Phần cuối của ngày hôm ấy không hề mang lại bất cứ chi tiết nào có thể hữu ích cho cuộc điều tra họ đang tiến hành, theo như lời các cảnh sát trong báo cáo của họ. Ở khu Belvédère, Ronan và De Ritter không gặt hái được bất cứ lời chứng nào. Đường dây nghe trộm điện thoại của Bébé Coulibaly vẫn bình thản quay đều, trong lúc chờ đợi rình bắt được vài cuộc gọi. Về phía báo chí, chỉ có phóng viên Marc Farel chấp nhận nói thêm một chút về nguồn tin đã thông báo tin tức cho báo chí theo thời gian thực. Nguồn tin đó liên hệ với anh ta theo một số điện thoại mà Sam đã cho xác định, nó dẫn họ đến một ca-bin điện thoại công cộng. Khối nhà số 14583, vùng 75066, bộ chuyển mạch số 10681, ca-bin số 95 phố Chevaleret, quận XIII Paris. Farel nói thêm rằng nguồn tin là một người đàn ông. Một ngõ cụt vô danh. Sam kết luận bằng những câu cuối cùng của tay phóng viên:
– Anh ta tha thiết muốn tôi nhấn mạnh với cậu rằng anh ta muốn “hợp tác ngay lập tức với các đơn vị cảnh sát chịu trách nhiệm trả thù.”
Câu chào truyền thống đối với kiểu người đưa tin tự do mà những mối quan hệ và bộ sưu tập danh thiếp là những công cụ làm việc hàng đầu. Farel tự coi mình có vai trò của cảnh sát chẳng kém gì vai trò của phóng viên, và cũng giống như các cảnh sát, anh ta dành niềm say mê khá lớn cho nghề này, để có thể dành tặng cả cuộc đời mình cho nó. Cũng giống như các cảnh sát, anh ta có những nguồn tin, cả miễn phí lẫn mất phí, nền tảng tối thiểu của mọi phóng viên phụ trách chuyên mục tư pháp. Cũng giống như các cảnh sát, anh ta điều tra. Anh ta tôn thờ cái nghề này đến mức tự cho phép mình vì nó mà chuốc lấy rắc rối, đòi xem xét lại nó, buộc nó phải trở nên tốt hơn. Anh ta ăn với họ, đôi khi còn uống say với họ, bởi vì nghề nghiệp buộc phải thế, nhưng chủ yếu là bởi vì anh ta không thể hình dung mình lại có thể có một cuộc sống khác. Ở lằn ranh giữa cái tốt và cái xấu, thậm chí là rất xấu, những “gã đẹp trai”, những tội phạm tầm cỡ mà chính anh ta cũng phải say mê. Giống như các cảnh sát. Điều đó không biến anh ta thành một nhà vô địch. Có đến cả trăm phóng viên giống như anh ta ở vùng Île-de-France này, biết rõ cả chó sói lẫn thợ săn, mỗi người lại có một phương pháp làm việc riêng nhưng đều có một điểm chung duy nhất, đó là các mối liên hệ. Không có các mối liên hệ này, ngòi bút xuất sắc nhất cũng chỉ có thể viết văn mà thôi. Không có họ, không có nghề phóng viên điều tra, và nếu ta phải đánh giá phẩm chất của Farel dựa theo tầm cỡ mạng lưới Cảnh sát–Tòa án của anh ta, thì Farel hoàn toàn xứng đáng với vị trí hiện tại, giữa các đồng nghiệp của anh ta.
Anh ta nhanh chóng hiểu ra rằng thông tin sẽ càng thêm phần chính xác khi ta tiếp cận gần với cơ sở, và nếu trong số các mối quan hệ của Farel có pha trộn tất cả các tầng lớp xã hội, thì anh ta vẫn phải thừa nhận rằng anh ta quen nhiều thư ký hơn là cảnh sát trưởng, nhiều [1] nhỏ bé hơn là các đội trưởng lão luyện, nhiều người soạn báo cáo hơn là người đọc báo cáo. Trong hơn hai chục năm hành nghề phóng viên, anh ta đã dệt được những mắt lưới dày đặc, tạo nên một tấm lưới để làm nơi thu nhận các thông tin và lời đồn. Tuy nhiên, trong cuốn sổ các địa chỉ liên hệ của mình, anh ta chỉ quen rất ít người thuộc thế giới đội Trọng án của SDPJ 93, và Coste không nằm trong số đó. Ngược lại, trung úy Aubin có mặt.
