– Hiển nhiên là thế, thưa ông công tố viên. Chúng tôi đang hướng về phía xã Pré-Saint-Gervais, khu Belvédère. Máu trên chiếc áo thun của Bébé Coulibaly là của một người có tên Franck Samoy, một gã nghiện, các đội của chúng tôi đã tìm ra gã. Chúng tôi đã đến gặp mẹ gã, nhưng bà ấy không có tin tức gì về con trai kể từ vài tuần nay, và đã cung cấp cho chúng tôi số điện thoại di động của gã. Số đó đang hoạt động ở khu Belvédère.
– Các vị nghĩ là sẽ tìm thấy gã ở đó sao?
– Ông biết đấy, đó chỉ là một cái mốc, cho phép chúng tôi tạo lập một khu vực tìm kiếm, chứ không phải một địa chỉ chính xác, nhưng đó là một khu trung lưu, sẽ dễ dàng hơn là một khu phố tập trung cả mười lăm tòa chung cư hai chục tầng. Mặt khác, máu của anh ta ở trên chiếc áo thun, thế nên tôi có nhiều nghi ngờ về tình trạng sức khỏe của anh ta. Tôi sẽ gọi cho ông nếu có phát hiện mới.
Coste gác máy rồi cất điện thoại di động vào trong túi áo vest. Ronan cầm lái còn Sam ngồi đằng sau, đang miêu tả phóng đại về nhan sắc của Johanna De Ritter.
– Không quá sớm đâu! Một cô nàng bé nhỏ trong đội, đó chính là thứ chúng ta đang thiếu, tôi đã chán ngấy việc phải ngắm mông cậu rồi Sam ạ, tôi không hâm mộ những khung cảnh tù ngục ở đây, mà khắp cái tổng này chẳng có ai để tán tỉnh cả.
– Đấy là vì anh tìm không đúng chỗ thôi.
– Cậu khéo nói đùa, bọn họ ẩn náu hết rồi. Họ mặc quần jogging rồi khạc nhổ ầm ĩ để tỏ ra mình là đàn ông. Khi đi dự tiệc về, họ buộc phải thay quần áo trên tàu điện ngầm trước khi về đến khu phố nhà mình. Ở đây, với một số người, một cô nàng mặc váy bó là một con điếm.
– Anh đang bôi đen bức tranh đấy, Ronan ạ.
– Thế còn cái cô nàng bị sát hại ngay dưới chân tòa nhà nơi cô ta sống đó thì sao?
– Đó chỉ là vì cô ta giao du với một gã không ở cùng khu. À không phải, anh đang nói về cô nàng đã bị kẻ nào đó dùng dao cắt vẽ một bàn cờ lên mặt đúng không.
– À ờ, tôi cứ nhầm họ với nhau suốt.
Chiếc xe đỗ lại trên đồi ở khu Pré-Saint-Gervais.
– Sam? – Coste gọi.
Anh chàng này đặt chiếc máy tính bảng cảm ứng lên nắp xe, rồi, chỉ bằng vài thao tác, đã cho hiển thị một bản đồ của khu vực.
– Tốt lắm. Khu này là một hình vuông với bốn đường phố. Ở bên trong hình vuông này, ta thấy có ba đại lộ, tất cả đều mang tên của các loài cây, cá nhân tôi thì thích đặt tên đường bằng tên các thi sĩ hơn, nhưng thôi không sao. Như vậy, chúng ta có đường Cây Keo, đường Cây Dẻ và đường Cây Liễu. Tôi đã xem một trang web bất động sản, chúng ta sẽ có cả thảy bảy mươi tư biệt thự. Chiếc điện thoại di động sẽ nằm ở một trong số các biệt thự đó.
– Và với một chút may mắn, ở bên cạnh chiếc điện thoại, chúng ta sẽ nhặt được Franck Samoy.
– Anh quả là người lạc quan, Ronan ạ. Anh muốn chúng ta tiến hành theo cách nào đây, Coste?
Victor Coste suy nghĩ vài giây.
– Tôi biết rõ khu này. Không biệt thự nào có giá dưới bốn trăm ngàn euro, anh chàng của chúng ta không thể chi ra số tiền đó, kể cả là thuê nhà cũng không. Hoặc gã ở nhờ, hoặc gã nhảy dù vào một biệt thự trống nào đó, tôi nghiêng về giả thuyết nhảy dù hơn. Chúng ta có thể kiểm tra lần lượt từng biệt thự một, hoặc tìm luôn một bà già biết rõ khu này, người luôn rình rập các nhà hàng xóm và nắm hết toàn bộ những chuyện ngồi lê đôi mách trong khu. Chúng ta tránh những khu vườn có đồ chơi cho trẻ con và những khu vườn có ăng ten chảo, và có thể sẽ tìm ra bà già cần tìm. Ronan, cậu đi đường Cây Keo, Sam đi đường Cây Dẻ còn tôi đi đường Cây Liễu, và người đầu tiên tìm được thứ gì đó sẽ gọi điện thoại cho hai người còn lại.
