Hỡi các thiện nam tín nữ (hắn cất tiếng), khi ta giảng đạo trong nhà thờ, ta luôn cố gắng cất giọng thật vang dang, rền rang như tiếng chuông ngân, bởi mọi điều ta sắp nói, ta đã nằm lòng từ thủa nào.
Chủ đề của ta vẫn luôn là một, xưa nay vẫn vậy: Radix malorum est cupiditas.
Đầu tiên, ta xướng lên mình đến từ đâu, rồi ta chìa ra tất cả các trát sắc của mình; ấn tín của vị chúa thượng ta gắn trên văn thư, ta giơ ra trước tiên để bảo vệ thân chủ ta, hầu chẳng kẻ nào, dù là linh mục hay giáo sĩ, dám cả gan gây rối công việc thánh thiêng của Chúa.
Và đoạn, ta mới bắt đầu kể chuyện. Ta trưng ra những sắc phong của giáo hoàng, hồng y, thượng phụ và giám mục, rồi ta thốt lên dăm ba câu tiếng Latinh để tô điểm cho bài giảng của mình, cốt sao kích thích lòng sùng kính ở mọi người.
Rồi ta đưa ra những viên pha lê dài, chứa đầy những mảnh vải vụn và xương xẩu; ai nấy đềuinh ninh đó là xá lợi thánh.
Đoạn, ta cầm một khúc xương vai làm bằng đồng thau, vốn là xương sườn của một con cừu thuộc về một người Do Thái thánh thiện.
“Hỡi các thiện nam,” ta cất lời, “hãy lắng nghe kỹ lời ta: Nếu khúc xương này được rửa trong bất kỳ giếng nước nào, và có con bò, con bê, con cừu hay con bò mộng nào bị sưng trướng do sâu bọ gặm hoặc do côn trùng chích, hãy lấy nước giếng ấy rửa lưỡi cho nó, lập tức nó sẽ khỏi bệnh. Hơn thế nữa, phàm là cừu bị mụn nhọt, ghẻ lở hay bất kỳ vết thương nào, nếu uống một ngụm nước giếng này đều sẽ lành lặn cả; hãy ghi nhớ những điều ta bảo.
Nếu người chủ gia đình sở hữu bầy gia súc ấy, mỗi tuần, trước khi gà gáy, mà uống một ngụm nước giếng này khi bụng đói, y như vị người Do Thái thánh thiện thuở xưa đã dạy các bậc tiền bối của chúng ta, thì đàn gia súc và tài sản của y sẽ sinh sôi nảy nở. Thưa các ngài, nước này còn chữa được cả bệnh ghen tuông; bởi dẫu một người có rơi vào cơn cuồng nộ ghen tuông, hãy dùng nước này nấu cháo cho y ăn, y sẽ chẳng bao giờ hoài nghi vợ mình nữa, dẫu y có tường tận biết rõ tội lỗi của nàng, dẫu nàng có qua lại với hai hay ba gã linh mục đi chăng nữa.
Ở đây còn có một chiếc găng tay mà quý vị có thể thấy; kẻ nào đút tay vào chiếc găng này, lúa mì hay lúa yến mạch khi gieo trồng sẽ được mùa bội thu, miễn là hắn dâng cúng tiền xu hoặc tiền groat.
Hỡi các ông các bà, ta xin cảnh giác quý vị điều này: Nếu trong nhà thờ lúc này có bất kỳ kẻ nào đã phạm tội ác độc đến mức không dám xưng tội vì hổ thẹn, hay có người phụ nữ nào, dù trẻ hay già, đã cắm sừng chồng mình, thì những kẻ đó sẽ không có đủ uy quyền hay ân sủng để dâng lễ vật lên các thánh tích của ta ở nơi này.
Còn ai thấy mình vô can với những lỗi lầm đó, hãy bước lên và dâng lễ nhân danh Chúa; và ta sẽ tha tội cho họ theo thẩm quyền đã được ban phát cho ta qua sắc phong.”
Nhờ cái mánh khóe này, năm này qua năm khác, ta đã kiếm được trăm mác từ khi trở thành kẻ bán bùa xá tội.
Ta đứng tựa giáo sĩ trên bục giảng, và khi đám đông u mê đã ngồi xuống tĩnh lặng, ta bắt đầu giảng đạo như quý vị vừa nghe, rồi kể cho họ nghe hàng trăm mẩu chuyện tiếu lâm khác.
Khi ấy, ta cố rướn cổ dài ra, ngó đông ngó tây nhìn đám đông như một con bồ câu đậu trên mái nhà tranh; tay và lưỡi ta chuyển động thoăn thoắt đến nỗi nhìn cảnh ta làm việc cũng đủ thấy vui mắt.
Toàn bộ bài giảng của ta đều xoay quanh lòng tham và những thói đời đồi bại ấy, cốt sao khơi gợi sự hào phóng ở họ để họ dâng tiền xu, và nhất là dâng cho ta.
Bởi mục đích của ta chẳng qua chỉ vì lợi lộc, chứ nào phải để sửa đổi tội lỗi. Ta chẳng màng gì đến việc khi họ chôn cất, linh hồn họ sẽ trôi dạt đến chốn tăm tối khốn cùng.
Quả thật, nhiều bài giảng thường bắt nguồn từ những ý đồ đen tối; kẻ thì vì muốn làm vừa lòng người khác rồi nịnh hót để thăng tiến nhờ thói giả hình, kẻ vì hư vinh, kẻ vì thù hận.
Bởi khi ta không dám tranh cãi bằng cách khác, ta sẽ dùng cái lưỡi cay độc của mình để châm chích hắn trong bài giảng, sao cho hắn không tài nào trốn chạy khỏi việc bị bôi nhọ oan uổng, nếu hắn từng xúc phạm đến các huynh đệ của ta hoặc đến ta.
