Tháng bảy ở Đông Đô Lạc Dương nóng nực vô cùng, nóng đến mức người ta chẳng muốn bước chân ra cửa. Thế nhưng trên dòng Lạc Thủy chảy xuyên qua thành, vẫn có vô số thuyền bè qua lại, hai bên bờ sông bên trong lẫn ngoài thành, tại các bến tàu và cửa thành, vô vàn thuyền bè cùng đội xe vẫn nối đuôi nhau ra vào không dứt.
Kể từ khi triều đình định đô Lạc Dương làm Đông Đô, tòa thành này lập tức trở thành trung tâm của toàn bộ khu vực Quan Đông. Vốn dĩ đã là trung tâm thiên hạ với dân cư đông đúc, công thương phồn vinh, nay lại càng thêm náo nhiệt. Ngân hàng Lạc Dương, tòa soạn báo, sàn giao dịch, bưu cục, doanh trại đồn trú, các cửa tiệm mới mở mọc lên như nấm sau mưa. Trên đường phố ngoài bách tính người Hán, còn có vô số người Hồ, người Phiên đủ kiểu, đủ màu da, nói đủ thứ ngôn ngữ khác nhau.
Từ khi triều đình định đô tại Lạc Dương, quan viên quân dân cùng gia quyến, cộng thêm cả thương nhân theo chân họ đến, đã khiến cho toàn bộ thành Lạc Dương tăng thêm ít nhất hai mươi vạn nhân khẩu. Dân số toàn thành nhanh chóng leo thang tới hơn năm mươi vạn người. Với lượng dân số đông đảo như vậy, dù là nhu cầu về xa xỉ phẩm của cung đình, bách quan và các vị tướng lĩnh, hay nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của quân đội và bách tính bình thường, mọi yêu cầu của cả thành Lạc Dương đều vô cùng kinh người. Mà tất cả những điều này đều dựa vào sự ổn định nhanh chóng của khu vực Trung Nguyên, cũng như ngành vận tải thủy bộ vốn đã rất phát triển và đông đảo người làm trong ngành này. Hơn nữa, hiện nay việc phổ biến xe ngựa bốn bánh, cùng với đường ray cho xe ngựa tại các bến tàu, các thiết bị ròng rọc nâng hàng tại bến cảng... càng làm cho năng lực vận chuyển hàng hóa được tăng cường đáng kể. Thậm chí, Bộ Công đã đề xuất với triều đình về việc tiến hành nạo vét và mở rộng toàn diện Biện Thủy – vốn liên thông giữa Hoàng Hà và Hoài Hà, cùng với Cám Câu – liên thông Hoài Hà và Trường Giang, nhằm tạo ra một con kênh đào rộng rãi, thông suốt từ Lạc Dương đến tận Dương Châu. Điều này sẽ giúp cải thiện đáng kể sự kết nối giữa kinh kỳ của triều đình với khu vực Hoài Nam và Giang Nam.
Việc xây dựng kênh đào đã có lịch sử lâu đời. Từ thời Xuân Thu đã có Tự Hà, đến nay đã hơn một ngàn một trăm năm. Sau khi nhà Tần thống nhất thiên hạ, để thông suốt vận tải thủy giữa Tương Giang và Ly Giang, họ cũng đã đào Linh Cừ. Thời Xuân Thu, Ngô Vương Phù Sai xây dựng Hám Thành, đào Hám Câu, thông suốt đường thủy Giang Hoài; Hám Thành chính là Dương Châu ngày nay, con kênh Hám Câu này trải qua ngàn năm, đến tận bây giờ vẫn là tuyến đường thủy quan trọng nhất của Giang Hoài.
Khi bản triều mới lập quốc, định đô ở Trường An vùng Quan Trung, dân cư Quan Trung đông đúc, lương thực phần nhiều dựa vào tiếp tế từ Quan Đông, thường vận chuyển qua Hoàng Hà. Tuy nhiên, nhiều đoạn sông ở thượng và trung lưu Hoàng Hà vô cùng hiểm trở, thuyền bè hay gặp nạn. Vì thế, năm Khai Hoàng thứ tư, Văn Đế đã sai Vũ Văn Khải dẫn đầu thủy công đào thêm Tào Cừ, từ phía tây bắc Đại Hưng Thành của Quan Trung dẫn nước Vị Thủy, men theo lộ trình Tào Cừ thời Hán mà chảy về phía đông, đến Đồng Quan nhập vào Hoàng Hà, dài hơn ba trăm dặm, đặt tên là Quảng Thông Cừ. Từ đó, vận tải đường thủy mới hanh thông, Quan Trung nhờ đó mà được lợi, nên còn gọi là Phú Dân Cừ.
