Lạy Chúa là Chúa chúng con! Danh Ngài thay kỳ diệu
Trùm khắp cõi thế gian rộng lớn này! (nàng cất lời)
Bởi chẳng những lời ngợi ca trân quý của Ngài
Được cất lên bởi những bậc quyền cao chức trọng,
Mà qua cửa miệng trẻ thơ, lòng tốt của Ngài
Cũng được tỏ bày, bởi ngay cả những đứa trẻ còn đang bú mớm
Đôi khi cũng bày tỏ vinh quang của Ngài.
Thế nên để ngợi khen, hết sức khả năng của mình,
Về Ngài, và về bông hoa huệ trắng tinh
Đã sinh ra Ngài, và mãi mãi là trinh nữ,
Ta sẽ tận tâm kể lại một câu chuyện;
Chẳng phải để ta có thể làm tăng danh dự cho Người,
Bởi tự thân Người vốn là danh dự và là cội nguồn
Của lòng nhân hậu, chỉ sau Con trai Người, và là chốn nương thân cho các linh hồn.
Hỡi Mẹ đồng trinh, hỡi Trinh Nữ kiêm từ mẫu cao cả!
Hỡi bụi cây không cháy, vẫn bừng sáng trước mắt Môi-se,
Đấng đã lôi kéo từ chốn thần linh xuống,
Nhờ sự khiêm nhường của Người, linh hồn đã ngự trong Người;
Nhờ ân sủng của Người, khi ánh sáng chiếu rọi trái tim Người,
Trí tuệ của Chúa Cha đã được thụ thai;
Xin hãy giúp tôi kể lại chuyện này để kính cẩn tôn vinh Người.
Lạy Nữ Vương! Lòng khoan dung, sự cao cả của Người,
Đức hạnh của Người, cùng sự khiêm nhường sâu sắc,
Chẳng ngôn từ hay học thức nào có thể diễn tả hết:
Bởi đôi khi, lạy Nữ Vương! trước khi con người cầu nguyện với Người,
Với lòng nhân ái, Người đã đi trước một bước,
Và ban cho chúng tôi ánh sáng qua lời cầu nguyện của Người,
Để dẫn dắt chúng tôi đến với người Con vô cùng yêu dấu.
Tài nghệ của con mới kém cỏi làm sao, hỡi Nữ Vương diễm phúc,
Khi phải bày tỏ sự vĩ đại cao cả của Người,
Đến nỗi con không thể gánh nổi trọng trách ấy;
Nhưng cũng như một đứa trẻ lên mười hai tháng, hoặc nhỏ hơn,
Hầu như chẳng thể thốt nên lời nào trọn vẹn,
Con cũng y như vậy; và vì thế, con nài xin Người,
Hãy dẫn dắt khúc ca mà con sắp xướng lên về Người.
Tại một thành phố lớn nọ ở châu Á,
Giữa cộng đồng Ki-tô giáo, có một khu của người Do Thái,
Được bảo trợ bởi một lãnh chúa trong vùng,
Do những mối lợi cho vay nặng lãi nhơ bẩn và đê tiện,
Gây căm phẫn cho Chúa Ki-tô và giáo đoàn của Ngài;
Và người ta có thể cưỡi ngựa hay đi bộ xuyên qua con phố ấy,
Bởi nó hoàn toàn tự do và để ngỏ ở cả hai đầu.
Một trường học nhỏ của người Ki-tô giáo tọa lạc
Ngay ở đầu bên kia, nơi có tụ tập
Đông đảo trẻ em mang dòng máu Ki-tô,
Những đứa trẻ đến ngôi trường này năm này qua tháng nọ
Để học thứ giáo lý mà người ta vẫn dạy ở đó;
Đó là học ca hát và tập đọc,
Như bao đứa trẻ nhỏ khác trong buổi đầu thơ ấu.
Trong số những đứa trẻ ấy có con trai của một góa phụ,
Một chú tiểu mười tuổi, tròn bảy tuổi,
Hằng ngày vẫn quen đến trường để học tập,
Và thêm nữa, hễ cứ nhìn thấy bức ảnh
Về thân mẫu của Chúa Ki-tô, chú đã quen thói,
Như được dạy bảo, là quỳ xuống và cất lời
Kính mừng Ma-ri-a mỗi khi đi qua đường.
Người quá phụ nọ đã dạy dỗ cậu con trai bé nhỏ của mình
Luôn tôn kính Nữ Vương diễm phúc của chúng ta, thân mẫu thân yêu của Chúa Ki-tô,
Và cậu bé chẳng hề quên điều đó;
Bởi một đứa trẻ ngây thơ sẽ luôn nhanh chóng học hỏi điều hay.