Ba viên cảnh sát chia nhau ra, rồi chừng hai mươi phút sau, Ronan là người gọi cho họ. Sam và Coste cùng đến số 15 đại lộ Cây Keo để gặp Ronan.
– Hai người sẽ rất thích cho mà xem. Tôi đã tìm được một bà già như ý. Hai người có biết đây là cái gì không?
Anh đưa tay chỉ vào một chiếc bộ đàm của trẻ con màu hồng, hình tròn, treo ở hàng rào của một biệt thự đối diện với một khu vườn bỏ hoang. Một bức tượng nhỏ sắp bị chìm lấp trong đám cỏ dại mọc cao và một tấm biển “chú ý chó dữ” tô điểm cho hộp thư.
– Đây là một chiếc điện thoại trẻ con chết tiệt, được treo ở vị trí thu-phát sóng. Bà ta treo thứ này khắp nơi, trong căn biệt thự của bà ta.
Sam huýt sáo đầy ngạc nhiên.
– Hoan hô, anh đã tóm được bà già hoang tưởng của khu này rồi.
Chiếc điện thoại trẻ con kêu lên rọt rẹt.
– Gã cao kều mặt mày kỳ quặc kia ở lại bên ngoài, ta không muốn kiểu người đó vào nhà ta! Để xem ta có bị hoang tưởng hay không!
Cả ba người cùng ngước mắt nhìn về phía ngôi nhà, để rồi thấy họ đang bị rình rập bởi một bóng người mà ánh nắng phản chiếu vào cửa kính khiến họ không thể nhìn cho thật rõ ràng, rồi cái bóng biến mất.
Ronan vô cùng vui thích, anh chỉ cần có thế.
– Thấy chưa, cái gã cao kều có khuôn mặt kỳ quặc này, cậu hãy ngoan ngoãn ở đây chờ chúng tôi, chúng tôi sẽ thực hiện công việc của cảnh sát. Cậu có thể thay thế cho con chó dữ nếu cậu muốn, nó chết ngỏm từ lâu rồi.
– Cầu cho linh hồn nó được yên nghỉ. – Tiếng nói vang ra từ chiếc điện thoại trẻ con kết luận.
Một chiếc điện thoại khác, cùng nhãn hiệu và cùng màu sắc, được treo bên trên chuông cửa. Cánh cửa hé mở, và thứ mùi dai dẳng của nước đái mèo ngập tràn không gian trong nhà. Ronan mời Coste đi theo mình.
– Đi nào, bà ấy ở sâu trong nhà, phòng khách.
Một bà già không thể đoán tuổi ngồi lút sâu trong chiếc ghế bành cũ sờn, một vệt dầu mỡ loang rộng trên phần tựa đầu. Cả thân hình bó chặt trong chiếc áo cánh in hoa, bà già có mái tóc ngắn và nhuộm thứ màu xanh khó hiểu mà chỉ những thợ làm tóc cho người ngoại bát tuần mới dám dùng. Bà già gần như không rời mắt khỏi màn hình ti-vi. Trước mặt bà, trên chiếc bàn phòng khách, có đặt tám chiếc điện thoại trẻ con, mỗi chiếc lại kêu lạo xạo bằng một thứ âm thanh riêng biệt, và gần như át cả tiếng người dẫn chương trình tin tức trên ti-vi.
– Lúc nào cũng phải nghe ngóng, các con trai ạ. Bảy cửa sổ và một cửa ra vào, tám điện thoại để nghe ngóng mọi chỗ. Như thế, ta sẽ biết có người vào nhà ta, hay chỉ lượn lờ xung quanh thôi. Tốt hơn cả chuông báo động ở cửa hàng.
– Ồ vâng thưa bà, chỉ có điều chuông báo động thì được nối thẳng với trụ sở cảnh sát, còn bà, nếu có ai đó vào nhà, thì bà là người duy nhất biết điều đó. Cũng có thể là người cuối cùng.
Bà già dỏng tai lên.
– Sao lại như thế?
– Tôi đang nói là…
Coste cắt lời Ronan.
– Cậu không nói gì hết, Ronan ạ, cậu cứ ngồi yên đấy để tôi nói chuyện với bà đây, đó chính là việc cậu nên làm.
– Ái chà, hóa ra anh ta mới là sếp. Sếp có muốn uống cà phê kèm với mấy cái bánh ngọt nho nhỏ không?