Sau đó vào năm Khai Hoàng thứ bảy, để khởi binh phạt Trần, thống nhất Trung Quốc, lại đặc biệt mở kênh Sơn Dương Độc từ Hoài An đến Dương Châu, về sau lại tiến hành nắn thẳng dòng chảy, không để đoạn giữa phải vòng qua hồ Xạ Dương nữa.
Có thể nói, những người có tầm nhìn trong triều dã thời đại này đều đã sớm nhận ra tầm quan trọng của kênh đào. So với vận tải đường bộ, kênh đào thuận tiện và nhanh chóng hơn, đồng thời tiêu tốn ít phí tổn hơn. Một con kênh đào chính là tuyến đường cao tốc của thời đại này, không chỉ có ảnh hưởng nâng cao kinh tế quan trọng, mà đối với chính trị, thậm chí quân sự đều có sự giúp đỡ to lớn.
Đối với kế hoạch mà Bộ Công đề xuất này, Dịch Phong về nguyên tắc là giữ thái độ tán thành. Mặc dù hậu thế mỗi khi nhắc đến Đại Vận Hà thời Tùy liền liên tưởng đến nào là mười vạn long thuyền, xuống Giang Nam ngắm hoa quỳnh, hôn quân, mất nước, vân vân. Nhưng thực tế, kênh đào chẳng những không phải là "trăm cái hại không một lợi" mà trái lại là một công trình mang lại lợi ích cho muôn đời, thậm chí còn có tính thực dụng hơn cả Trường Thành. Những ấn tượng xấu của hậu thế về kênh đào chủ yếu là do khi nhà Tùy đào kênh, dự án quá lớn, thời gian thi công lại quá gấp rút, dân chúng phải lao dịch khổ cực, cộng thêm việc nhà Tùy đoản mệnh vong quốc, khiến hậu thế đem nguyên nhân mất nước đổ lên đầu kênh đào. Thực tế, trước thời Dương Quảng, thời Dương Kiên đã đào mấy đoạn kênh, đều vô cùng thuận lợi và không hề có vấn đề gì. Hai đoạn kênh đào thời Văn Đế đã thông hành hơn mười năm, được bách tính ngợi khen, cũng đóng góp sức lực to lớn cho việc vận tải lương thực của triều đình.
Dịch Phong sở dĩ giữ thái độ thận trọng, chưa phê duyệt đồng ý ngay lập tức, cũng là vì rút kinh nghiệm từ những rắc rối mà Dương Quảng sau này gây ra khi đào kênh. Đào kênh là việc tốt, nhưng bắt buộc phải lập kế hoạch chi tiết từ trước, thậm chí phải dự toán kinh phí, sắp xếp hậu cần, trưng tập lao dịch... tất cả đều phải hoạch định rõ ràng, gọi là "không đánh trận không có sự chuẩn bị". Đánh trận thì phải dựa vào tình hình thực tế mà chuẩn bị chu toàn, sau đó còn phải chọn đúng tướng lĩnh, có một đội ngũ lãnh đạo thực thi tốt. Làm công trình cũng vậy, nếu chỉ là trung ương đề xuất một dự án, không chuẩn bị gì cả, rồi lập tức giao cho một người không chuyên nghiệp lãnh đạo thao tác, thì chuyện đó không xảy ra rắc rối mới là lạ.
Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Dịch Phong ban xuống một đạo Thái tử giáo, để bách quan cùng quan viên các nơi, thậm chí là những người có tầm nhìn cùng công khai thảo luận về công trình kênh đào, hiến kế hiến sách, đưa ra những ý kiến hữu ích. Đồng thời còn treo thưởng, chỉ cần là ý kiến đóng góp hữu ích đều được ban thưởng, ít nhất cũng là một vạn tiền, thậm chí người đưa ra ý kiến đặc biệt tốt còn được ban huân chương. Ngoài ra, Dịch Phong lại để Ty Tuyên Truyền khởi động hết công suất, bắt đầu bảo chứng cho dự án kênh đào, để thiên hạ đều hiểu rõ rốt cuộc kênh đào là gì, vai trò của nó ra sao, tại sao phải đào kênh, và việc đào kênh có lợi ích gì cho bách tính. Thậm chí, ngay khi dự án còn chưa chính thức lập hạng, Dịch Phong đã tự mình viết một bài đăng trên Hoàng Gia Chu San, trong đó có một điểm mấu chốt là: Triều đình sẽ vay mười triệu quan từ Ngân hàng Phương Bắc làm kinh phí chuyên biệt cho dự án kênh đào. Và đối với việc đào kênh, triều đình sẽ không cưỡng bách dân chúng làm miễn phí nữa, mà áp dụng một phương thức hoàn toàn mới. Triều đình sẽ chiêu mộ lao công tại các nơi, bách tính ứng tuyển làm công nhân đều được trả lương, tối thiểu là năm mươi văn tiền mỗi ngày, người có tay nghề kỹ thuật còn được nhận lương cao hơn. Đồng thời, bên thi công còn bao cả chi phí đi lại cho công nhân, cơm nước tại công trường, cung cấp lều trại, bao ăn bao ở, thậm chí còn phát cả quần áo giày vớ lao động. Cùng lúc đó, Dịch Phong còn đặc biệt bảo Bộ Công thành lập một học viện kỹ thuật, bắt đầu đào tạo tạm thời các loại nhân viên kỹ thuật cho dự án kênh đào từ trước, thậm chí Thái Học ở Lạc Dương cũng mở một lớp mới, chuyên tuyển chọn từ khắp nơi một nhóm lại viên (quan lại cấp thấp) có kinh nghiệm, để họ học cách quản lý công trình, giám sát công trình...
Tóm lại, sau mấy sự kiện lớn như triều đình vừa thu phục Hoài Nam, tiếp đó là Lĩnh Nam quy thuận, Thất Phiên đến triều cống, thì hiện nay trong thành Đông Đô, điều được bàn tán nhiều nhất chính là việc đào kênh. Đối với nhiều người, kế hoạch kênh đào của Thái tử thật sự rất mới lạ, đặc biệt là điểm "dùng tiền chiêu mộ lao công" khiến họ cảm thấy vô cùng khó tin.
Đối với khoản vay mười triệu quan từ Ngân hàng Phương Bắc, nhiều người lại không cảm thấy kỳ lạ, dù sao Ngân hàng Phương Bắc cũng là tài sản tư nhân của Thái tử, chuyện này chẳng qua là Thái tử lấy tiền trong túi mình ra dùng cho việc quốc gia.
Mặc dù nói thường là lấy tiền ngân khố quốc gia bỏ vào nội khố hoàng gia, việc lấy tiền túi cung cấp cho việc nước thực sự là hiếm thấy, nhưng cũng rất phù hợp với phong cách của vị Thái tử được mọi người ca tụng hiện nay, nghe nói quân đội triều đình cơ bản cũng do tiền tài cá nhân của Thái tử nuôi dưỡng.
Nhiều bách tính cũng hết lời ca ngợi dự án này, thỉnh thoảng lại nghe ngóng động tĩnh mới nhất của công trình. Dù sao với một công trình lớn như vậy, nếu tiến độ gấp, có thể sẽ cần đến vài chục vạn lao dịch, mà mỗi nam đinh thời Đại Tùy đều có nghĩa vụ lao dịch miễn phí cho quốc gia hai mươi ngày mỗi năm.
Nếu công trình quá lớn, họ thậm chí phải phục dịch quá hạn, triều đình sẽ khấu trừ một phần tô dung của năm sau. Nghe thì một năm hai mươi ngày có vẻ không dài, nhưng còn phải xem đó là công trình gì. Nếu là đại công trình cấp quốc gia, thường phải đi xuyên châu qua huyện, chỉ riêng việc đi đến công trường đã có thể mất một tháng, đi cả ngàn dặm đường, làm việc hai mươi ngày, đi lại mất hai tháng, lại còn phải tự mang lương thực chăn đệm, rời xa quê hương, đây tuyệt đối là nhiệm vụ lao dịch vô cùng nặng nề.
