DUKE GODFREY: CUỘC VÂY HÃM
Chuyện xảy ra ngay giữa mùa hè năm 1099 trong vùng đồi Judaea khô cằn; Thành phố Thánh được phòng vệ cẩn mật bởi binh lính Ai Cập được dân quân Do Thái và Hồi ở Jerusalem hậu thuẫn. Họ dự trữ đầy ắp lương thực và tích trữ nước đầy tràn, trong khi các giếng nước ở vùng quê nóng cháy đã bị đánh thuốc độc. Các người Cơ đốc ở Jerusalem bị trục xuất. Các cư dân, nhiều nhất là 30,000, có thể yên tâm vì vị tể tướng Ai Cập đang hành quân tiến ra bắc để giải cứu họ, và họ đã trang bị đầy đủ: thậm chí họ còn sở hữu vũ khí phóng hỏa bí mật, Lửa Hy Lạp.
70,000 là con số truyền thuyết đối với dân số Jerusalem nhưng đây rõ ràng là phóng đại. Vào thế kỷ 11, Constantinople chỉ có 600,000 dân cư; Baghdad và Cairo, những thành phố lớn của Hồi giáo: 400,000 – 500,000; La Mã, Venice và Florence 30,000 – 40,000; Paris và London 20,000. Về phần ‘Lửa Trời’, một chế biến trên nền tảng dầu lửa được đốt qua ống phun, đã từng giải cứu Constantinople. Giờ người Hồi, chứ không phải người Cơ đốc, sử dụng nó.
Phía sau tường thành đồ sộ, họ ắt hẳn khinh nhờn kẻ tấn công.
Quân số Frank quá nhỏ, chỉ có 1,200 hiệp sĩ và 12,000 lính, để vây hãm tường thành. Trong lối đánh trực diện, quân Ả Rập và kỵ binh Thổ áo giáp nhẹ không thể địch nổi sức tấn công đáng sợ của hiệp sĩ người Frank, tạo thành một quả đấm thép như sấm sét cưỡi trên lưng những thần chiến mã đồ sộ. Mỗi hiệp sĩ đều đội mũ sắt, mặc áo giáp sắt phủ lên một áo giáp dài đính khen sắt, và cuối cùng là lớp áo lót đệm bông, trang bị một cây thương, kiếm to bản, rựa và khiên.
Tuy nhiên những chiến mã Tây phương này đã chết từ lâu hoặc bị đoàn quân đói khát ăn thịt. Trong những hẻm núi phồng rộp quanh Jerusalem, những mũi tấn công đều không thể triển khai, ngựa chiến cũng vô dụng và áo giáp thì quá nóng: lực lượng quân Frank kiệt sức phải đánh nhau trên bộ, trong khi các thủ lĩnh của họ hiềm khích liên miên. Không có vị chỉ huy tối cao. Nổi bật hơn hết và cũng giàu hơn hết là Raymond, Bá tước vùng Toulouse. Một thủ lĩnh gan góc nhưng không tạo được hứng khởi, nổi bật vì tình lì lợm nhưng thiếu tế nhị, thoạt đầu Raymond hạ trại ở phía tây đối diện Thành lũy nhưng sau ít ngày chuyển về nam vây hãm Cổng Zion.
Điểm yếu của Jerusalem luôn là ở phía bắc: Công tước Robert xứ Flanders trẻ tuổi, có năng lực, con trai của một khách hành hương Jerusalem hạ trại ở chỗ giờ đây là Cổng Damascus; Công tước Robert xứ Normandy (con trai của William the Conqueror), dũng cảm nhưng bất tài, có biệt danh Curthose (ống chân ngắn), án ngữ Cổng Herod. Nhưng tinh thần tiến công là Godfrey xứ Bouillon, Công tước vạm vỡ, tóc vàng xứ Lower Lorraine, 39 tuổi, ‘mẫu người lý tưởng của một hiệp sĩ phương bắc’, được ca tụng vì lòng mộ đạo và sự thuần khiết (ông không hề kết hôn). Ông chiếm vị trí chung quanh khu vực ngày nay là Cổng Jaffa. Trong khi đó Tancred de Hauteville 25 tuổi, hồ hỡi chinh phục một lãnh địa cho riêng mình, phi ngựa tách khỏi đạo quân để chiếm Bethlehem. Khi ông trở lại, ông sát cánh với lực lượng của Godfrey tại góc tây-bắc của thành phố.