Dẫu ta không nêu đích danh hắn, mọi người vẫn thừa biết đó là ai qua những dấu hiệu và các tình tiết khác.
Đấy là cách ta trả đũa những kẻ gây phiền hà cho chúng ta; đấy là cách ta nhổ ra thứ nọc độc của mình dưới lớp vỏ bọc thánh thiện, để ra vẻ đạo đức và ngay thẳng.
Nhưng tóm lại, ta xin bày tỏ ý định của mình: ta chẳng giảng về điều gì khác ngoài lòng tham lam.
Thế nên chủ đề của ta vẫn là, và mãi mãi là: Radix malorum est cupiditas.
Bằng cách đó, ta có thể giảng đạo chống lại chính cái thói hư tật xấu mà ta đang vướng mắc, ấy là lòng tham lam.
Nhưng dẫu bản thân ta có vướng vào tội lỗi ấy, ta vẫn có thể khiến những người khác từ bỏ lòng tham và ăn năn cay đắng.
Song đó không phải là mục đích chính của ta; ta giảng đạo hoàn toàn chỉ vì lòng tham tiền bạc. Về vấn đề này, bấy nhiêu đây thiết tưởng đã quá đủ.
Đoạn, ta kể cho họ nghe vô số gương tích từ những câu chuyện cổ tích xa xưa; bởi những kẻ dốt nát rất ưa chuộng chuyện đời xưa, và chúng dễ dàng ghi nhớ cũng như lĩnh hội những điều ấy.
Sao hả? Quý vị tưởng rằng trong khi ta có thể giảng đạo và thu về vàng bạc nhờ vào việc giảng dạy ấy, mà ta lại muốn sống trong cảnh nghèo khó tự nguyện chắc?
Không, không, ta chưa từng tơ tưởng đến điều đó bao giờ.
Bởi ta sẽ đi giảng đạo và khất thực ở khắp các xứ sở; ta chẳng đời nào chịu lao động bằng đôi tay của mình, hay đan giỏ để kiếm sống qua ngày chỉ vì không muốn đi xin ăn một cách vô tích sự.
Ta chẳng có ý định bắt chước các tông đồ; ta muốn có tiền bạc, len lọi, phô mai và lúa mì, dẫu cho chúng có được bố thí từ kẻ cùng đinh nhất, hay từ người quả phụ nghèo khổ nhất trong làng, dẫu cho con cái họ có phải chết đói đi chăng nữa.
Không, ta muốn nhấm nháp thứ rượu vang ngon lành, và có một ả nhân tình vui vẻ ở mỗi thị trấn ta đi qua.
Nhưng hỡi các bậc quyền quý, xin hãy lắng nghe phần kết luận: Quý vị đang muốn nghe một câu chuyện, và giờ đây, sau khi đã nốc một ngụm bia lúa mạch đậm đà, nhân danh Chúa, ta hy vọng sẽ kể cho quý vị nghe một câu chuyện hợp tình hợp lý và vừa lòng quý vị.
Bởi dẫu bản thân ta là một kẻ vô lại đầy rẫy thói hư tật xấu, ta vẫn có thể kể cho quý vị nghe một câu chuyện mang tính đạo đức, thứ mà ta vẫn thường dùng để giảng đạo nhằm kiếm tiền.
Giờ thì xin hãy giữ yên lặng, ta chuẩn bị bắt đầu câu chuyện của mình đây.
Thuở trước ở xứ Flanders có một nhóm thanh niên thích sống phóng túng, chìm đắm trong những trò trụy lạc, cờ bạc, nhà thổ và quán rượu; nơi mà tiếng đàn luýt, đàn hạc và đàn ghi-ta vang lên, ngày đêm họ ca múa, đánh bạc, ăn uống quá sức.
Chính qua những hành vi sa đọa ấy, họ đang dâng tế thần linh trong ngôi đền của quỷ dữ một cách đầy nguyền rủa và ngập ngụa sự phung phí ghê tởm.
Những lời thề thốt của họ lớn lao và đáng nguyền rủa đến mức nghe họ thề thốt cũng đủ thấy rợn tóc gáy.
Họ xé xác thân thể Chúa vô lượng phước của chúng ta; trong thâm tâm, họ cho rằng người Do Thái vẫn chưa phanh thây Ngài đủ độ, và từng kẻ bọn họ đều cười nhạo tội lỗi của nhau.
Vừa lúc ấy, những ả vũ nữ xinh xắn, dáng người nhỏ nhắn, cùng những cô bán hoa quả trẻ trung bước vào.
Những ca sĩ ôm đàn hạc, bọn đàn đúm chơi bời, những kẻ bán bánh ngọt, tất cả đều là tay sai đắc lực của quỷ dữ, đến để nhen nhóm và thổi bùng ngọn lửa dâm ô vốn gắn liền với thói phơi phới trác táng.
Ta xin lấy Kinh Thánh làm nhân chứng rằng sự dâm đãng nằm trong rượu chè và sự say sưa.
Hãy nhìn xem Lót trong cơn say đã vô ơn và vô tình nằm với hai cô con gái của mình ra sao khi không hề hay biết, say khướt đến độ chẳng biết mình đang làm gì.
Hê-rốt, kẻ đã cất công tìm tòi kinh sử, khi đã ngập tràn hơi men trong một bữa tiệc, ngay tại bàn ăn của mình đã hạ lệnh chém đầu Gio-an Tẩy Giả một cách đầy oan ức.
Xê-nê-ca đã để lại một câu nói hay biết nhường nào, quả không hổ danh: Ông bảo rằng ông chẳng thể tìm thấy điểm gì khác biệt giữa một kẻ mất trí và một kẻ chìm đắm trong men say, chỉ có điều sự điên cuồng của kẻ nát rượu thường kéo dài lâu hơn sự say xỉn thông thường.