Thêm vào những thứ mùi không mấy dễ chịu, cái màng dầu mỡ mỏng dính dớp dường như bao phủ toàn bộ các bề mặt trong ngôi nhà cũng ảnh hưởng đến câu trả lời.
– Không, cảm ơn bà, nhưng bà quả là tử tế.
Coste ngồi xuống bên cạnh bà già, rồi nói to hơn một chút.
– Tôi tin chắc là bà thuộc số ít người biết rõ những cư dân ở đây. Chúng tôi đang tìm một biệt thự có thể bị người ta nhảy dù vào ở trộm. Bà có biết căn nào như thế không?
– Bảy mươi tư biệt thự. Tôi biết tất cả mọi người bởi vì lũ mèo của tôi rong chơi hơi quá đà. Mọi người nói rằng chúng gây ô nhiễm, nhưng mèo thì đâu thể gây ô nhiễm được, lúc nào chúng nó chả đang liếm láp cho sạch người.
Nói xong, bà quay đầu nhìn xung quanh, như để tìm một trong số chúng, rồi lại nhớ đến câu hỏi của Coste.
– Hai biệt thự đang rao bán, một căn sạch sẽ và một căn mà lũ mèo của tôi bị mắc kẹt bên trong một lần, nhưng căn đó thì không thể bán được, nó bị bỏ hoang. Số 23, đại lộ Cây Liễu, nếu các vị muốn đến xem.
– Cảm ơn bà đã dành thời gian tiếp chúng tôi, thưa bà.
Ronan ghé sát vào mớ điện thoại trẻ con để Sam có thể nghe rõ không sót lời nào.
– Vâng, cảm ơn bà và xin thứ lỗi cho đồng nghiệp của chúng tôi, cậu ta không được dạy cách nói chuyện với các quý bà.
Bên ngoài, Sam giơ ngón cái về phía Ronan.
Họ đến trước cửa căn biệt thự số 23 trên đại lộ Cây Liễu, và nhận thấy rằng lời miêu tả của người cung cấp thông tin mới tinh này hoàn toàn chính xác. Một căn nhà ba tầng, các cửa chớp đều đóng kín, sơn tường đã bạc màu, mái nhà thiếu mất vài viên ngói, lớp vữa nhám trát bên ngoài các vạt tường đã bong tróc, và mỗi xăng-ti-mét vuông đều phủ đầy dây leo. Bị bỏ hoang là cụm từ khá phù hợp.
– Sam, cậu nhìn vào hộp thư xem, chúng ta sẽ biết được lần cuối cùng họ lấy thư là khi nào. Ronan này, cậu trèo qua hàng rào rồi phá cửa cho tôi. Chúng ta sẽ nói rằng nó đã ở trong tình trạng đó khi chúng ta đến, chứ chẳng dại gì mà chầu chực hai tiếng đồng hồ ở đây để chờ thợ khóa làm gì.
– Hộp thư bị khóa rồi, tôi cũng có thể phá khóa chứ?
Ronan đã vắt một chân sang bên kia hàng rào, nhưng cả trong tư thế bất tiện ấy, anh cũng không thể ngăn mình trả đũa đồng nghiệp.
– Cứ thoải mái đi, Sam, với đôi tay nhỏ bé của cậu, cái hộp thư ấy cũng chẳng khác gì một cánh cửa đâu, nhưng yên tâm là cậu sẽ không bị đau.
Ronan nhẹ nhàng nhảy qua bên kia hàng rào, rồi tiến về phía căn nhà. Đúng lúc đó, ổ khóa của hộp thư bị phá vỡ. Ronan hích vai vào cánh cửa lần đầu tiên, nhưng không có gì xảy ra cả. Sam thò tay vào bên trong hộp thư. Ronan lùi lại để lấy đà cho cú hích vai thứ hai. Sam lấy ra thứ duy nhất có trong hộp thư, một tấm bìa ép plastic mà anh đưa cho Coste. Ronan hít một hơi rồi lao người lần thứ hai vào cánh cửa, khiến nó đầu hàng trong tiếng gỗ kêu răng rắc. Coste hét lên.
– Đừng vào!
Giữa hai bàn tay anh là một tấm căn cước cũ mèm quăn queo có dán ảnh Franck Samoy, mái tóc bù xù, đôi mắt tươi cười.
– Chúng ta có thư này.
Sam đắc thắng.
– Chúng ta đã tìm đúng chỗ, phải không?
– Điện thoại của gã dẫn chúng ta đến đây, bây giờ căn cước của gã lại ở trong hộp thư. Chúng ta chẳng tìm thấy gì hết, chúng ta đã bị dắt mũi. Và tôi không thích chuyện này chút nào.