Quân Frank đã mất vài quân đoàn và vượt hàng ngàn dặm băng qua châu Âu và châu Á để đến được Thành phố Thánh. Mọi người đều nhận thức được rằng đây sẽ là tuyệt đỉnh hoàn hảo của Thập Tự Chinh Thứ 1.
GIÁO HOÀNG URBAN II: ĐÓ LÀ Ý CHÚA
Thập Tự Chinh là sáng kiến của một người. Vào ngày 27/11/1095, Giáo hoàng Urban II đã phát biểu trước tập thể các ông lớn và dân chúng tại Clermont đòi chinh phục Jerusalem và giải phóng Nhà Thờ Mộ Thánh.
Urban coi sứ mạng một đời của mình là phục hồi quyền lực và tiếng tăm của Giáo hội Thiên chúa. Ông đề ra một học thuyết mới về thánh chiến nhằm tái khởi động giáo triều Cơ đốc đứng đầu là giáo hoàng, minh chứng việc tẩy trừ bọn ngoại giáo là hành động được cứu rỗi. Đây là một động thái chưa từng có tiền lệ tạo thành một phiên bản Cơ đốc củajihad(thánh chiến Hồi giáo), ăn khớp với lòng tôn kính phổ biến đối với Jerusalem. Trong một thời kỳ của nhiệt tình tôn giáo, một thời đại của những dấu hiệu linh thiêng, Jerusalem là thành phố của Christ, được xem như một điện thờ tối cao và một vương quốc thiên đường, thân thiết với mọi tin đồ Cơ đốc, được nêu ra trong các bài giảng, trong những câu chuyện hành hương, trong các vở kịch, tranh vẽ và thánh tích về khổ nạn của Jesus. Nhưng Urban ra sức đốt nóng nổi lo âu ngày càng tăng về sự an toàn của Mộ Thánh, thuật lại việc tàn sát người hành hương và hành động tàn bạo của quân Turkoman (chỉ chung những người du mục Hồi giáo: ND).
Đây là thời điểm chín mùi cho hàng ngàn người, thượng hay hạ lưu, đáp lại lời kêu gọi của Urban: ‘bạo lực thống trị trong các quốc gia, trò gian lận, lừa đảo và tranh chấp lấn át mọi thứ,’ sử gia Jerusalem William xứ Tyre nhận xét. ‘Mọi đức hạnh đã bỏ đi, mọi hình thức thông dâm được tiến hành công khai, thói xa xỉ, say sưa và tật đỏ đen.’ Thập Tự Chinh mang đến cơ hội phiêu lưu, loại ra hàng ngàn hiệp sĩ và bọn lục lâm gây rối, và bỏ nhà ra đi. Nhưng ý kiến ngày nay, được xiển dương trong các bộ phim Hollywood và trong thời gian sau thảm họa của chiến tranh Iraq 2003, cho rằng thập tự chinh chỉ là cơ hội để làm giàu có thêm phần chia lời bạo dâm, là sai lầm. Chỉ có một nhóm hoàng thân tạo ra những lãnh địa mới và một ít Thập Tự quân lập nên sự nghiệp, trong khi chi phí bỏ ra là gánh nặng và nhiều cuộc đời và sản nghiệp bị tiêu vong trong hoạt động hào hiệp và liều lĩnh nhưng mộ đạo này. Một tinh thần khoáng đạt mà người thời nay rất khó nắm bắt: người Cơ đốc được ban cho cơ hội để tìm kiếm sự tha thứ cho mọi tội lỗi của mình. Tóm lại, những chiến binh hành hương này là những tín hữu tràn đầy nhiệt huyết mong tìm sự cứu rỗi trên chiến trường Jerusalem.
Đám đông tại Clermont đáp lại Giáo hoàng: ‘Deus le volt! Đó là ý Chúa!’ Raymond xứ Toulouse là một trong những người đầu tiên gánh vác sứ mạng. 80,000 người, một số thuộc lực lượng có kỷ luật do các ông hoàng dẫn đầu, một số là băng đảng cầm đầu là những kẻ phiêu lưu, và còn lại là tập thể các nông dân mộ đạo dưới các ẩn sĩ dẫn dắt giương cao Thập giá. Khi làn sóng đầu tiên quét qua châu Âu hướng về Jerusalem, họ cưỡng bách cải đạo hoặc tàn sát hàng ngàn người Do Thái để trả thù tội giết Christ.
