Phía Sau Tội Ác

Phía Sau Tội Ác

Lượt đọc: 393 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Một

❊ ❊ ❊

Sự thật thường ít khi rõ ràng và không bao giờ đơn giản.

Oscar Wilde

✦ ✦ ✦

Ở nhà tù này, cửa sắt thường dày tới hàng insơ(Đơn vị đo chiều dài Anh, bằng 2,54 cm - ND).

Khi mới ra lò ở nhà máy, chúng càng nhẵn nhụi bao nhiêu thì bây giờ càng mang trên mình nhiều những vết lõm ngang dọc bấy nhiêu. Dấu vết va đập của mặt người, của đầu gối, cùi tay, răng cùng những vệt máu khô in hằn khắp trên những bề mặt màu xám. Chúng giống như một hệ thống chữ tượng hình riêng của nhà tù, thể hiện nỗi đau đớn, sự sợ hãi và cái chết, tồn tại vĩnh cửu nơi đây, ít nhất cho tới khi những tấm sắt mới được mang tới thay thế. Mỗi cánh cửa đều có một ô vuông mở ra ngang tầm mắt. Trong những ca trực của mình, lính canh tù thường ghé mắt qua cái khoảng trống bé xíu đó rồi rọi đèn sáng chói vào những con vật hình người bên trong. Chẳng hề báo trước, những thanh dùi cui bất cứ lúc nào cũng có thể thình lình nện mạnh, kèm theo không bao giờ thiếu tiếng lách cách của súng lục. Giỏi chịu đựng là những tù nhân già đời, những kẻ dù có chú ý lắng nghe nhưng vẫn tiếp tục giả tảng nhìn xuống nền nhà, trông như đang trầm tư suy ngẫm chẳng về bất cứ điều gì bằng một thái độ bất chấp đầy tế nhị. Lũ "lính mới" vẫn luôncăng thẳng mỗi khi tiếng động hoặc ánh sáng đột ngột ập tới, một số kẻ còn són nước tiểu xuống chiếc quần cotton và đứng đó nhìn dòng nước chầm chậm thấm tới đôi giày bè bè màu đen bên dưới. Nhưng rồi tất cả đều sẽ qua, tất cả đều phải dần quen với tiếng sập mạnh của những ô cửa đáng nguyền rủa, tất cả đều học được cách kìm nén những giọt nước mắt trẻ con cùng những cơn đau quặn ở bụng. Nếu như còn muốn sống sót.

Khi đêm xuống, bóng tối bao trùm khắp các xà lim, không quên tạo nên những hình thù kỳ quặc nhảy nhót trên các bức tường. Đêm nay đang có một cơn bão với sấm sét kèm theo mưa lớn trong vùng. Qua những ô cửa sổnhỏ làm bằng kính plêxi, mỗi tia chớp chói sáng nhào xuống từ bầu trời lại rạch vỡ màn đêm trong xà lim thành muôn vàn mảnh sáng. Đi cùng với mỗi tiếng sấm, trên những bức tường đối diện lại loé lên hình ảnh phản chiếu của mạng dây kim loại nhằng nhịt hình tổ ong giăng kín phía ngoài tất cả các ô cửa sổ.

Trong cái ánh sáng chập chờn ấy, khuôn mặt một người đàn ông nổi lên trên nền tối như một mũi thuyền đột ngột rẽ đôi bề mặt nước. Không giống tù nhân trong các xà lim khác, anh luôn ngồi một mình, suy ngẫm một mình và không nhìn đến một ai. Các tù nhân khác khiếp sợ anh. Cả lính gác ngục cũng vậy, cho dù họ được trang bị vũ khí tận răng, vì anh là một con người có vẻ ngoài đầy hăm doạ. Khi anh đi qua những tù nhân hung đữ và chai cứng lì lợm nhất, tất cả đều phải nhanh chóng cụp mắt nhìn đi nơi khác.