Kết thúc cuộc họp, Coste cho đội của anh về ngủ chốc lát, sau khi đã nói rõ rằng họ sẽ phải có mặt ngay từ 7 giờ sáng hôm sau.
Hai mươi phút sau, anh về đến nhà. Chìa khóa chỉ xoay một vòng trong khe ổ khóa. Coste có thói quen luôn xoay hai vòng chìa khi khóa cửa căn hộ, vậy là còn thiếu một vòng. Từ sau “cô ấy”, anh không bao giờ về nhà mà không cảm thấy chút e sợ nào đó, nỗi e sợ thì thầm với anh rằng đằng sau mỗi cánh cửa, có thể cả một cuộc đời đang đảo lộn. Đèn hành lang đã bật, cả đèn trong phòng khách cũng sáng. Anh cởi áo choàng vắt lên ghế xô-pha nhưng vẫn giữ súng ở thắt lưng, khẩu súng bị che lấp một nửa bởi vạt áo thun đã bắt đầu bị sờn vì báng súng cọ vào. Từ phòng bếp, một giai điệu ngân nga vang ra tận chỗ anh. Anh biết giọng hát này.
– Chào Alice.
– Chào Victor. Ít ra anh cũng nên xuất hiện như một tay cớm thực thụ, súng lăm lăm trên tay. Hoàn toàn có thể là một tên trộm chứ.
Anh giả vờ giận dữ.
– Một tên trộm mà lại có chìa khóa và khóa cửa lại sau lưng sao? Với lại, chú với cháu đưa chìa khóa phụ cho nhau chỉ để phòng hờ, nếu một trong hai người cần đến nó, chứ không phải để chú thấy cháu ở nhà chú bất cứ lúc nào, bất cứ giờ nào. Cháu đang làm gì thế?
Thoạt nhìn, trông cô như đang nấu nướng, nhưng sau khi xem xét bên trong nồi, anh ngạc nhiên khi thấy rằng tất cả mớ lộn xộn cô gây ra trong bếp của anh chỉ để nấu một thứ có vẻ là bột nhão xốt cà chua.
Mười chín tuổi, đi chân trần trong bếp, quần sooc jean quá ngắn để có thể mặc ra ngoài một cách đoan trang, và một chiếc áo chui đầu màu đen, mỏng và rão đến mức để lộ cả một bên vai: Alice là hàng xóm của anh từ gần một năm nay, và đã bắt đầu có những thói quen xấu.
– Thế nhỡ có ai về cùng chú thì sao?
– Anh ấy à? Anh là một kẻ đơn độc, Victor ạ, anh chẳng cho ai vào nhà cả. Với lại, giữa chúng ta với nhau, anh thử nói xem anh có thể đưa ai về nhà đây? Anh đã quan sát nhà anh chưa? Không một phụ nữ nào có thể ở lại đây quá mười lăm phút.
Cô đưa mắt nhìn bao quát căn phòng.
– Chẳng có đồ đạc gì, trông cứ như thể anh vừa dọn đến hôm qua vậy. Không đâu, em chẳng sợ gì hết, không có chỗ cho bất kỳ ai trong cái hang này.
– Chẳng phải cháu đang ở đây đó sao?
Vài tháng trước, khi đứng ở ngưỡng cửa và không suy nghĩ kỹ càng, anh đã miễn cưỡng hứa với cha mẹ Alice là sẽ để ý đến cô bé. Vì việc học tập, cô đã thuyết phục được họ để cô sống một mình ở thủ đô, tuy nhiên lại không thể tự trả tiền thuê thứ gì khác ngoài căn hộ một phòng ở khu ngoại ô này. Và thế là Coste có hàng xóm sát vách là một cô nhóc ưa xâm lược. Alice theo các khóa học ở trường Florent, cô muốn trở thành diễn viên, và anh ngờ rằng cô có đủ sức quyến rũ cùng khả năng thu hút để đạt được ước mơ đó.