Hoàng đế Byzantine Alexios, nửa phần khiếp sợ bọn hung hãn Latinh này nghênh đón họ – và vội vàng xua họ về hướng Jerusalem. Vừa đặt chân đến Antioch, đám nông dân Âu châu bị người Thổ giết hại, nhưng những hiệp sĩ có tổ chức và thiện chiến của lực lượng chính qui đánh đuổi quân Seljuk. Cuộc viễn chinh là khúc khải hoàn của niềm tin vượt qua trải nghiệm và lý lẽ: càng đến gần Miền Đất Thánh nhiệt huyết của họ càng bùng lên, chiến dịch quân sự như được dẫn dắt và cổ vũ bởi những thấu thị thiêng liêng, những chuyến viếng thăm của thiên thần và những phát hiện các dấu thánh có tầm quan trọng không kém những chiến thuật quân sự. Nhưng may mắn là người châu Âu đang tấn công trên một vùng đất đã chia rẽ một cách chết người giữa các kha-lip cấu xé nhau, các sultan (vua Hồi) và amir (tổng tư lệnh Hồi) Thổ và Ả Rập, vốn đặt sự tranh chấp của riêng mình lên trên khái niệm về tình đoàn kết Hồi giáo.
Antioch thất thủ là thắng lợi thực sự đầu tiên của các Thập Tự quân, nhưng rồi sau đó họ bị vây hãm trong thành. Đối mặt với chết đói và bế tắc, tưởng rằng Thập Tự Chinh sẽ kết thúc ở đó. Nhưng vào lúc cao điểm khủng hoảng ở Antioch, Peter Bartholomew, một thủ hạ của Bá tước Raymond, nằm mộng thấy Cây Giáo Thánh nằm bên dưới một nhà thờ: họ đào xuống và quả nhiên tìm được Cây Giáo. Việc phát hiện này vực dậy sĩ khí của binh lính. Khi Bartholomew bị tố cáo là lừa đảo, ông phải chịu ngọn lửa thử thách. Ông sống sót khi bước qua bãi sắt nung đỏ dài chín bộ và tuyên bố không bị thương tật. Nhưng ông chết 12 ngày sau đó.
Thập Tự quân sống sót sau trận Antioch và, khi họ hành quân, các amir Thổ và Fatimid ở Tripoli, Caesarea và Acre thương thảo với họ. Người Fatimid từ bỏ Jaffa, và Thập Tự quân đi sâu vào nội địa tiến về Jerusalem. Khi các đạo quân hạ trại chung quanh tường thành, một ẩn sĩ trên Núi Olives, được cổ vũ bởi một con thấu thị, bảo với các chỉ huy Thập Tự Chinh hãy tấn công ngay lập tức.
Vào ngày 13/6, họ thử tràn vào tường thành nhưng bị đẩy lùi dễ dàng, chịu những tổn thất nặng nề. Các ông hoàng nhận ra rằng thắng lợi đòi hỏi phải lên kế hoạch thận trọng hơn, nhiều thang bắc, máy bắn đá và máy vây hãm nhiều hơn, nhưng không có đủ gỗ để xây dựng. Họ gặp may. Vào ngày 17, các thủy thủ xứ Geneva neo đậu ở Jaffa kéo gỗ lấy từ các con thuyền đã tháo rời về Jerusalem cho họ đóng những máy vây hãm có bánh xe được trang bị máy bắn đá.
Các ông hoàng đã bắt đầu cãi cọ về việc chia chác chiến lợi phẩm. Hai hoàng thân uy tín nhất đã tóm lấy những lãnh thổ của mình: Bohemond xứ Taranto đã được phép nắm Antioch trong khi người em năng động Baldwin của Godfrey đã chiếm Edessa, cách xa đó trên sông Euphrates. Giờ ngài Tancred tham lam đòi Bethlehem cho mình, nhưng Giáo hội đã yêu sách địa điểm nơi Chúa Giáng Sinh. Cái nóng không thể chịu được, gió sa mạc thổi, nước khan hiếm, quân số quá ít, tinh thần xuống thấp, và quân Ai Cập đang tiến gần. Không thể mất thời gian.