Nhưng mỗi khi nhớ lại chuyện này,
Thánh Nicholas luôn hiện diện rõ mồn một trong tâm trí tôi;
Bởi ngài, dẫu còn rất nhỏ tuổi, đã biết thành kính hướng về Chúa Ki-tô.
Cậu bé nhỏ này miệt mài học cuốn sách nhỏ của mình,
Khi đang ngồi học vỡ lòng trong lớp,
Chú nghe tiếng người ta hát bài Alma redemptoris,
Như những đứa trẻ vẫn học trong sách xướng ca luân phiên;
Và dẫu có chút rụt rè, chú vẫn tiến lại gần hơn chút nữa,
Lắng tai nghe từng lời ca và giai điệu,
Cho đến khi thuộc làu làu câu thơ đầu tiên.
Chú chẳng tài nào hiểu nổi những chữ La-tinh ấy có nghĩa gì,
Bởi tuổi đời chú còn quá non nớt và thơ dại;
Nhưng rồi vào một ngày nọ, chú bèn nài nỉ người bạn học
Hãy cắt nghĩa bài hát này bằng ngôn ngữ của họ,
Hoặc cho chú biết tại sao bài hát này lại được dùng phổ biến đến vậy:
Chú khẩn khoản xin bạn giải thích và giảng rõ cho mình,
Hết lần này đến lần khác khi đang quỳ gối trần trên đất.
Cậu bạn lớn tuổi hơn chú,
Đã đáp lại thế này: “Tôi từng nghe người ta nói rằng,
Bài hát này được sáng tác để ca ngợi Nữ Vương diễm phúc tự do của chúng ta,
Nhằm kính chào Người và cầu xin Người
Trở thành đấng cứu giúp và hộ độ chúng ta khi ta lâm tử.
Tôi chỉ biết có thế về vấn đề này thội:
Tôi đang học hát, còn văn phạm thì biết rất ít.”
“Và bài hát này được làm ra để tôn kính
Thân mẫu của Chúa Ki-tô phải không?” cậu bé ngây thơ hỏi;
“Quả thật bây giờ tôi sẽ hết sức dốc lòng
Học thuộc lòng cho bằng hết trước khi lễ Giáng Sinh tới;
Dẫu cho vì cuốn sách vỡ lòng mà tôi có thể bị quở trách,
Và bị đánh đòn ba bận trong một giờ,
Tôi vẫn sẽ học thuộc để tôn vinh Đức Mẹ.”
Cậu bạn lén lút dạy cho chú trên đường về nhà
Từ ngày này qua ngày khác, cho đến khi chú thuộc làu làu,
Và rồi chú cất tiếng hát thật hay và đầy mạnh mẽ
Khớp chuẩn từng chữ theo đúng giai điệu bài hát;
Mỗi ngày giọng ca ấy vang lên qua cổ họng chú hai lần;
Lúc đi đến trường, và lúc trên đường trở về nhà;
Mọi tâm trí chú đều đặt trọn vào thân mẫu của Chúa Ki-tô.
Như tôi đã nói, khắp khu của người Do Thái,
Cậu bé này, mỗi khi đi qua đi lại,
Lại cất tiếng ca hát và hô vang đầy vui vẻ,
Hỡi Alma redemptoris, mãi mãi muôn đời;
Sự ngọt ngào từ thân mẫu của Chúa Ki-tô
Đã thấu suốt trái tim cậu đến mức, để cầu nguyện với Người,
Chú chẳng thể ngừng cất tiếng hát trên mọi nẻo đường.
Kẻ thù đầu tiên của chúng ta, con rắn Satan,
Kẻ lập chiếc tổ tò vò trong trái tim những người Do Thái,
Đã sưng lền và cất tiếng: “Hỡi dân tộc Hê-bơ-rơ, khốn thay!
Đây có phải là một điều vinh dự cho các người hay chăng,
Khi để một đứa nhóc như thế muốn đi lại thế nào tùy thích
Ngay giữa thanh thiên bạch nhật để thách thức các người,
Và cất lên những lời ca mang nội dung chống lại sự tôn nghiêm luật pháp của các người?”
Kể từ lúc đó, bọn người Do Thái đã cấu kết với nhau
Nhằm tước đoạt mạng sống của đứa trẻ ngây thơ này;
Chúng thuê một tên sát nhân cho việc đó,
Hắn nấp trong một góc khuất ngay lối đi nhỏ,
Và khi cậu bé rảo bước đi qua,
Tên Do Thái độc ác ấy liền chộp lấy, giữ chặt chú lại
Rồi cắt cổ chú, rồi quẳng xuống một cái hố sâu.