Ôi thói ham ăn tục uống, cội nguồn của mọi sự đồi bại! Ôi nguyên nhân đầu tiên dẫn đến sự lầm đường lạc lối của chúng ta, nguồn gốc của sự đọa đày, cho đến khi Chúa chuộc lại chúng ta bằng chính dòng máu của Ngài!
Nói ngắn gọn lại, hãy nhìn xem cái giá đắt đỏ biết bao để chuộc lại tội lỗi ghê tởm này ban đầu: Cả thế giới này đã vì thói phơi phới trác táng mà trở nên ô trọc.
Tổ phụ A-đam của chúng ta cùng người vợ của ông đã bị trục xuất khỏi Vườn Địa Đàng, phải chịu cảnh lao nhọc và đau khổ cũng chính vì thói hư tật xấu ấy, điều đó chẳng có gì phải nghi ngờ.
Bởi chừng nào A-đam còn ăn chay, theo như ta đọc được, ông vẫn ở trong Vườn Địa Đàng; và khi ông ăn trái cây bị cấm ở trên cây, ngay lập tức ông bị quăng ra nơi đau khổ và đớn đau.
Ôi thói phơi phới trác táng! Đáng lẽ chúng ta phải ôm hận oán than ngươi xiết bao.
Ồ! Giả sử một người thấu hiểu biết bao nhiêu bệnh tật phát sinh từ sự ăn uống quá độ và thói trác táng, chắc chắn hắn sẽ biết điều độ hơn trong chế độ ăn uống khi ngồi vào bàn ăn.
Khốn thay! Chỉ vì cái cổ họng ngắn ngủi và cái miệng phàm ăn ấy mà người ta ở khắp nơi đông tây nam bắc, trên mặt đất, trong không trung và dưới nước, phải nhọc nhằn lao động cốt sao kiếm cho được những món ăn thức uống ngon lành cung phụng cho kẻ phàm ăn.
Hỡi Phao-lô, ngài có thể bàn luận rành mạch về vấn đề này biết bao: Thức ăn dành cho bụng, và bụng dành cho thức ăn, Chúa sẽ tiêu hủy cả hai như lời Phao-lô đã viết.
Khốn thay, thật là một điều ô uế khi thốt lên lời này, và còn ô uế hơn nữa khi hành động, khi con người nốc thứ rượu trắng rượu đỏ nhiều đến mức biến cổ họng mình thành cái hố xí chính vì sự thừa mứa đáng nguyền rủa ấy.
Vị sứ đồ vừa khóc thảm thiết vừa nói, có rất nhiều kẻ mà ta đã từng kể cho quý vị nghe — giờ đây ta vừa nói vừa khóc với giọng đầy bi ai — rằng họ là những kẻ thù của thập giá Chúa; mà đoạn kết của họ là sự hủy diệt, cái bụng chính là chúa tể của họ, và sự vinh quang của họ nằm ở chính sự ô nhục, những kẻ chỉ mưu cầu sự đời này.
Ôi cái bụng, cái dạ dày, chiếc túi hôi thối đầy rẫy phân và những thứ ô uế! Cả hai đầu của ngươi phát ra những âm thanh thật dơ dáy biết bao.
Biết bao công sức và tiền bạc tốn kém để nuôi dưỡng ngươi! Nhìn cách những kẻ đầu bếp giã, lọc, nghiền ngẫm, biến đổi bản thể thành hình tướng, cốt sao thỏa mãn trọn vẹn ham muốn thèm thuồng của ngươi kìa!
Chúng đập vỡ những khúc xương cứng để lấy tủy, chẳng vứt đi thứ gì có thể trôi qua cuống họng một cách êm ái và ngọt ngào.
Nào gia vị, lá cây, vỏ cây và rễ cây, tất cả được chế biến thành món nước sốt đầy quyến rũ để kích thích hắn thèm ăn trở lại.
Nhưng quả thực, kẻ nào chìm đắm trong những sự thụ hưởng đó thì dẫu hãy còn sống mà tâm hồn đã chết.
Rượu vang là một thứ dâm ô, còn sự say xỉn thì ngập tràn tranh chấp và khốn khổ.
Ôi kẻ nát rượu! Gương mặt ngươi đã bị bóp méo, hơi thở chua lét, ôm lấy ngươi thật gớm ghiếc biết bao; và qua cái mũi say xỉn của ngươi phát ra những âm thanh tựa như ngươi cứ luôn miệng gào lên: “Săm-sôn! Săm-sôn!”
Thế mà, Chúa mới thấu tỏ, Săm-sôn chưa từng uống một giọt rượu vang nào trong đời.
Ngươi ngã quỵ như một con heo bị chọc tiết; lưỡi ngươi tê dại, chẳng còn màng đến liêm sỉ hay sự cẩn trọng nào nữa; bởi say xỉn chính là nấm mồ chôn vùi lý trí và sự khôn ngoan của con người.
Kẻ nào bị hơi men sai khiến, y chẳng thể giữ nổi bí mật nào đâu, điều đó chẳng có gì phải hoài nghi.
Giờ đây, hãy tránh xa rượu trắng và rượu đỏ, và đặc biệt là thứ rượu trắng xứ Lepe được bày bán ở Phố Cá và khu Cheap.
Thứ rượu Tây Ban Nha này len lỏi một cách xảo quyệt vào những loại rượu khác sản xuất ở gần đó, bốc lên thứ hơi men nồng nặc đến mức khi một người nốc trọn ba ly và đinh ninh rằng mình đang ở nhà tại khu Cheap, thì thực ra hắn đang ở tận Tây Ban Nha, ngay tại thị trấn Lepe, chứ chẳng phải ở La Rochelle hay thành phố Bordeaux; và lúc ấy hắn sẽ lại lảm nhảm kêu lên: “Săm-sôn! Săm-sôn!”