Một thông điệp thần thánh đã giải cứu. Vào ngày 6/7, một giáo sĩ thông báo rằng mình đã (không phải là lần đầu tiên) được Adhemar xứ Le Puy đến thăm viếng. Adhemar là vị giám mục đáng kính đã chết ở Antioch, nhưng linh hồn ông giờ đang thúc giục người Frank tổ chức một đám rước quanh tường thành. Quân đội ăn kiêng trong ba ngày rồi vào ngày 8/7, được các giáo sĩ mang thánh tích dẫn đầu, họ đi chân trần tuần hành quanh tường thành Jerusalem, ‘với kèn, cờ xí và vũ khí’, trong khi người Jerusalem chế giễu họ từ trên bệ cao trên tường thành, buông lời sỉ nhục hình Jesus bị đóng đinh. Đi hết một vòng, họ tụ họp trên Núi Olives để nghe các tuyên úy giảng đạo và làm chứng cho việc hòa giải giữa các thủ lĩnh của mình. Thang leo, máy vây hãm, máy bắn đá, đá phóng, tên, bó gỗ đệm – mọi thứ phải sẵn sàng, và mọi người quần quật suốt ngày đêm. Đàn bà và người già tiếp tay may những tấm da thú vào máy vây hãm. Sự lựa chọn thật là trần trụi: chết hay thắng lợi trên chiến địa của Thành phố Thánh.
TANCRED: LÒ SÁT SINH TRÊN NÚI ĐỀN
Đêm 13/7, Thập Tự quân đã sẵn sàng. Các giáo sĩ lại giảng để tiêm vào người họ một cơn sốt quyết tâm hung tàn, phô trương lòng mộ đạo của mình. Những máy bắn đá phóng những quả cầu đá vào tường thành. Từ trên cao, quân phòng thủ đã treo những túi bông và rơm để làm giảm sức công phá cho đến khi thành lũy trông giống một sợi dây phơi đồ khổng lồ. Người Hồi cũng đáp trả bằng những máy bắn đá của họ. Khi quân Cơ đốc bắt được một tên do thám trong hàng ngũ họ, họ bắn y đang còn sống bay quá tường thành bằng máy bắn đá.
Thập Tự quân quần quật suốt đêm để đắp qua hào bằng những bó gỗ đệm. Ba máy vây hãm được mang qua hào từng bộ phận, rồi ráp lại thành một bộ máy kềnh càng, một cho Raymond trên Núi Zion, hai máy kia đặt ở phía bắc. Raymond là người đầu tiên đưa được máy vây hãm dựa vào tường thành, nhưng thống đốc Ai Cập, chỉ huy bộ phận phía nam, thúc đẩy sức kháng cự quyết liệt. Gần như đến phút cuối cùng, Godfrey xứ Bouillon mới tìm ra được điểm yếu trong tuyển bố trí phòng ngự (phía đông Cổng Herod ngày nay, đối diện với Bảo Tàng Viện Rockefeller). Các Công tước xứ Normandy và Flanders, cùng với Tancred, nhanh chóng điều quân đến góc đông bắc. Chính Godfrey leo lên tháp vây hãm khi nó được đẩy về phía trước đến một địa điểm lý tưởng: ông xuất hiện ở đỉnh tháp, tay nắm chặt cung nỏ trong khi cung thủ bắn tên như mưa rào, và máy bắn đá phóng đá lên tường thành yểm trợ.
Khi mặt trời lên cao, ông hoàng sử dụng gương phản chiếu ánh sáng lên Núi Olives để phối hợp các hoạt động của họ. Đồng thời Raymond tấn công xuống phía nam và quân Norman lên phía bắc. Vào bình minh thứ sáu ngày 15, họ lại mở cuộc tấn công mới. Godfrey trèo lên tháp gỗ rung rinh, bắn tên nỏ qua tường thành trong khi quân phòng vệ khai hỏa Đại Hoả (Lửa Hy Lạp) – nhưng không đủ để ngăn chặn quân Frank.