Tôi muốn nói rằng hắn đã ném chú vào một chiếc hố xí,
Nơi bọn người Do Thái thường vứt bỏ đồ ô uế ruột gan.
Hỡi lũ người bị nguyền rủa! Hỡi những tên Hê-rô-đê thời hiện đại!
Mưu đồ độc ác của các người mang lại lợi lộc gì đây?
Tội ác rồi sẽ phơi bày, chắc chắn không thể chối cãi,
Và nhất là ở nơi vinh quang của Chúa được lan tỏa;
Máu của nạn nhân đang kêu thấu trời trước hành vi đồi bại của các người.
Hỡi vị tử đạo được củng cố cho đời sống đồng trinh,
Giờ đây ngươi có thể cất tiếng ca, và mãi mãi tiến bước sát cánh
Cùng Chiên Con tinh tuyền trên thiên quốc (nàng cất lời),
Về Đấng mà vị Tông đồ vĩ đại Saint John
Đã viết khi ở đảo Patmos, rằng những ai đi theo
Chiên Con này, và cất lên khúc ca hoàn toàn mới,
Là những kẻ chưa từng biết đến nhục dục đàn bà.
Người góa phụ nghèo khổ ấy đã mòn mỏi ngóng chờ suốt đêm
Đứa con trai bé bỏng nhưng chẳng thấy chú về;
Vì thế, ngay khi trời vừa hửng sáng,
Với khuôn mặt tái mét, ngập tràn sợ hãi và lo âu bồn chồn,
Bà đã đi tìm con ở trường học và khắp mọi nơi,
Cho đến khi cuối cùng bà dò la được tin tức rằng
Người ta thấy chú xuất hiện lần cuối trong khu người Do Thái.
Với nỗi lòng xót xa của người mẹ dồn nén trong ngực,
Bà bước đi như kẻ mất hồn,
Đến mọi ngóc ngách mà bà đoán chừng
Có khả năng tìm thấy đứa con bé bỏng của mình:
Và miệng không ngớt gọi tên thân mẫu hiền từ nhân hậu của Chúa Ki-tô,
Và cuối cùng, bà đã hành động theo cách này,
Bà tìm kiếm con giữa sào huyệt của bọn người Do Thái độc ác.
Bà gặng hỏi, và thiết tha cầu xin
Từng tên Do Thái cư ngụ tại nơi đó,
Hãy nói cho bà hay nếu con trai bà có đi ngang qua đây;
Bọn chúng đáp: “Không;” nhưng Chúa Giê-su vì lòng thương xót của Ngài
Đã soi sáng tâm trí bà trong chốc lát,
Khiến bà cất tiếng gọi con ngay tại nơi đó,
Sát bên chiếc hố mà chú bị ném xuống.
Lạy Chúa vĩ đại, Đấng làm tròn lời ngợi khen Ngài
Qua cửa miệng những kẻ ngây thơ, kìa hãy nhìn uy quyền của Ngài!
Viên ngọc bích trinh bạch này, viên ngọc lục bảo này,
Đồng thời là đóa hồng đỏ thắm rực rỡ của chốn tử đạo,
Nơi chú nằm ngửa với chiếc cổ bị cắt phăng,
Đã cất tiếng hát bài Alma Redemptoris
To đến nỗi cả không gian xung quanh bắt đầu vang vọng.
Những người Ki-tô giáo đi ngang qua con phố ấy,
Đã ùa vào để ngạc nhiên chứng kiến sự việc kỳ lạ này:
Và họ vội vã cho người đi triệu tập viên quan trấn thủ.
Hắn lập tức tới ngay không chút chậm trễ,
Và cất tiếng ca ngợi Chúa Ki-tô, Vua trên trời,
Cùng thân mẫu của Ngài, niềm vinh hiển của nhân loại;
Và sau đó, hắn ra lệnh trói gô lũ người Do Thái lại.
Bằng những hình tấn hình phạt và cái chết nhục nhã dành cho từng tên,
Viên quan trấn thủ đã xử tử bọn người Do Thái này,
Những kẻ hay biết về vụ mưu sát đó, và xử lý ngay lập tức;
Hắn không đời nào bỏ qua cho một hành vi tàn độc nhường ấy;
Kẻ làm điều ác sẽ phải gánh chịu hậu quả tương xứng;
Thế nên hắn đã dùng những con ngựa hoang để phanh thây chúng,
Và sau đó treo cổ chúng theo đúng luật pháp.
Cậu bé, giữa những tiếng khóc than thảm thiết,
Được nâng dậy, miệng vẫn không ngừng cất cao tiếng hát:
Và trong bầu không khí tôn nghiêm cùng đoàn rước trang trọng lớn lao,
Họ đưa chú về tu viện gần đó nhất.