Tên anh là Rufus Harms, nổi danh ở nhà tù quân đội Fort Jackson này như một kẻ huỷ diệt, sẵn sàng nghiền nát bất cứ kẻ nào tấn công mình. Harms không bao giờtấn công trước, nhưng luôn luôn là người kết thúc. Hai mươi lăm năm giam cầm trong tù để lại nhiều dấu ấn trên cơ thể anh. Giống như những vòng tuổi trên thân cây, những vết cào rách trên da, những chỗ gãy xương còn chưa lành hẳn như một cuốn niên giám minh chứng cho thời gian bị cầm tù của Harms nơi đây. Nhưng những tổn thương tồi tệ hơn thế lại chính là những ký ức, suy nghĩ, tình yêu, lòng hận thù, nỗi sợ hãi nằm sâu trong tâm trí. Tất cả đều nhơ nhuốc và thù địch với anh. Mạnh hơn tất cả, ký ức chính là khối u nhọt đau đớn nhất ngày đêm thúc vào từng thớ thịt trong Harms.

Mặc dù vậy, đôi cánh tay dài đầy sẹo cùng đôi vai đồ sộ trong cái thân hình to lớn của Harms vẫn chứng tỏ sự tồn tại thực sự của một sức mạnh vững chắc. Ngay chỗ thắt lưng to lớn cũng đã đủ hứa hẹn một năng lượng khác thường trong anh. Harms vẫn như một cây sồi đứng nghiêng một phía, vươn lên mạnh mẽ với những rễ cây mọc chồi lên khỏi mặt đất, bất chấp nhiều cành lá bên trên đã hoặc đang chết. Con người anh là tổng hợp của những đặc tính trái nghịch nhau: một người đàn ông lịch thiệp, biết tôn trọng người khác, biết trung thành với Chúa và một kẻ giết người nhẫn tâm. Cũng vì thế mà lính gác ngục cùng đám tù nhân không dám dính vào Harms và anh vẫn từng bằng lòng với điều đó. Cho tới ngày hôm nay ! Anh trai anh đã mang tới một điều gì đó cho anh. Một gói vàng, một làn sóng hy vọng. Một con đường thoát khỏi nơi này.

Một luồng ánh sáng loé lên làm lộ ra cặp mắt đỏ ngầu như đang chảy máu nhưng cũng không che giấu nổi những giọt nước mắt đang chảy dài trên khuôn mặt nặng trĩu và u ám của anh. Harms vuốt phẳng mảnh giấy khibóng tối bao trùm trở lại, cố gắng không gây ra tiếng động nào vì những tiếng sột soạt sẽ chẳng khác gì lời mời chào lính gác ngục tới dò la tìm kiếm. Trời đã tối được vài giờ. Harms không thể đảo ngược được điều đó nhưng anh cũng đã kịp vừa đọc hết bức thư vừa nuốt lấy từng âm tiết. Mỗi từ ngữ như một cơn ớn lạnh cắt vào da thịt khiến anh phải rùng mình. Huy hiệu của Quân đội Hoa Kỳ in đậm nét ngay góc trên của tờ giấy. Harms quá quen với biểu tượng này vì đó là người chủ, người cai quản trại tù đối với anh đã gần ba mươi năm nay.

Quân đội Hoa Kỳ đề nghị Rufus Harms, một binh nhì bại trận và bị quên lãng, cung cấp thông tin về thời kỳ ở Việt Nam. Thông tin chi tiết. Những thông tin Harms chẳng có cách nào cung cấp được. Không cần ánh sáng, ngón tay anh vẫn định vị chính xác và khẽ chạm vào phần của lá thư đã lập tức gợi lại những mẩu ký ức trôi nổi trong Harms suốt những năm ấy. Chúng chính là nguyên nhân gây nên những cơn ác mộng không bao giờ dứt trong anh. Ngay lần đầu tiên đọc lá thư, Harms đã phải cúi thật sát xuống, như thể cố gắng tìm kiếm những ẩn ý nằm sau những dòng chữ đánh máy, như thể cố gắng tìm cách giải quyết nỗi thống khổ lớn nhất trong cuộc sống đạo đức của mình. Đêm nay, đột nhiên hai đoạn ký ức bỗng hợp nhất lại với nhau, bện xoắn với nhau, kết nốivới nhau để lộ ra sự thật. Sau cùng thì cũng đã đến lúc.