Vào giữa trưa, bộ máy của Godfrey cuối cùng đến sát được tường thành. Quân Frank ném ván bắc qua và hai anh em trèo được vào thành phố, với Godfrey theo sau. Họ tuyên bố là đã trông thấy Giám mục Adhemar quá cố đang chiến đấu cùng với họ: ‘Nhiều người làm chứng ông là người đầu tiên leo qua tường thành!’ Giám mục quá cố ra lệnh họ mở Cổng Cột (Cổng Damascus). Tancred và binh lính Norman ào ạt xông vào các đường phố nhỏ hẹp. Ở phía nam, trên Núi Zion, Bá tước xứ Toulouse nghe có tiếng hoan hô. ‘Tại sao chúng bây rảnh vậy hả,’ Raymond quở mắng bình sĩ. ‘Ngài nhìn kìa, quân ta đã đột nhập vào thành phố!’ Hừng chí, các chiến binh của Raymond đột phá vào Jerusalem và truy đuổi viên thống đốc và quân sĩ đồn trú đến tận Thành lũy. Thống đốc thỏa thuận đầu hàng Raymond với điều kiện quân đồn trú được toàn mạng. Dân chúng và binh lính chạy trốn đến Núi Đền, Tancred và binh sĩ đuổi theo. Trong cơn giao tranh, người Jerusalem đóng sầm các cổng của Núi Đền và kháng cự lại, nhưng các chiến binh của Tancred đập vỡ xông vào nơi thiêng liêng, chen chúc dân chúng đang tuyệt vọng.
Cuộc chiến đấu thật ác liệt kéo dài hàng giờ liền; quân Frank điên tiết và giết mọi người họ đụng đầu trên đường phố và ngõ hẹp. Họ không chỉ chém đầu mà còn cắt cụt chân tay, lấy làm vinh quang trong việc thanh tẩy bằng suối máu phun ra của bọn ngoại giáo. Mặc dù thực thi một trận tàn sát trong thành phố không phải là không có tiền lệ nhưng việc kẻ xuống tay ghi chép hành động này với sự phô trương đầy tự hào của lòng sùng đạo quả là không có tiền lệ. ‘Những cảnh tượng tuyệt vời đã được chiêm ngưỡng,’ nhân chứng Raymond xứ Aguilers, tuyên úy của Bá tước xứ Toulouse, sôi nổi: ‘Quân ta cắt phăng thủ cấp của kẻ thù, hoặc bắn tên cho chúng rơi xuống tháp canh, hoặc tra tấn cho chúng chết lâu hơn bằng cách ném chúng vào lửa. Hàng đống thủ cấp, tay chân vương vãi khắp đường phố. Phải luồn lách mới đi qua được các xác chết của người và ngựa nằm ngổn ngang.’
Hài nhi bị giật khỏi vòng tay mẹ và đập đầu vào tường thành. Khi mức độ dã man leo thang, ‘người Saracen, Ả Rập và Ethiopia’ – nghĩa là những binh lính Sudan da đen của quân đội Fatimid – lên trú ẩn trên các mái của Vòm Đá và al-Aqsa. Khi tiến về Vòm Đá, các hiệp sĩ chém chặt mở con đường máu băng qua đám đông chen chúc, giết và thái nhỏ da thịt con người cho đến khi ‘trong Đền Thờ Solomon (theo cách Thập Tự quân gọi al-Aqsa), họ cưỡi ngựa trong bể máu bắn tung tóe đến dây cương. Đúng ra đó là sự phán xét tuyệt vời và công chính của Chúa Trời khiến nơi này phải chứa đầy máu của kẻ bất tín.’
10,000 người, kể cả những tăng lữ Hồi và những thầy tu khổ hạnh Sufi, đều bị giết trên Núi Đền, bao gồm 3,000 người ken cứng trong al-Aqsa. ‘Các đấu sĩ của chúng ta’, nhà biên niên sử Fulcher xứ Chartres viết, ‘bắt đầu bắn tên xuống bọn Hồi đang nấp trên mái al-Aqsa như mưa. Tôi phải kể thêm gì bây giờ? Không ai còn sống, không tha phụ nữ và con trẻ nào.’ Riêng Tancred gửi cờ hiệu của mình cho 300 người còn lại trên mái al-Aqsa, một vật bảo đảm nhằm bảo vệ họ. Ông ngưng chém giết, bắt một số tù binh đáng giá và được chỉ chỗ cất kho báu trong Núi Đền. Rồi ông lấy cướp những đèn treo lớn bằng vàng treo trong điện thờ tại đó. Người Do Thái tìm nơi trú ẩn trong các giáo đường của họ, nhưng bọn Thập Tự quân phóng hoả đốt trụi. Người Do Thái bị thiêu sống, gần như là vật hiến tế tột cùng nhân danh đấng Christ.