– Cho dù cháu đang thử nghiệm cái gì trong cái nồi ấy, thì cũng có thể quên chú đi, chú vừa ăn tối rồi.
– Với một phụ nữ sao?
– Đúng thế.
– Có xinh không?
– Bất hạnh.
Cô nhắc lại câu hỏi.
– Có xinh không?
– Rất.
Không hổ danh là một diễn viên giỏi, Alice bĩu môi đầy vẻ ngây thơ rồi tắt bếp từ. Cô đã nấu xong món ăn tồi tệ cho tối nay. Coste nằm dài trên xô-pha rồi bật ti-vi, kênh tin tức, âm lượng ở mức không. Những hình ảnh giật cục về Viện pháp y, khu nhà xưởng cải dụng ở Pantin và những biệt thự ở Pré-Saint-Gervais. Bắt đầu rồi. Chào mừng đến với cơn hoang tưởng tập thể cùng những phiền nhiễu. Anh nhắm mắt và tập trung vào hơi thở. Anh cảm thấy thân hình Alice áp sát vào anh.
– Cháu làm gì thế?
– Em tìm sự an toàn. Anh đã hứa là sẽ bảo vệ em, không phải sao?
– Không bao giờ. Chú chỉ nói là thỉnh thoảng sẽ để mắt đến cháu thôi.
Alice nâng một cánh tay anh lên, lách người vào bên dưới rồi lại đặt cánh tay anh lên trên người cô, biến mình thành một tù nhân tự nguyện. Anh dịch người sang một bên, rút khẩu súng đang khiến lưng anh đau nhói ra, tháo băng đạn khiến cái vỏ đạn còn sót lại kêu lên leng keng, rồi đặt tất cả lên bàn.
Anh không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua khi anh mở mắt ra lần nữa. Dù sao cũng đủ lâu để người dẫn chương trình biến mất khỏi ti-vi, hẳn là anh ta đã trở về nhà để nhường chỗ cho một phóng sự về ngành cảnh sát. Dù sao, ti-vi cũng chẳng cung cấp thêm điều gì khác. Phim bộ rồi phim lẻ về cảnh sát, phóng sự về cảnh sát. Anh chưa bao giờ hiểu nổi tại sao mọi người lại ghét cảnh sát thực thụ trong khi hâm mộ cảnh sát hư cấu đến thế.
Alice hít thở nhẹ nhàng, và cô cảm thấy hơi thở của cô phả vào rồi tắt lịm nơi cổ anh. Anh trở dậy mà không gây tiếng động, rồi lấy chìa khóa của cô gái trẻ để mở cửa căn hộ một phòng. Anh mở hé cửa phòng ngủ của cô. Quay trở về căn hộ của mình, anh bế cô lên rồi đi qua hành lang ngăn giữa hai căn hộ để đặt cô vào tận trong giường. Và kéo chăn đắp cho cô.
– Chú biết là cháu không ngủ mà.
– Vâng, nhưng em thích được anh bế như một cô công chúa… cô gái nào cũng muốn có một hoàng tử bạch mã. Em sẽ khiến đám bạn cùng lớp kịch tha hồ mà ao ước. Em nói với bọn nó rằng ban ngày, anh săn đuổi lũ sát nhân…
Cô quay nghiêng đầu để nhìn sâu vào mắt anh, rồi nói nhỏ hơn.
–… và rằng ban đêm, anh thuộc về em, Coste ạ.
– Cháu nhầm người rồi.
– Anh hôn em chứ?
– Không bao giờ, Alice ạ, không bao giờ.
Anh đóng cửa lại sau lưng rồi quay về pha cho mình một cốc cà phê. 23h50, buổi đêm của anh còn chưa kết thúc. Trong bếp, anh mỉm cười khi nhìn thấy gói đường mới tinh. Trên tờ giấy nhắn mệt mỏi vì nài nỉ anh mua đường suốt nhiều tuần nay, cô đã viết “mua rồi” và còn thêm mấy chữ “chăm sóc cô hàng xóm xinh đẹp của anh thêm chút nữa”.