Cho tới trước khi Harms đọc được lá thư của Quân đội Hoa Kỳ này, anh chỉ nhớ có hai điều tách biệt về cái đêm cách đây đã hai mươi lăm năm: bé gái và mưa. Trận bão ấy cũng quyết liệt chẳng khác gì trận bão đêm nay. Đó là một bé gái mảnh dẻ, mũi thanh thoát, làn da còn chưa hề gợn chút nếp nhăn nào của nắng gió, tuổi tác hoặc lo âu.

Đôi mắt mở to của cô bé xanh biếc và vô tội, chứa đựng trong chiều sâu của chúng là tất cả những hoài bão về một cuộc sống còn đang rất dài phía trước. Làn da trắng không một tì vết, ngoại trừ những vết lằn màu đỏ in hằn trên chiếc cổ mảnh khảnh như cuống một bông hoa. Những vết lằn do bàn tay của binh nhì Rufus Harms gây nên, chính là bàn tay lúc này đang nắm chặt lá thư trong lúc tâm trí anh một lần nữa choáng váng hình dung tới những hình ảnh ấy.

Hễ khi nào nghĩ tới cô bé, Harms đều không thể cầm được nước mắt. Nhưng anh chỉ khóc trong im lặng, vì lý do an toàn. Lính gác ngục và tù nhân, giống những con chim diều mốc và cá mập, tất cả đều đánh hơi được mùi của máu, mùi của sự yếu đuối và từ xa hàng triệu dặm vẫn có thể phát hiện được những lỗ hổng, những khe hở hớ hênh. Bọn họ nhận biết những điều này qua sự co giật ở khoé mắt, qua sự nở rộng của lỗ chân lông trên da, thậm chí qua cả mùi khó chịu của mồ hôi. Trong nhà tù này, tất cả các giác quan đều trở nên thính nhạy. Ở đây phải sống thật mạnh bạo, gấp gáp, không khoan nhượng, lanh lẹ và ganh đua. Không thì chết.

Khi quân cảnh tới thì anh đang quỳ bên cạnh cô bé. Chiếc váy mỏng bó sát vào thân hình nhỏ xíu lúc đó đang nằm lún trong lớp đất sũng nước, như thể cô bé vừa bị ném từ rất cao xuống tạo thành một trong những nấm mồ nông nhất. Harms có ngẩng lên nhìn quân cảnh một lần, nhưng anh không nhận biết được điều gì khác hơn ngoài mớ hỗn loạn của những hình bóng mập mờ tối sẫm. Chưa bao giờ trong đời, Harms lại cảm thấy một nỗi giận mãnh liệt đến thế. Sự ghê tởm dâng lên trong anh, mắt anh nhìn mờ ảo, mạch đập, nhịp thở và huyết áp - tất cả đềuxuống tới mức thấp nhất. Harms ôm chặt lấy đầu như muốn giữ cho bộ óc đang muốn nổ tung khỏi chẻ vỡ đầu rồi bật ra ngoài không khí ướt nước.

Khi anh một lần nữa nhìn xuống cô bé đã chết, rồi sau đó tới đôi tay đang co rúm đã cướp đi cuộc sống của cô, cơn giận giữ liền tan biến như thể có một ai đó đột nhiên giật tung cái ổ cắm nối liền anh với nó. Cơ thể anh trở nên tê liệt. Harms không còn làm được gì khác ngoài việc cứ quỳ gối ở đó, ướt nhoét và run rẩy với hai đầu gối lún sâu trong lớp bùn nhão. Bất kỳ một nhân chứng nào, dù sửng sốt đến đâu cũng có thể mô tả Harms giống như một thủ lĩnh da đen trong bộ quần áo chiến trận màu xanh đang quỳ cạnh vật hiến tế bé nhỏ có làn da tái nhợt của mình.