Nhưng hỡi các bậc quyền quý, xin hãy lắng nghe ta một lời, ta dám chắc rằng mọi chiến công hiển hách của các trận chiến trong Cựu Ước, nhờ vào quyền năng của vị Chúa toàn năng, đều được làm nên trong sự tiết chế và cầu nguyện: Hãy lật xem Kinh Thánh, quý vị sẽ học được điều đó.
Hãy nhìn A-ti-la, vị đại chinh vương, đã chết trong giấc ngủ vì hổ nhục và ô nhục, máu ròng ròng chảy ra từ mũi do say xỉn. Một vị tướng lĩnh muôn đời phải sống trong sự tỉnh táo.
Hơn thế nữa, hãy suy ngẫm cho thật kỹ điều đã được truyền dạy cho Lê-mu-ê; không phải Sa-mu-ên đâu nhé, Lê-mu-ên cơ, ta xin nhấn mạnh là thế.
Hãy đọc Kinh Thánh, quý vị sẽ tìm thấy rõ ràng những lời răn về việc ban phát rượu cho những kẻ nắm giữ công lý.
Ta không nói thêm về điều này nữa, bấy nhiêu đây thiết tưởng đã quá đủ.
Và giờ đây, sau khi đã bàn về thói phơi phới trác táng, ta sẽ cấm tiệt nạn cờ bạc.
Cờ bạc chính là mẹ đẻ của sự dối trá, lừa lọc, và những lời thề thốt nguyền rủa; là sự lộng ngôn lăng mạ Chúa, tội sát nhân, sự hoang phí của cải lẫn thời gian; hơn thế nữa, mang tiếng là một kẻ cờ bạc chuyên nghiệp là một sự ô nhục, đi ngược lại với phẩm giá.
Và kẻ nào địa vị càng cao, y càng bị coi là kẻ tồi tàn, vô tích sự chừng ấy.
Nếu một vị vương tử chìm đắm trong cờ bạc, trong mọi đường lối cai trị và chính sách, theo đánh giá chung của thiên hạ, uy tín của y sẽ sụt giảm nghiêm trọng.
Chi-lôn, vị đại sứ thông thái, từng được phái đến Cô-rin-tô với nghi thức trọng thể từ xứ La-xê-đê-môn để ký kết bang giao; và khi đến nơi, ngài tình cờ bắt gặp tất cả những nhân vật quyền quý bậc nhất của vùng đất ấy đang say sưa sát phạt nhau trên chiếu bạc.
Ngay khi vừa trông thấy cảnh tượng ấy, ngài liền lủi thủi trốn về nước, và tuyên bố rằng: “Ta thà đánh mất danh tiếng, thà chịu đựng tiếng xấu muôn đời chứ quyết không để các ngươi đem danh nghĩa liên minh với một lũ con bạc khát máu.”
“Hãy phái những sứ thần khôn ngoan khác đến đây, vì danh dự của ta, thà ta chết chứ không chịu để các ngươi kết thân với bọn cờ bạc.”
“Bởi theo ý muốn và hiệp ước của ta, những kẻ vinh hiển rực rỡ như các ngươi không được phép vấy bẩn bằng cách giao du với phường sát phạt.” Vị triết gia thông thái đã cất lời như thế đấy.
Lại nhìn xem vua Pác-thia đã gửi cho vua Đê-mê-tri-u một đôi súc sắc bằng vàng để chế giễu ngài ra sao, chỉ vì trước kia ngài từng ham mê cờ bạc; khiến cho mọi vinh quang và tiếng tăm của ngài bị rẻ rúng, chẳng còn chút uy tín nào.
Bậc vương hầu có thể tìm kiếm những trò tiêu khiển khác đủ thanh tao để giết thời gian.
Giờ đây, ta xin nói đôi lời về những lời thề thốt gian dối và nặng nề, đúng như lời sách vở cổ xưa đã dạy.
Thề thốt bừa bãi là một điều gớm ghiếc, còn thề gian lại càng đáng tru diệt hơn nữa.
Chúa Tối Cao cấm tuyệt việc thề thốt; hãy làm chứng bằng sách Ma-thi-ơ: nhưng đặc biệt về việc thề, thánh Giê-rê-mi-a đã phán rằng: Ngươi hãy thề thật lòng với những lời thề của mình chứ đừng dối trá, và hãy thề trong sự phán quyết cùng sự công chính; còn thề thốt vẩn vơ là một điều tội lỗi.
Hãy ngắm nhìn và chiêm nghiệm xem, ngay trên bảng luật thứ nhất của những điều răn chí tôn từ Chúa Trời, điều răn thứ hai của Ngài là gì: Chớ lấy danh Ta mà thề vẩn vơ hoặc làm điều sai quấy.
Kìa, Ngài thà cấm việc thề thốt đó còn hơn cả tội sát nhân hay vô số điều nguyền rủa khác; ta nói rằng luật cứ theo thứ tự ấy mà đứng; bất cứ ai thấu hiểu những điều răn của Ngài đều biết rõ điều răn thứ hai của Chúa chính là thế.
Hơn thế nữa, ta xin tuyên bố một cách rạch ròi rằng tai họa sẽ chẳng bao giờ rời bỏ mái nhà của kẻ có những lời thề thốt ngông cuồng.
“Nhân danh trái tim trân quý của Chúa, và những chiếc đinh đóng đinh Ngài, và dòng máu của Chúa Christ đang lưu giữ tại Hailes, con số bảy là vận may của ta, còn của ngươi là năm với ba: Nhân danh đôi cánh tay Chúa, nếu mày dám chơi gian, con dao găm này sẽ đâm xuyên qua tim mày cho xem.”
Hậu quả sinh ra từ hai khúc xương nguyền rủa ấy chính là thói thề gian, sự giận dữ, lòng xảo trá và tội sát nhân.
Giờ đây, vì tình yêu đối với Đấng Cứu Thế đã chết vì chúng ta, hãy từ bỏ những lời thề thốt, dù lớn hay nhỏ.