Cầm phía trên chiếc cốc màu xanh da trời để khỏi bỏng tay, anh quay lại ngồi vào ghế xô-pha rồi lấy một chiếc phong bì ra khỏi túi. Anh vừa nhận được nó sáng nay, trên đó có ghi họ và tên của anh bằng chữ viết tay. Bên trong, một tờ giấy gập làm đôi viết rõ:
Mã số 93.
Chết ngạt – ngày 23 tháng Sáu năm 2011.
Khu trại người Roms ở La Courneuve.
Anh bỏ chùm chìa khóa xe vào túi, rồi, khi mở bức thư lần thứ hai, anh đã ở trong phòng hồ sơ lưu trữ của SDPJ, hoàn toàn vắng lặng vào giờ này. Ngay cả phòng trực ban đêm cũng chẳng có ai. Coste suy ra rằng hẳn họ đã bị gọi đi vì một vụ nào đó. Anh sẽ được yên tĩnh trong một khoảng thời gian.
Anh dễ dàng tìm ra tập hồ sơ nhờ có ngày tháng cụ thể. Lần này, nạn nhân có một cái tên, Violetta Djuric. Một lần nữa, thông tin lại hoàn toàn chính xác. Được tìm thấy đã chết ở khu trại của người Roms ở La Courneuve ngày 23 tháng Sáu năm 2011 với một chiếc khăn nhét sâu trong cổ họng. Kẻ sát nhân chỉ việc bóp mũi cô gái, chẳng khác gì người ta trêu đùa một đứa trẻ con. Hẳn là cô gái đã chết sau chưa đầy hai phút, nhưng trong một số trường hợp, hai phút chính là một trăm hai mươi giây dài đằng đẳng.
Thêm một lần nữa, anh thấy hồ sơ vụ án có vẻ khá ngắn ngủi, có lẽ là quá ngắn ngủi cho một vụ giết người. Vụ án đã được giao cho đội Trọng án số 2 của đại úy Lara Jevric nhưng trợ lý cũ của anh, Mathias Aubin, đã nhanh chóng giành lại quyền điều hành sau khi hệ thống phần mềm SALVAC tìm ra những vụ án tương tự. Biên bản nêu ra một loạt những vụ sát hại gái điếm trong cộng đồng người di cư mà phần mềm phân tích tội phạm kết nối với Violetta Djuric quá cố. Trên giấy tờ, hồ sơ vụ án đã được chuyển giao cho đội Cảnh sát trấn áp mại dâm Paris, nơi chịu trách nhiệm về những vụ điều tra tương tự.
Coste đóng tập hồ sơ lại, trong lòng cảm thấy nặng nề khi thấy rằng những gì anh e sợ từ khi nhận được bức thư nặc danh thứ hai này đang trở thành hiện thực. Chỉ cần cao giọng liệt kê các sự việc là đủ để hiểu rằng toàn bộ chuyện này có sự trùng khớp quá mức.
Cũng trong tuần đó, Coste phải xử lý hai vụ giết người lạ lùng, được dàn cảnh, lộ liễu và khiến truyền thông hết sức quan tâm. Một người bị thiến còn người kia bị thiêu sống, hoặc nói cách khác là một xác sống và một người tự bốc cháy. Song song với hai vụ đó, anh bị lôi kéo vào hai vụ sát hại khác, một cô gái bị cưỡng hiếp rồi nhồi ma túy cho đến chết trong một khu đất nhảy dù, và một gái điếm hành nghề trong một khu trại của người Roms. Hai người vô hình, không gia đình cũng không bạn bè thân thích, và việc điều tra được giao vào tay Mathias Aubin để rồi nhanh chóng được chuyển cho bộ phận khác nhờ những điểm tương đồng mà SALVAC tìm thấy. Cũng chính chương trình SALVAC này sắp được bàn giao cho một khuôn mặt u ám của ngành Cảnh sát tư pháp, Lucien Malbert.
Trong bầu không khí tĩnh mịch của phòng hồ sơ lưu trữ, Coste lẩm bẩm…
– Mathias, Mathias, cậu dây dưa vào thứ gì thế này…
Rồi anh tự nhủ là anh chưa bao giờ đến thăm Annecy.
[1] Cảnh sát tư pháp (chú thích của tác giả).