Godfrey xứ Bouillon thu lại kiếm và cùng với một số nhỏ cận vệ đi quanh thành phố và cầu nguyện, trước khi tìm đường đến Mộ Thánh.
Sáng hôm sau, trước cơn thịnh nộ của Tancred, binh sĩ của Raymond leo lên mái đền al-Aqsa, làm thất kinh dân chúng Hồi đang túm tụm tại đó, và chặt đầu tất cả đàn ông và đàn bà trong cơn say máu khác (dù được cờ hiệu của Tancred). Một vài người Hồi liều chết nhảy khỏi mái đền xuống đất. Một nữ học giả đáng kính từ xứ Shiraz ở Ba Tư ẩn nấp cùng với một số phụ nữ trong Vòm Dây Xích – nhưng rồi cũng bị sát hại. Một khoái cảm ma quái bùng lên khi được phanh thây nạn nhân, một hành xử gần như một việc làm thánh thiện. ‘Khắp nơi những mảnh thi thể người vương vãi, những xác chết không đầu và tứ chi bị cắt rời rải rác khắp mọi nơi.’ Có điều gì đó càng khiếp sợ hơn trong cảnh tượng các Thập Tự quân mình bê bết máu và đôi mắt điên dại, ‘máu nhểu giọt từ đầu đến chân, một hình dáng gớm ghiếc gieo khủng khiếp với mọi người gặp mặt họ.’ Họ xục xạo các đường phố có cửa hàng tạp hóa, lôi ra nhiều nạn nhân hơn để ‘làm thịt như những con cừu’.
Mỗi Thập Tự quân được hứa hẹn sở hữu bất kỳ ngôi nhà nào có đánh dấu bởi ‘tấm khiên và vũ khí của y’: ‘do vậy bọn chiến binhNữ hành hương lục soát thành phố thận trọng nhất và giết bừa bãi dân chúng’, khử ‘các bà vợ, trẻ em, toàn bộ gia quyến,’ nhiều người trong số đó ‘bị phóng thẳng xuống mặt đất’ qua những khung cửa sổ trên cao.
Theo qui luật chiến tranh, thường sau một cuộc vây hãm và phá thành nghiệt ngã, bên tấn công sẽ không chừa một khu vực nào an lành, nhưng các nhân chứng còn đi xa hơn khi quảng bá vụ làm thịt của mình và tuyên bố không có ai được chừa ra. Một số mô tả của họ lấy cảm hứng trực tiếp từ Sách Khải Huyền. Họ không nói rõ con số. Sau này, các sử gia Hồi cho rằng 700,000 hoặc thậm chí 100,000 người bị giết, nhưng các nghiên cứu mới nhất cho rằng trận tàn sát có qui mô nhỏ hơn, có lẽ chỉ khoảng 10,000, nhỏ đáng kể so với các vụ tàn sát trong tương lai của người Hồi tại Acre và Edessa. Người đương đại tín cậy nhất, Ibn al-Arabi, người gần đây sống ở Jerusalem và ở Ai Cập năm 1099, thuật rằng có 3,000 người bị giết ở al-Aqsa. Cũng không phải mọi người Do Thái đều bị tàn sát. Chắc chắn có người Do Thái và Hồi được tha mạng (để dọn dẹp thành phố, chẳng hạn). Thật bất thường khi các biên niên sử Thập Tự quân, vì mục tiêu tuyên truyền và tôn giáo, phóng đại quá đáng qui mô tội ác của mình. Thánh chiến là như thế.