Nhưng thưa các ngài, giờ là lúc ta tiếp tục câu chuyện của mình.
Ba tên du đãng mà ta đang kể, từ trước khi tiếng chuông điểm giờ ban mai vang lên, đã ngồi tụ tập trong một quán rượu để chè chén; và trong lúc đang ngồi, chúng nghe thấy tiếng chuông đinh đinh vang lên trước một cỗ quan tài đang được khiêng đi chôn.
Một tên trong số chúng liền gọi tên đầy tớ của mình: “Đi mau,” hắn bảo, “và hỏi cho rõ ngay xem cỗ quan tài nào đang đi ngang qua đây, và nhớ tìm hiểu cho kỹ tên tuổi của kẻ đó.”
“Thưa ngài,” cậu bé đáp, “chẳng cần phải nhọc công thế đâu; người ta đã kể cho con nghe từ hai tiếng trước khi ngài đến đây rồi; hắn vốn là một người quen cũ của các ngài đấy, và đột ngột bị giết chết ngay trong đêm qua.”
“Khi đang ngồi thẳng cẳng trên băng ghế vì say khướt, một tên trộm lén lút mà người ta vẫn gọi là Thần Chết, kẻ đang tước đoạt sinh mạng của toàn bộ dân chúng trong vùng này, đã xộc tới và dùng giáo đâm thủng trái tim hắn làm đôi, rồi bỏ đi thẳng mà không nói thêm nửa lời.”
“Hắn đã hạ sát cả ngàn người trong đợt dịch hạch này rồi; và thưa đại nhân, trước khi ngài bước vào lãnh địa của hắn, con thiết nghĩ chúng ta hết sức cần phải đề phòng một kẻ thù nguy hiểm như thế; hãy luôn trong tư thế sẵn sàng đối đầu với hắn mọi lúc mọi nơi. Mẹ con đã dạy con như thế đấy, con xin hết.”
“Nhân danh Đức Mẹ,” chủ quán rượu lên tiếng, “cậu bé nói rất phải, bởi vì ngay tại ngôi làng lớn cách đây chừng hơn một dặm, năm nay hắn đã giết sạch không sót một ai, từ đàn ông, đàn bà, trẻ con cho đến gia đing và tiểu đồng; ta tin chắc sào huyệt của hắn ở tận đổng đao trong ấy.”
“Biết cảnh giác trước khi hắn giáng họa cho ai đó quả là một sự khôn ngoan lớn.”
“Ừ, nhân danh đôi cánh tay Chúa,” tên du đãng cất lời, “gặp gỡ hắn lại là chuyện nguy hiểm đến thế cơ à? Ta sẽ đi lùng sục hắn qua từng ngõ ngách, từng con phố.”
“Ta xin thề bởi những khúc xương tôn quý của Chúa. Này các chiến hữu, ba chúng ta là một: Mỗi người hãy giơ tay lên thề với người kia, và kết nghĩa huynh đệ với nhau, chúng ta sẽ tiêu diệt tên phản tặc mang tên Thần Chết ấy!”
“Hắn sẽ phải bỏ mạng, kẻ đã tước đoạt sinh mạng của ngấy bao nhiêu người, nhân danh phẩm giá của Chúa, trước khi trời tối hẳn!”
Thế là cả ba cùng nhau thề quyết sinh tử có nhau, đối xử với nhau tựa những người anh em kết nghĩa.
Và chúng vùng dậy trong cơn say cuồng loạn, kéo nhau tiến thẳng về phía ngôi làng mà chủ quán rượu vừa nhắc tới trước đó, miệng thốt ra vô số lời thề thốt rợn tóc gáy, và thi thể hồng phúc của Chúa bị chúng xé xác tơi bời.
“Thần Chết chắc chắn sẽ phải chết, nếu chúng ta tóm được hắn!”
Khi chúng vừa đi chưa được nửa dặm, ngay lúc định bước qua một cái bậc rào, một cụ già nghèo khổ liền tiến đến chào chúng.
Ông cụ cúi đầu cung kính chào chúng và cất lời: “Mong Chúa phù hộ cho các ngài, thưa các đại nhân!”
Tên kiêu ngạo nhất trong ba gã du đãng trừng mắt nhìn lại: “Sao hả? Thằng khốn kiếp vô ơn kia, tại sao mày lại trùm kín mít từ đầu đến chân thế hả?”
“Sao mày lại sống lâu đến thế trong khi đã già nua lụm khụm thế này?”
Ông cụ liền ngước lên nhìn thẳng vào mặt hắn, rồi chậm rãi đáp: “Bởi vì ta đi khắp nơi từ tận Ấn Độ, mà chẳng thể tìm thấy dù chỉ một người, dù ở thành thị hay thôn xóm nào, chịu đổi tuổi trẻ của mình lấy tuổi già của ta; và vì thế, ta đành phải tiếp tục mang cái tuổi già này cho đến khi nào Chúa muốn.”
“Còn Thần Chết, khốn thay, hắn lại chẳng thèm lấy đi mạng sống của ta!”
“Thế nên ta cứ lang thang như một kẻ khốn khổ không nhà không cửa, và trên mặt đất này, cánh cổng của đất mẹ, ta lấy gậy gõ xuống vào lúc sáng sớm lẫn đêm khuya, miệng van nài: ‘Hỡi mẹ hiền, xin hãy mở cửa đón con vào.’”
“Kìa nhìn xem thân hình ta tiêu tụy, da bọc xương thế này đây! Khốn thay, đến bao giờ xương cốt ta mới được nghỉ ngơi? Mẹ ơi, con sẵn sàng đổi chiếc rương đựng áo quan đã để lâu năm trong phòng mình lấy một tấm vải bố để quấn thân đây.’”