Còn bây giờ, Thái tử không cưỡng bách họ nữa, chỉ thu mỗi người một trăm văn tiền thay dịch là có thể miễn được chuyến lao dịch này. Theo tiêu chuẩn thay dịch cũ của triều đình, vốn là mỗi ngày tính bằng hai thước lụa, hai mươi ngày thay dịch phải mất một tấm lụa, giá trị lên tới cả ngàn văn tiền. Bây giờ, Thái tử chỉ thu họ một trăm văn là được miễn dịch. Đồng thời, nếu nơi ở không quá xa, họ cũng có thể đăng ký đến làm việc. Dù là nam đinh không biết gì, thì mỗi ngày cũng được bao ăn bao ở, bao chi phí đi lại, ở công trường mỗi ngày còn nhận được năm mươi văn tiền. Nhiều người đã thầm tính toán trong lòng, chỉ cần quan phủ chính thức chiêu mộ lao công, họ sẽ lập tức đăng ký. Nếu có thể cố gắng làm một năm, liền có thể nhận được mười tám ngàn tiền công, nếu số tiền này tiết kiệm được, có thể mua được hai con bò lớn nhỏ, thậm chí là dựng được một căn nhà mới, định một mối hôn nhân cho con trai rồi.
Điều mà các thương nhân chú ý đến, chính là vấn đề thu phí kênh đào mà Thái tử mới tiết lộ sơ qua. Sau khi kênh đào xây xong, tương lai sẽ lập một số trạm thu phí trên kênh để thu phí các thuyền bè qua lại. Tuy nhiên, cụ thể khi đó trên kênh sẽ có bao nhiêu trạm thu phí, thu như thế nào, phí qua đường bao nhiêu, vẫn chưa tiết lộ thêm. Một số thương nhân cảm thấy lo lắng về điều này, nhưng ngay lập tức, một vài thương nhân Hoài Hoang đã cười bảo họ đang "lo bò trắng răng".
Ngày nay trong thiên hạ, cùng với việc Thái tử lên ngôi, thương nhân Hoài Hoang đã đi khắp cả nước, trở thành nhóm thương nhân nổi tiếng nhất thiên hạ. Họ khởi nghiệp cùng Thái tử, ngày nay ai nấy đều gia sản hậu hĩnh, có Thái tử và Ngân hàng Phương Bắc làm hai chỗ dựa lớn, những thương nhân này có thể nói là thuận buồm xuôi gió. Đối với việc đào kênh Giang Hoài, họ giơ cả hai tay tán thành. Còn đối với nỗi lo của một số thương nhân về việc thu phí kênh đào, họ lại càng khinh thường.
Từ xưa đến nay, các triều đại đều ức chế thương nhân, nhưng Thái tử tuyệt đối là một ngoại lệ. Khi còn ở Hoài Hoang, chính nhờ sự ủng hộ hết mình và dẫn dắt trực tiếp của Thái tử mới có sự hưng khởi của thương nhân Hoài Hoang. Thái tử khi ở Hoài Hoang cũng từng tu sửa đường sá, cũng từng đặt trạm thu phí, nhưng phí đường bộ thu không cao. Số tiền ít ỏi đó hoàn toàn không đáng kể, mà sau khi Thái tử sửa đường lập trạm thu phí, còn phái người phụ trách tuần tra, chống trộm cướp, bảo vệ con đường, đồng thời phái người chuyên trách bảo trì đường sá, điều này đã mang lại sự tiện lợi cực lớn cho các thương nhân. Hiện nay dù đường thủy thông đến Giang Hoài cũng có sẵn, nhưng thuyền nhiều sông hẹp, rất dễ bị tắc nghẽn trên đường. Nếu bỏ ra chút tiền nhỏ mà có được một dòng sông thông suốt để đi, thì thương nhân nào lại để ý đến chút phí qua đường đó chứ.