Mẹ chú ngất lịm nằm bên chiếc quan tài;
Mãi người ta mới có thể lôi kéo đám đông đang có mặt ở đó
Rời khỏi chiếc quan tài của Rachel thời hiện đại này.
Nơi chiếc quan tài, đứa trẻ ngây thơ nằm đó
Trước bàn thờ suốt thời gian diễn ra thánh lễ;
Và sau đó, vị viện trưởng cùng các tu sĩ trong tu viện
Đã nhanh chóng tiến hành an táng chú thật nhanh;
Và khi họ rắc nước thánh lên người chú,
Cậu bé bỗng cất tiếng nói khi nước thánh vừa chạm vào người,
Và cất cao giọng hát, O Alma redemptoris mater!
Vị viện trưởng này, một người vô cùng đạo đức,
Đúng như tư chất của các tu sĩ, hoặc ít ra phải là thế,
Bắt đầu làm phép gọi hồn cậu bé nhỏ tuổi này,
Và cất lời: “Hỡi đứa trẻ thân yêu! Ta khẩn khoản nài xin ngươi,
Nhân danh sự thiêng liêng của Ba Ngôi Thánh Hóa;
Hãy nói cho ta hay lý do vì sao ngươi vẫn cất tiếng hát,
Dẫu theo ta thấy thì cổ họng ngươi đã bị cắt đứt rồi.”
“Cổ họng con đã bị cắt sâu đến tận xương cổ,”
Cậu bé đáp, “và theo lẽ tự nhiên của tạo hóa,
Con hẳn đã phải chết từ lâu lắm rồi;
Nhưng Chúa Giê-su Ki-tô, như các ngài tìm thấy trong sách vở,
Muốn cho vinh quang của Ngài được trường tồn và ghi khắc trong tâm trí;
Và vì sự tôn vinh thân mẫu yêu dấu của Ngài,
Nên con vẫn có thể cất cao tiếng hát bài Alma thật to và rõ ràng.
“Suối nguồn thương xót này, thân mẫu ngọt ngào của Chúa Ki-tô,
Là đấng con luôn tôn kính hết mực theo tài sức của mình:
Và khi đến lúc con phải lìa bỏ cuộc đời này,
Người đã đến bên con và dặn dò con
Hãy cất lên bài thánh ca này thật chuẩn xác vào lúc lầm tử,
Như các ngài vừa nghe; và khi con vừa hát xong,
Con có cảm giác như Người vừa đặt một hạt đậu nhỏ lên lưỡi con.
“Đó là lý do con hát, và chắc chắn con phải tiếp tục hát,
Để tôn vinh người thiếu nữ diễm phúc từ ái ấy,
Cho đến khi hạt đậu trên lưỡi con được lấy đi.
Và sau đó Người đã nói với con thế này;
‘Cơn trai bé bỏng của ta, khi ấy ta sẽ đến đón con,
Ngay khi hạt đậu trên lưỡi con được lấy xuống:
Đừng sợ hãi, ta sẽ không bao giờ bỏ rơi con.’”
Vị tu sĩ thánh thiện này, ý ta là vị viện trưởng,
Đã há miệng chú ra và lấy hạt đậu đó đi;
Và linh hồn chú nhẹ nhàng bay về trời.
Và khi vị viện trưởng chứng kiến cảnh tượng kỳ lạ ấy,
Những giọt nước mắt mặn chát tuôn rơi như mưa:
Và ông ngã sấp mặt áp phẳng xuống đất,
Và cứ nằm bất động như thể bị trói chặt.
Cả tu viện cũng phủ phục trên nền nhà
Đang khóc lóc và ca ngợi thân mẫu thân yêu của Chúa Ki-tô.
Và sau đó họ đứng dậy, bước đi,
Và khiêng vị tử đạo này rời khỏi chiếc quan tài,
Và đặt vào bên trong một ngôi mộ bằng đá cẩm thạch trong suốt
Họ an táng thi hài nhỏ bé ngọt ngào của chú;
Cầu xin Chúa ban ơn cho chúng ta được gặp lại chú ở nơi đó.
Hỡi Hugh trẻ tuổi ở thành Lincoln! người cũng từng bị sát hại
Bởi bọn người Do Thái độc ác, — như một sự kiện hiển hơni,
Bởi chuyện ấy mới xảy ra cách đây chưa lâu, —
Xin cũng hãy cầu thay nguyện giúp cho chúng tôi, những kẻ phàm trần tội lỗi yếu đuối này,
Để qua lòng thương xót của Ngài, Thiên Chúa vô cùng nhân từ
Sẽ nhân bội lòng xót thương vĩ đại của Ngài trên chúng ta,
Vì lòng tôn kính người mẹ Ma-ri-a của Ngài.