“Thế nhưng đất mẹ vẫn chẳng rủ lòng thương xót ấy đối với ta, khiến cho gương mặt ta ngày càng xanh xao và nhăn nheo héo hắt.”
“Nhưng thưa các ngài, việc thốt ra những lời lăng mạ cay độc với một ông già là một điều thiếu lịch sự, trừ khi ông ta lầm lỗi trong lời nói hoặc hành động.”
“Quý vị có thể tự mình đọc thấy trong Kinh Thánh: ‘Trước mặt người già tóc bạc, các ngươi phải đứng dậy tỏ lòng kính trọng:’ vì thế ta khuyên các ngài, chớ nên làm tổn hại đến người cao tuổi, cũng đừng làm điều gì mà quý vị không muốn người ta làm cho mình khi về già, nếu quý vị có phúc thọ sống đến ngửa ấy.”
“Và cầu xin Chúa ở cùng quý vị, dù quý vị đi chân hay cưỡi ngựa. Giờ thì ta phải đi đến nơi ta cần đến đây.”
“Không, lão khốn kiếp kia, nhân danh Chúa, mày đừng có hòng chuồn đi như thế,” tên con bạc thứ hai gầm lên,
“Mày không dễ gì thoát nạn đâu, nhân danh Thánh Gio-an! Mày vừa mới nhắc đến tên phản tặc Thần Chết, kẻ đang tước đoạt sinh mạng của tất cả bạn bè chúng ta trong xứ sở này.”
“Hãy khai mau hắn đang ở đâu, nếu không mày sẽ phải đền tội bằng chính cái mạng của mình, nhân danh Chúa và bí tích thánh thiêng!”
“Bởi quả thực mày chính là đồng lõa của hắn nhằm tiêu diệt bọn ta, những kẻ trẻ tuổi, hỡi tên trộm khốn kiếp!”
“Thưa các ngài,” ông cụ đáp, “nếu các ngài tha thiết muốn tìm Thần Chết đến thế, hãy rẽ vào con đường mòn uốn lượn kia, vì ta vừa bỏ lại hắn dưới gốc cây trong khu rừng nhỏ ấy, và hắn đang chờ ở đó; hắn chẳng thèm trốn tránh những lời thách thức ngạo mạn của các ngài đâu.”
“Các ngài có thấy cây sồi kia không? Ngay tại đó các ngài sẽ tìm thấy hắn. Xin Chúa phù hộ cho các ngài, Đấng đã cứu chuộc nhân loại, và ban ơn cho các ngài!” Nói dứt lời, ông cụ bước đi.
Và thế là từng tên trong bọn du đãng cắm cổ chạy thục mạng cho đến khi tới được gốc cây, nơi chúng tìm thấy vô số đồng tiền vàng flori tròn vo, sáng loáng,
tính ra phải xấp xỉ bảy giạ, theo như chúng ước lượng. Từ khoảnh khắc ấy, chúng hoàn toàn quên bẵng đi việc đi tìm Thần Chết;
ngược lại, tất cả đều vui mừng khôn xiết trước cảnh tượng ấy, vì những đồng tiền vàng quá đỗi rực rỡ và xinh đẹp, nên chúng liền sà xuống ngồi bên cạnh kho báu quý giá.
Tên trẻ tuổi nhất trong bọn cất lời trước tiên:
“Này các huynh đệ,” hắn bảo, “hãy lắng nghe kỹ những gì ta sắp nói đây; trí khôn của ta rất lớn, dẫu ta có đang đùa giỡn đi chăng nữa.”
“Kho báu này do Vận Mệnh ban tặng cho chúng ta để sống một cuộc đời sung sướng và hoan hỉ; dễ kiếm thì cũng dễ tiêu. Này! Nhân danh phẩm giá trân quý của Chúa! Ai có ngờ hôm nay chúng ta lại có được cơ may tuyệt vời đến thế?”
“Nhưng ngặt nỗi làm sao mang số vàng này rời khỏi chốn đây để về nhà ta hoặc nhà các ngươi (vì ta thừa biết tất cả số vàng này là của chúng ta), thì khi ấy chúng ta mới thực sự đạt đến đỉnh cao hạnh phúc.”
“Tuy nhiên, nếu ban ngày thì không thể làm được; người ta sẽ bảo chúng ta là bọn trộm cướp chuyên nghiệp, và rồi chúng ta sẽ bị treo cổ vì chính kho báu của mình.”
“Kho báu này buộc phải được chuyển đi vào ban đêm, thật cẩn trọng và kín đáo hết mức có thể.”
“Vì thế ta kiến nghị thế này: chúng ta hãy bốc thăm chung với nhau, và xem vận may rủi sẽ rơi vào ai; kẻ nào trúng thăm, với một tâm hồn hân hoan, sẽ phải chạy vào thị trấn, thật nhanh chóng và kín đáo mang bánh mì cùng rượu vang về đây; còn hai chúng ta sẽ ở lại đây canh chừng kho báu này một cách cẩn mật.”
“Và nếu hắn không la cà dọc đường, khi màn đêm buông xuống, chúng ta sẽ cùng nhau chuyển kho báu này đến nơi nào chúng ta cho là an toàn nhất.”
Thế rồi một tên cầm những lá thăm trong nắm tay, giơ lên bảo chúng rút xem vận rủi rơi vào ai; và kết quả là trúng vào kẻ trẻ tuổi nhất trong cả ba;
lập tức hắn lên đường đi thẳng về phía thị trấn.
Và ngay khi hắn vừa khuất dạng, tên thứ nhất quay sang thì thầm với tên kia:
“Mày thừa biết mày là anh em kết nghĩa của tao; tao sẽ nói cho mày biết điều gì có lợi nhất cho mày ngay lúc này.”
“Mày cũng thấy đấy, thằng bạn chúng ta đã đi rồi, và ở đây có một lượng vàng rất lớn, chúng ta sẽ chia đều nó cho ba người.”