Vào ngày 17, khách hành hương (bọn đồ tể này tự xưng như thế) cuối cùng cũng chán chê việc xả thịt và ‘nghỉ ngơi lấy sức và ăn uống thỏa thuê’. Các hoàng thân và giáo sĩ đi đến Mộ Thánh tại đó họ hát vang ngợi ca Chúa Jesus, hân hoan vỗ tay và những giọt nước mắt vui sướng làm ướt đẫm áng thờ, trước khi đi diễu hành qua đường phố đến Đền Thờ Chúa Trời (Vòm Đá) và Đền Thờ Solomon. Các đường phố này vương vãi những mảnh thi thể, phân hủy dưới nắng hè. Các hoàng thân ra lệnh cho những người Do Thái và Hồi còn sống sót dọn sạch những mảnh thi thể và chất đống rồi thiêu đốt, sau đó chính họ cũng bị làm thịt và đi theo anh em mình vào ngọn lửa. Những Thập Tự quân chết được chôn cất trong Nghĩa trang Sư tử tại Mamilla hoặc trong vùng đất thánh ngay bên ngoài Cổng Vàng, lúc đó đã là nghĩa trang của người Hồi, để sẵn sàng đứng dậy vào Ngày Cuối Cùng.
Jerusalem đầy những kho báu, ‘đá quí, quần áo, vàng bạc’ và những tù binh có giá cao mà người Frank tổ chức bán đấu giá như nô lệ trong hai ngày. Một số các người Hồi đáng kính được cứu sống nhờ tiền chuộc: 1,000 dinar được rao giá cho học giả Sheikh Abd al-Salam al-Ansari, nhưng khi không có ai trả giá ông liền bị giết. Những người Do Thái và 300 sách Hebrew sống sót (trong đó có Aleppo Codex, một trong những Kinh thánh Do Thái cổ nhất còn sót lại một phần đến tận ngày nay) được người Do Thái ở Ai Cập chuộc lại. Việc chuộc lại các tù nhân là một trong những ngành hái ra tiền nhiều nhất trong Vương quốc Jerusalem. Không phải mọi mảnh thi thể con người đều được nhặt nhạnh hết, và Jerusalem bốc mùi thúi rất lâu sau đó – thậm chí đến 6 tháng sau đó, khi Fulcher xứ Chartres trở lại: ‘Ôi mùi thúi bao trùm tường thành, bên trong lẫn bên ngoài, từ các xác chết phân hủy của quân Saracen, nằm xuống ngay tại nơi họ bị đốn ngã quỵ.’ Jerusalem vẫn chưa an toàn: quân Ai Cập đang tiến gần. Thập Tự quân cần khẩn cấp một tổng tư lệnh – vị Vua đầu tiên ở Jerusalem.

Năm 1099, sau 400 năm nằm dưới sự cai trị của Hồi giáo, các Thập Tự quân tràn vào Jerusalem thỏa thuê chém giết. Thành phố còn bốc mùi thịt thối phân hủy sáu tháng sau.
GODFREY: NGƯỜI BẢO HỘ MỘ THÁNH
Các nhà quí tộc và tăng lữ cao cấp điều tra về đạo đức của các ứng viên cho vương miện. Theo lẽ thường, họ cảm thấy mình phải giao ngôi báu cho vị hoàng thân lớn tuổi, ngài Raymond. Dù ông không được nhiều người ủng hộ, nhưng họ buộc lòng phải làm vậy. Raymond sốt sắng từ khước, nhấn mạnh rằng mình không thể làm vua trong thành phố của Jesus. Sau đó họ giao ngôi báu cho người họ thực sự muốn, Công tước thuần khiết và danh giá Godfrey, chấp nhận một tước hiệu mới đặt: Người Bảo Hộ Mộ Thánh.
Việc này khiến Raymond bực tức, nhận ra rằng mình đã bị đánh lừa, nên không chịu giao lại Tháp David cho đến khi các giám mục đứng ra làm trung gian. Dù thắng lợi như thế, các chiến binh-hành hương không thấy dễ chịu khi bị cưỡng bách phải có đạo đức trong một thành phố do chính Jesus cai trị. Họ bầu ra một tuyên úy xứ Norman, Arnulf, làm giáo trưởng nhưng chẳng bao lâu y phải tự bào chữa cho tội ngoại tình và tội làm cha với một phụ nữ Ả Rập.