Phải đến hôm sau, Harms mới biết cô bé tên là Ruth Ann Mosley, mười tuổi, cùng gia đình từ Columbia, Nam Carolina tới thăm người anh trai đang đóng quân trong doanh trại. Còn trong đêm mưa ấy, anh mới chỉ biết Ruth Ann Mosley như một xác chết, bé bỏng, nhỏ xíu và đối lập hoàn toàn với khổ người cao tới sáu fút năm insơ và nặng tới ba trăm pao của anh. Cũng từ cái đêm hôm ấy, hình dáng lờ mờ của báng súng trường một trong các quân cảnh đánh mạnh vào đầu anh chính là vật kim loại cuối cùng Harms được chạm tới. Một cú đấm khiến anh ngã sõng xoài xuống đất ngay bên cạnh cô bé. Khuôn mặt không còn chút sinh khí và bất động của cô bé hướng lên trên và hứng từng giọt nhỏ nước mưa rơi xuống. Mặt Harms ngập sâu trong bùn, anh không còn trông thấy gì nữa. Không còn nhớ thêm được điều gì nữa.

Cho tới đêm nay. Harms hít căng phổi lớp không khí tràn đầy hơi nước và nhìn ra ngoài cửa sổ. Bỗng chốc anh trở thành một sinh vật quý hiếm nơi đây: một người vô tội trong tù.

Suốt nhiều năm qua anh đã tự nhận thức được rằng điều tội lỗi đó vẫn luôn là một ung nhọt ngấm ngầm tồn tại trong anh. Thậm chí anh đã từng nghĩ tới tự tử, coi đó như một cách tự trừng phạt mình vì đã cướp đi cuộc sống của người khác mà, đáng buồn hơn nữa lại là của một đứa trẻ. Nhưng Harms là một người sùng đạo và vì thế, anh không thể phạm vào tội ác tự kết thúc cuộc đời của mình quá sớm. Anh cũng biết rằng việc giết hại cô bé đồng nghĩa với việc anh sẽ phải sống một kiếp sau hàng ngàn lần tồi tệ hơn cuộc sống anh đang phải chịu đựng lúc này. Anh không hề muốn tự dấn thân vào vòng hút của nó. Nơi này, nhà tù của con người vẫn tốt hơn.

Và giờ đây anh hiểu ra rằng cái quyết định tiếp tục sống ấy là hoàn toàn đúng. Chúa biết điều đó và Chúa đã giúp anh chờ đợi được tới giây phút này. Đầu óc vô cùng sáng láng, Harms nhớ lại những người đàn ông đã tới chỗ anh trong trại giam đó. Tâm trí anh một lần nữa hình dung lại từng khuôn mặt méo mó, những bộ quân phục có kẻ sọc vài người trong số họ khi đó đang mặc, những người từng là đồng đội sát cánh với anh. Anh nhớ lại họ đã vây vòng tròn quanh anh như những con sói vây lấy con mồi ra sao. Rồi những lời nói đầy căm thù của họ. Những gì đêm đó họ làm chính là nguyên nhân khiến Ruth Ann Mosley phải chết. Và thực tế thì cả Harms cũng đã chết.

Đối với họ, Harms chỉ là một anh lính thực hiện nghĩa vụ quân sự mà chưa bao giờ thực sự chiến đấu bảo vệ Tổquốc. Họ không mảy may tin tưởng bất cứ thứ gì anh làm được, bất cứ thứ gì anh xứng đáng. Bây giờ anh đã là người đàn ông ở độ tuổi trung niên và đang chết dần chết mòn trong nhà tù để trả giá cho một tội ác xảy ra đã từ lâu lắm. Anh không hề có cách nào để biết xem liệu công lý có từng được thực hiện vì anh hay không. Nhưng dù vậy, khi Rufus Harms nhìn sâu vào cái bóng tối quen thuộc trong hầm mộ này của mình, một cảm xúc giản dị vẫn dâng lên xâm chiếm lòng anh: sau hai mươi lăm năm bị giày vò không ngơi nghỉ bởi cảm giác tội lỗi đáng ghê tởm bị xuyên tạc ấy, giờ đây anh biết rằng đã đến lượt họ phải chịu đựng cuộc sống bị đày đọa này. Harms nắm chặt cuốn Kinh thánh sờn cũ do mẹ anh tặng và hứa điều đó với Chúa, người đã không bỏ rơi đứa con của mình.

Nguyên tác: Sunple Truth, NXB Wamer Books, New York, 1999, NGUYỄN LAN HƯƠNG dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 9 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.