“Nhưng dẫu sao đi nữa, nếu tao có thể xoay xở sao cho số vàng này chỉ chia đôi cho hai chúng ta thôi, chẳng phải tao vừa làm một nghĩa cử chí cốt với mày đó sao?”
Tên kia đáp: “Tao chịu chết chẳng biết làm thế nào được; hắn thừa thừa biết số vàng này là của cả ba chúng ta cơ mà. Chúng ta phải làm gì đây? Phải nói gì với hắn bây giờ?”
“Cứ để tao lo giữ bí mật,” tên ác ôn đi đầu nhếch mép; “tao sẽ chỉ cho mày trong vài lời ngắn gọn về những việc chúng ta phải làm để qua mặt hắn hoàn toàn.”
“Ta đồng ý,” tên kia đáp, “tao xin thề danh dự sẽ không bao giờ phản bội mày.”
“Được rồi,” tên thứ nhất nói tiếp, “mày thừa biết chúng ta có hai người, mà hai người thì thế nào cũng mạnh hơn một người.”
“Hãy chú ý đây: khi hắn quay về và ngồi xuống, mày hãy đứng phắt dậy làm bộ vờ như đùa giỡn với hắn; còn tao sẽ dùng dao đâm xuyên qua hai bên sườn hắn trong lúc mày đang vật lộn đùa cợt với hắn; và mày cũng hãy dùng dao găm của mình làm y như thế.”
“Và khi đó, toàn bộ số vàng này sẽ được chia đều, hỡi người bạn hiền của tao, giữa mày và tao: khi ấy chúng ta có thể thỏa thích tận hưởng mọi khoái lạc, và tha hồ chơi súc sắc theo đúng ý muốn của mình.”
Thế là hai tên ác ôn đã đạt được thỏa thuận nhằm ra tay sát hại người anh em thứ ba, như quý vị vừa nghe kể.
Còn về phần tên trẻ tuổi nhất khi đang trên đường đi vào thị trấn, tâm trí hắn cứ xoay vần mãi hình ảnh rực rỡ và lấp lánh của những đồng tiền vàng flori mới tinh.
“Ôi lạy Chúa!” hắn tự nhủ, “nếu ta có thể độc chiếm toàn bộ kho báu này cho riêng mình, chẳng có linh hồn nào đang sống dưới ngai vàng của Chúa sướng vui bằng ta được!”
Và cuối cùng, ác quỷ – kẻ thù của chúng ta – đã xúi giục hắn mua thuốc độc để tiêu diệt nốt hai tên đồng bọn còn lại.
Lý do là vì ác quỷ đã nhìn thấu lối sống tội lỗi của hắn, nên đã cho phép hắn tự bước vào con đường tự chuốc lấy diệt vong.
Ý định duy nhất của hắn lúc này là tiêu diệt cả hai tên kia và chẳng màng ăn năn hối cải.
Thế là hắn rảo bước đến một tiệm thuốc trong thị trấn, chẳng mòn mỏi chần chừ thêm giây phút nào, và van nài người bán thuốc hãy bán cho mình một ít chất độc để tiêu diệt lũ chuột trong nhà,
thêm nữa hắn còn khoe rằng quanh hàng rào trang trại nhà mình có một con chồn hôi đã ăn sạch gia cầm của hắn,
và hắn rất nóng lòng muốn trả thù loài dịch hại chuyên quấy phá hắn vào ban đêm.
Người bán thuốc đáp: “Ngươi sẽ nhận được một thứ mà, xin Chúa cứu rỗi linh hồn ta, trên thế gian này không có bất kỳ sinh sinh vật nào chỉ cần nuốt phải dù chỉ bằng hạt lúa mì mà không lăn đùng ra chết ngay lập tức cả; vâng, hắn sẽ chết nghẻo chỉ trong khoảng thời gian ngắn hơn thời gian ngươi đi bộ chưa đầy một dặm; thứ thuốc độc này cực kỳ mạnh và mang tính bạo lực tột cùng.”
Tên khốn kiếp chộp lấy gói thuốc độc trong tay, rồi cắm cổ chạy thừng thựt sang con phố bên cạnh, tìm đến một người quen để mượn ba chiếc chai lớn;
và hắn đổ thuốc độc vào hai chiếc chai, còn chiếc thứ ba hắn giữ sạch để đựng nước uống cho chính mình,
bởi vì hắn dự tính sẽ thức thâu đêm để vất vác số vàng ra khỏi khu rừng ấy.
Và khi tên du đãng mang số phận khốn khổ đó đã đổ đầy rượu vào ba chiếc chai lớn của mình, hắn liền quay trở lại chỗ hai tên đồng bọn.
Cần gì phải thuyết pháp dài dòng thêm nữa? Đúng y như những gì chúng đã mưu tính về cái chết của hắn trước đó,
chúng đã ra tay hạ sát hắn ngay tại trận một cách gọn ghẽ.
Và khi việc đó đã xong xuôi, một tên cất tiếng:
“Nào, bây giờ chúng ta hãy ngồi xuống uống rượu cho thật vui vẻ, rồi sau đó mới đem chôn xác hắn.”
Vừa dứt lời, tình cờ thế nào hắn lại với tay cầm lấy đúng chiếc chai đựng thuốc độc,
và uống một hơi, rồi rót cho đồng bọn uống cùng, khiến cả hai lăn đùng ra tử vong ngay lập tức.
Nhưng quả thực, ta cho rằng Avicenna chưa từng viết trong bất kỳ bộ kinh y học nào về những triệu chứng ngộ độc kỳ lạ và kinh hoàng hơn những gì hai gã khốn này phải chịu đựng trước khi bỏ mạng.
Đó là cái kết của hai kẻ sát nhân, cùng với tên đầu độc xảo trá.