Arnulf lắp đặt chuông trong các nhà thờ (việc kéo chuông nhà thờ bị người Hồi ngăn cấm). Đây phải là Jerusalem Thiên chúa, Latinh. Giờ ông tiến hành những động thái xấu xa dẫn đến sự rạn nứt: ông cắt đặt các giáo sĩ Latinh cai quản Mộ Thánh, loại bỏ giáo trưởng và tăng lữ Hy Lạp. Qua đó ông phát khởi mối xung đột không thích hợp giữa các giáo phái Cơ đốc, tiếp tục gieo tai tiếng và làm vui thích cho các du khách cho đến tận ngày nay. Arnulf không thể tìm ra khu vực chính của Thập Giá Thực và các giáo sĩ Chính thống giáo từ chối tiết lộ vị trí cất giấu của nó. Vị giáo trưởng tra tấn họ; một người Cơ đốc tra tấn một người Cơ đốc để giành lấy Cây Ban Sự Sống cho Chiên Con của Chúa Trời. Cuối cùng họ nhượng bộ.
Vào ngày 12/8, để lại Jerusalem gần như không được phòng thủ, Người Bảo Hộ Godfrey dẫn dắt toàn bộ lực lượng Thập Tự quân đi về hướng Ashkelon và đánh bại quân Ai Cập tại đó. Khi Ashkelon xin được đầu hàng với Raymond, Godfrey không chịu chấp nhận trừ khi nhượng bộ với ông: Ashkelon bị mất – đây chỉ là vết thương đầu tiên trong nhiều vết thương tự gây ra bởi mối thâm thù giữa các thủ lĩnh của Jerusalem. Nhưng Jerusalem đã an ninh chỉ trừ giờ đây vắng bóng người.
Các Công tước Normandy và Flanders và nhiều Thập Tự quân lục tục trở về nhà, để lại cho Godfrey một thành phố hoang tàn, hôi thúi chỉ có 300 hiệp sĩ và 2,000 bộ binh, và hiếm khi có đủ số cư dân để lấp đầy một khu vực. Raymond xứ Toulouse đã thôi giận hờn và tiến hành tiểu trừ bờ biển Lebanon, cuối cùng thành lập triều đại của riêng mình là Bá tước xứ Tripoli. Có bốn thành bang của Thập Tự quân – Lãnh địa Antioch, các địa hạt Edessa và Tripoli, và Vương quốc Jerusalem. Những miếng vá bất thường gồm các thái ấp có quan hệ lẫn nhau này được biết dưới tên vùng Outremer.
Phản ứng của thế giới Hồi giáo – bị chia rẽ giữa các kha-lip yếu thế dòng Sunni ở Baghdad và dòng Shiite ở Cairo – câm lặng một cách đáng ngạc nhiên. Chỉ một ít thầy giảng kêu gọijihadđể giải phóng Jerusalem, và không có nhiều phản ứng trong các amir Thổ hùng mạnh, vốn vẫn đang bận bịu với thâm thù cá nhân của mình.
Vào ngày 21/12, Baldwin, em trai của Godfrey, là Bá tước xứ Edessa, và Hoàng thân Bohemond xứ Antioch đến vui lễ Giáng Sinh ở Jerusalem. Godfrey ra sức tự bảo vệ chống lại Giáo hội. Đại diện của Giáo hoàng, một gã vênh váo có tên Daimbert, giờ là giáo trưởng được chỉ định (để thay thế Arnulf tội lỗi). Quyết tâm thiết lập một chế độ thần quyền do mình cai trị, y cưỡng bách Godfrey nhượng lại thành phố và Jaffa cho Giáo hội. Vào tháng 6 1100, Godfrey ngã bệnh nặng ở Jaffa, ắt hẳn là viêm phổi. Được mang về Jerusalem, ông qua đời ngày 18/7 và được chôn cất 5 ngày sau đó, như tất cả người kế vị ông, tại chân Calgary (Gogoltha) trong Nhà Thờ Mộ Thánh.
Daimbert nắm quyền kiểm soát thanh phố, nhưng các hiệp sĩ của Godfrey không chịu giao nộp Thành lũy, và thay vào đó cho mời người em của người bảo hộ quá cố, Baldwin. Tuy nhiên, Bá tước xứ Edessa đang bận chiến đấu để phòng thủ phía bắc Syria, nên chỉ nhận được thông điệp vào cuối tháng 8.
Vào ngày 2/10 Baldwin lên đường với 200 hiệp sĩ và 700 quân, và bổng thấy rằng mình phải chiến đấu suốt chặn đường đến Jerusalem, đương đầu với các cuộc phục kích liên tiếp của quân Hồi. Ngày 9/11, với quân số ít hơn phân nửa quân số ban đầu, cuối cùng ông đặt chân tới Thành phố Thánh.