cách ‘giải phóng điện thờ anh em với Mecca’. Rồi Saladin bước đến Vòm Đá để cầu nguyện trong nơi mà ông gọi là ‘chiếc nhẫn ấn báu vật của đạo Hồi’. Tình yêu dành cho Jerusalem của Saladin ‘lớn như núi’. Sứ mạng của ông là sáng tạo một Jerusalem Hồi giáo và ông xem xét có cần phải phá hủy Đống Phân – Mộ Thánh hay không. Một số ông lớn kêu gọi nên phá hủy, nhưng ông trầm ngâm cho rằng nơi này vẫn còn thiêng liêng cho dù Nhà Thờ Mộ Thánh có đứng đó hay không. Noi gương Omar Công chính (một kha-lip, bạn chiến đấu của Muhammad, có tinh thần phóng khoáng đối với người Do Thái và Cơ đốc), ông chỉ đóng cửa Nhà Thờ Mộ Thánh ba ngày và rồi giao nó cho Chính thống giáo Hy Lạp. Nói chung, ông khoan thứ hầu hết nhà thờ, nhưng tập trung vào việc giảm tinh chất phi Hồi giáo của Khu Cơ đốc. Chuông nhà thờ lần nữa bị ngăn cấm. Thay vào đó, cho hàng trăm năm tận đến thế kỷ 19, cácmuezingiữ độc quyền về âm thanh thông báo phiên cầu nguyện còn người Cơ đốc buộc phải thông báo giờ cầu nguyện cho giáo dân bằng cách đập hai miếng gỗ hoặc đánh chập chã. Ông phá hủy một vài nhà thờ bên ngoài tường thành và xung công nhiều cơ sở Cơ đốc nổi tiếng để xây dựng Salahiyya của mình – đến nay còn tồn tại.

Saladin mang nhiều học giả và nhà thần bí Hồi đến thành phố; nhưng một mình người Hồi giáo không thể chiếm đủ dân số của Jerusalem, vì thế ông mời trở lại nhiều người Armenia, lập thành một cộng đồng đặc biệt còn tồn tại đến ngày nay (họ tự xưng là người Kaghakatsi); và nhiều người Do Thái từ Ashkelon, Yemen và Morocco.

Saladin đã yếu nhiều nhưng cũng phải miễn cưỡng rời Jerusalem để xóa sạch những thành lũy Thập Tự cuối cùng. Ông chiếm căn cứ biển lớn Acre. Nhưng ông không bao giờ xóa sạch Thập Tự quân: ông mã thượng phóng thích Vua Guy và thất bại không chinh phục được Tyre, để lại cho người Cơ đốc một cảng biển sống còn từ đó phóng ra những cuộc phản công. Có lẽ ông đánh giá quá thấp phản ứng của Cơ đốc triều nhưng tin tức về vụ Jerusalem thất thủ đã làm chấn động châu Âu, từ vua và giáo hoàng đến hiệp sĩ và nông dân, huy động một Thập Tự Chinh mới hùng mạnh Cuộc Thập Tự Chinh Thứ 3.

Saladin phải trả giá đắt cho những sơ suất nhỏ của mình. Vào tháng 8 1189, Vua Guy xuất hiện trước Acre với một lực lượng nhỏ và tiến lên bao vây thành phố. Saladin không coi việc quật khởi táo bạo của Guy là quá quan trọng nên chỉ phái một đạo quân nhỏ ra tiêu diệt. Nhưng Guy đã cầm chân được binh lính của Saladin và chiêu tập lại cuộc chiến đấu Thập Tự quân. Saladin bao vây Guy nhưng Guy bao vây Acre. Khi hạm thuyền Ai Cập của Saladin bị đánh bại, Guy được tiếp sức bởi những đoàn chiến thuyền chở quân Thập Tự từ Đức, Anh và Ý đến. Ở châu Âu, các vua Anh và Pháp và Hoàng đế Đức đều tuyên thệ chiến đấu vì Christ; các hạm thuyền được tập kết; các binh sĩ được tuyển mộ để tiếp viện cho trận chiến Acre. Đây là khởi đầu của cuộc chiến hai năm đẫm máu, chẳng bao lâu sẽ được các vì vua hùng mạnh nhất châu Âu tham gia, quyết tâm lấy lại Jerusalem.

Đến đầu tiên là quân Đức. Khi Saladin nghe tin Hoàng đế Râu Đỏ Frederick Barbarossa đang hành quân đến Đất Thánh với quân đoàn Đức, ông cuối cùng mới triệu tập lực lượng của mình và kêu gọijihad.Nhưng rồi có tin tốt lành hơn đến.

Vào tháng 6 năm1190, Barbarossa bị đuối nước trên một con sông ở Civilian; con trai ông, Công tướ Frederick xứ Swabia, luộc sôi thi thể và ngâm bộ xương vào dấm, chôn da thịt ông ở Antioch. Rồi sau đó con ông hành quân đến Acre mang theo xương cốt cha dự tính sẽ chôn cất ở Jerusalem. Cái chết của Barbarossa đã tạo ra truyền thuyết về ngày tận thế, cho rằng Hoàng đế của Ngày Tận Thế đang ngủ, một ngày nào đó sẽ đứng dậy lần nữa. Công tước xứ Swabia cũng chết vì bệnh dịch bên ngoài Acre và cuộc Thập Tự quân của Đức bị vỡ trận. Nhưng sau nhiều tháng chiến đấu tuyệt vọng với hàng ngàn người chết vì bệnh dịch (trong đó có Heraclius giáo trưởng và Sibylla, Hoàng hậu Jerusalem), Saladin nhận được tin xấu là chiến binh cự phách của Cơ đốc triều đang trên đường đến đây.

❀ ❀ ❀

[1] Saladin là từ viết tắt của Thập Tự quân cho tên hiệu Salah al-Dunya al-Din (Sự Tốt đẹp của Thế giới và Niềm tin). Em của Saladin, được Thập Tự quân biết dưới tên Safadin, có tên khai sinh là Abu Bakr ibn Ayyub, nhận tước hiệu là Safah al-Din (Thanh Gươm Tôn giáo) và sau đó tên hoàng gia là al-Adil (Người Công Chính) được gọi trong hầu hết sách lịch sử.

[2] Ở Jerusalem một ông lão cả gan dám đâm đơn kiện chính vị sultan về khối tài sản nào đó. Saladin bước xuống ngai để được xét xử công bình, và thắng kiện. Nhưng sau đó ông tặng cho người thưa ông bao nhiêu là quà cáp.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Simon Sebag

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.