Ôi tội lỗi nguyền rủa, đầm đìa sự đồi bại! Ôi tội ác phản bội đẫm máu! Ôi thói phơi phới trác táng, dâm ô và cờ bạc!
Hỡi kẻ lộng ngôn lăng mạ Chúa với những hành vi ghê tởm cùng những lời thề thốt ngông cuồng do quen thói và ngạo mạn! Khốn thay cho nhân loại, làm sao ngươi có thể nhẫn tâm đối xử với Đấng Tạo Hóa – Đấng đã nhào nặn ra ngươi và dùng chính dòng máu quý giá của trái tim Ngài để chuộc lấy ngươi – một cách tàn nhẫn và vô ơn đến thế, hỡi con người!
Giờ đây, hỡi các thiện nam, xin Chúa hãy tha thứ cho những lầm lỗi của quý vị, và gìn giữ quý vị khỏi sa vào lưới của lòng tham lam.
Ân xá thánh thiện của ta có thể chữa lành cho tất cả quý vị, miễn là quý vị dâng cúng tiền vàng nobles hoặc tiền bạc sterling, hoặc những chiếc trâm bạc, thìa bạc và nhẫn bạc.
Hãy cúi đầu nhận sự ban phước dưới sắc lệnh thánh thiêng này.
Nào các bà các cô, hãy tiến lên dâng hiến tùy theo tâm nguyện tự nguyện của quý vị; tên tuổi của quý vị sẽ được ta ghi chép ngay vào cuộn sổ;
quý vị sẽ bước thẳng vào chốn thiên đàng hạnh phúc; ta ban ơn tha tội cho quý vị bằng quyền năng cao cả của mình, hỡi những ai dâng lễ vật, để tâm hồn quý vị được thanh tẩy tinh tuyết tựa như thuở mới chào đời.
Nào thưa các ngài, cách thức giảng đạo của ta là thế đấy; và cầu xin Chúa Jesus Christ – vị lương y chữa lành cho linh hồn chúng ta – ban phước cho quý vị để đón nhận sự ân xá của Ngài; bởi đó mới là điều tuyệt vời nhất, ta chẳng hề lừa dối quý vị đâu.
Nhưng thưa các ngài, ta suýt quên mất một điều trong câu chuyện của mình; ta vẫn còn mang theo trong túi xách vô số xá lợi và bùa xá tội, đẹp đẽ chẳng kém bất kỳ ai trên đất nước Anh này, vốn được chính tay Đức Giáo Hoàng trao tặng cho ta.
Nếu bất kỳ ai trong số quý vị muốn dâng lễ với lòng sùng kính để nhận sự tha thứ của ta,
hãy bước lên ngay lúc này, quỳ xuống nơi đây và cung kính đón nhận ơn xá tội.
Hoặc nếu không, cứ tiếp tục nhận sự xá tội mỗi khi quý vị đi qua bất kỳ ngã rẽ cuối thị trấn nào,
miễn là quý vị dâng cúng những đồng tiền nobles hoặc tiền xu mới tinh và chuẩn xác.
Thật là một vinh hạnh cho tất cả những ai có mặt ở đây khi có được một vị bán bùa xá tội tài tình đi cùng trên mọi nẻo đường để tha tội cho quý vị trước những bất trắc có thể xảy ra.
Biết đâu chừng có một hoặc hai người trong số quý vị sẽ ngã ngựa dọc đường và gãy cổ làm đôi.
Hãy nghĩ xem việc ta gia nhập hội của quý vị là một sự đảm bảo an toàn lớn lao biết bao, vì ta có thể ban ơn xá tội cho cả người lớn lẫn trẻ nhỏ khi linh hồn rời khỏi thể xác.
Ta đề nghị Chủ Quán Rượu của chúng ta hãy mở màn trước đi,
vì ngài là kẻ ngập ngụa trong tội lỗi hơn cả.
Nào xin mời Chủ Quán, hãy bước lên dâng lễ trước tiên, và ngài sẽ được hôn từng thánh tích một,
chỉ với một đồng groat; hãy cởi ví ra mau nào.
“Không, đời nào!” hắn đáp, “thà ta nhận lấy lời nguyền của Chúa còn hơn! Biến đi,” hắn quát, “đừng có hồng hòng hòng phiền ta!”
“Ngươi định bắt ta hôn cái quần đùi rách rưới của ngươi chắc, rồi thề rằng đó là xá lợi của một vị thánh nào đó, dẫu cho nó có bị bôi bẩn bởi chính cái mông của ngươi đi chăng nữa?”
“Nhưng thưa cây thánh giá mà Thánh Helena từng tìm thấy, ta thà cầm đống tinh hoàn của ngươi trong tay còn hơn là giữ những món xá lợi hay thánh tích giả hiệu ấy!”
“Cứ việc cắtừ chúng đi, ta sẵn lòng giúp ngươi mang theo; rồi đem ướp chúng trong phân heo cho mà xem.”
Người Bán Hàng không đáp lại nửa lời; hắn giận đến tím mặt, chẳng thèm thốt ra một câu nào nữa.
“Thôi nào,” Chủ Quán cất lời, “ta chẳng buồn đùa giỡn với ngươi hay với bất kỳ kẻ nào đang nổi giận nữa đâu.”
Nhưng ngay lúc ấy, vị Hiệp Sĩ đáng kính bước lên (khi ngài thấy tất cả mọi người đang cười rộ lên):
“Thôi đừng nói nữa, bấy nhiêu đây đã quá đủ rồi. Thưa ngài Bán Hàng, xin hãy vui vẻ lên; và ngài Chủ Quán thân mến của tôi, tôi xin hai người hãy làm hòa và ôm hôn nhau đi; và ngài Bán Hàng, xin hãy tiến lại gần đây hơn,”
“và chúng ta hãy cùng nhau cười đùa vui vẻ như trước.”
Ngay lập tức họ ôm hôn nhau và tiếp tục lên đường.